You are on page 1of 113

CN III MÙA VỌNG B

Mc. 1, 1 - 8
14-12-2008
Ông Gioan, người làm chứng ....Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 02
CN III mùa vọng............................Lm. Ignatio Hồ Thông 10
Vui mừng ví Chúa sắp đến..........Lm Carolô Hồ Bặc Xái 20
Chúa đến mang lại niềm vui ......Lm Giuse Đinh Lập Liễm 30
Ông có phải là đấng Cứu Thế.....Lm Mark Link, SJ 39
CN III Mùa Vọng B........................Lm Augustine, SJ 43
Chứng nhân cho Đức Kitô..........Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 49
Niềm vui trong Chúa....................Lm Anphong Trần Đức Phương 53
Có một người ở giữa anh em.....Lm. An Phong, OP 56
Tin mừng giải phóng ..................Lm Giuse Đỗ Vân Lực, OP 58
Đơn giản là như thế.....................Lm Giuse Nguyễn Cao Luật, OP 62
Chứng nhân,Gioan Tẩy giả........Lm Giacob Phạm Văn Phượng, OP 67
CN III Mùa Vọng B.......................Gp Vĩnh Long 71
Làm chứng trong niềm vui........Gp Vĩnh Long 74
Niềm vui đích thực...... ..............Gp Vĩnh Long 75
Làm chứng. ................................Gp Vĩnh Long 79
Làm chứng cho sự thật .............Gp Vĩnh Long 83
Chúa nhật hồng...........................Gp Vĩnh Long 85
Khiêm nhường............................Gp Vĩnh Long 88
Người làm chứng......................Manna 90
Niềm vui......... ...........................Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 93
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC ...........................................................................102
Ngôi lời nhập thể và ơn cứu ...Lm. PX Vũ Phan Long, ofm ............102
Ông già Noel là ai......................LTC.....................................................105
Giáo lý về Thánh Phaolo ĐGH. Benedicto XVI............................ 110

1
ÔNG GIOAN, NGƯỜI LÀM CHỨNG
Gioan 1,6-8.19-28

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

I. NGỮ CẢNH
Tin Mừng IV có một Mở đầu trong đó có Lời Tựa là một bài
suy niệm cao sâu về mầu nhiệm Ngôi Lời (1,1-18), và Các
chứng từ về Đức Giêsu, do Gioan Tẩy Giả, Anrê và
Natanaen nêu ra (1,19-51). Bản văn được đọc trong Phụng
vụ hôm nay gồm một đoạn nhỏ trích từ Lời Tựa (1,6-8) và
đoạn đầu trích từ Các chứng từ (1,19-28).

II. BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành hai phần:
1) Gioan là người làm chứng (1,6-8);
2) Gioan làm chứng (1,19-28):
a) Làm chứng cho phái đoàn sứ giả (1,19-23),
b) Làm chứng cho người Pharisêu (1,24-28).

III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI


- lời chứng (19): Điểm đáng lưu ý nhất, đó là tác giả đã
chọn ra từ trong ngôn ngữ thuộc ngành tư pháp từ ngữ “lời
chứng/làm chứng” (martyria: 14 lần trong Ga; 4 lần trong
TMNL: Mc 14,55.56.59 và Lc 22,71; cả 4 lần này đều thuộc
về cuộc xử án Đức Giêsu), và đã dùng từ đó mà mở ra hoạt
cảnh này, cùng với động từ tương ứng là “làm chứng”
(martyreô: 33 lần trong Ga; 2 lần trong TMNL). Cũng ghi
nhận rằng các từ ngữ martyria và martyrein xuất hiện trong
đa số các chương của TM IV ngoại trừ các ch. 6, 9, 11, 14,
16, 17 và 20; tuy thế, các chương này cũng nói đến “làm
chứng”. Các TMNL ưa dùng các từ như “công bố” (kêryssô)
hoặc “loan báo Tin Mừng” (euangelizomai). Rất có thể tác
giả TM IV đã dùng ngôn ngữ tư pháp do hoàn cảnh trong
2
đó ngài viết Tin Mừng (giữa hoặc cuối những năm 90 [?],
lúc mà quan hệ giữa người Do-thái và các Kitô hữu khá
căng thẳng: x. Ga 9,22; 12,42; 15,26–16,2).

- người Do-thái từ Giêrusalem (19): Bởi vì họ có thể cử các


tư tế và các thầy Lêvi đi, hẳn “người Do-thái từ Giêrusalem”
chính là giới lãnh đạo Do-thái giáo.

- ông tuyên bố thẳng thắn (20): dịch sát là “ông không chối”.

- vị ngôn sứ (21): Đây chính là dung mạo ngôn sứ được


hứa trong Đnl 18,18.

- cởi quai dép (27): Đây là công việc của một nô lệ.

IV. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN


* Gioan là người làm chứng (6-8)
“Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan” (Ga
1,6). TM IV đã giới thiệu Gioan bằng một câu như thế ngay
giữa Lời Tựa. Đối diện với Ngôi Lời, ngôi vị Thiên Chúa
toàn năng luôn luôn “có” từ muôn thuở đến muôn đời muôn
kiếp (1,1-5), đây là Gioan, một con người tầm thường xuất
hiện, đi từ hư vô ra cuộc sống. Sau khi đã nêu bật sự cao
vời vô biên của Đức Kitô, tác giả mau mắn xác định sự cao
cả của Gioan: ông được Thiên Chúa sai phái và có sứ
mạng làm chứng cho ánh sáng: “Ông đến để làm chứng, và
làm chứng về ánh sáng” (1,7).

Sau Lời Tựa, tác giả bắt đầu bài tường thuật cách trang
trọng, và cũng bằng một câu nói về Gioan: “Và đây là lời
chứng của ông Gioan” (1,19). Chúng ta sẽ suy ngẫm về tư
cách và công việc làm chứng của Gioan.

3
* Gioan làm chứng (19-28)
— Ga 1,19-23
Vừa nghe câu mở này, chúng ta có cảm tưởng là mình
được gợi ý nhìn vào một cảnh trong phòng xử án. Ấn tượng
này dường như có cơ sở. Ngay tức khắc, tác giả giới thiệu
Gioan như người đang bị thẩm vấn. Bản văn nói, “người
Do-thái”, hẳn đây là giới lãnh đạo Do-thái giáo, đã gửi một
phái đoàn đến đặt các câu hỏi cho ông Gioan. Phái đoàn đó
gồm có các tư tế và mấy thầy Lêvi, tức đây là giới chức
trách có nhiệm vụ chăm sóc Đền thờ Giêrusalem. Câu hỏi
thứ nhất họ đặt ra có vẻ nhẹ nhàng, không có gì thâm độc:
“Ông là ai?”, câu hỏi bật ra như một lời hỏi về lý lịch. Tuy
nhiên, câu trả lời của Gioan thì lại có gì đó trầm trọng. Thay
vì khai ra lý lịch, ông lại trả lời trang trọng, hầu như là nói
lên một lời thề, rằng ông không phải là người nào đó. Ông
tuyên xưng rằng ông không phải là Đấng Kitô.

Thế là phái đoàn chính thức thúc ép ông tiếp, để có thể trả
lời hết các câu hỏi nhằm điều tra lý lịch của ông. Các câu
hỏi tuôn ra thật nhanh. “Ông có phải là ông Êlia không?”
“Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?”. Với cả hai câu hỏi này,
vị chứng nhân vẫn cứ trả lời không. Đến đây dường như đã
cảm thấy bực bội khó chịu, phái đoàn hỏi: “Thế ông là ai?”.
Tuy bị thúc bách như thế, nhưng với giọng hẳn là nhẹ
nhàng và vẫn trang trọng mà nghe ra thì có vẻ khôi hài
nữa, vị chứng nhân đáp bằng những lời lẽ trích từ sách
Isaia: “Tôi là tiếng người hô [= tiếng nói của người hô] trong
hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi” (x.
Is 40,3).

Trong các cuộc xử án, việc xác minh lý lịch của người
chứng chỉ là một chuyện thủ tục được thực hiện nhanh
chóng, nhưng ở đây, lại không phải là như thế với vị chứng

4
nhân tên là Gioan. Ông cứ toàn lo trả lời là ông không phải
là ai thôi – như một kiểu xác minh lý lịch tiêu cực – chứ
không nói ông là ai. Cuối cùng khi ông xác minh về ông,
bản lý lịch tự khai của ông lại cho biết ông là “tiếng người
hô” (tiếng nói, phônê).

Hình ảnh vị chứng nhân cứ tránh né nêu lý lịch góp phần


làm cho tấn bi kịch được triển khai. Óc tò mò của chúng ta
bị kích thích. Các câu hỏi phát sinh: Đấng Kitô là ai mà
Gioan nói ông không phải là Người. Và nếu Gioan chỉ là
một tiếng nói, thì ông phải nói gì?

Hoạt cảnh cuộc thẩm vấn vừa rồi không có trong các
TMNL. Tuy nhiên, những suy diễn về Đấng Mêsia thì đã
quá quen thuộc tại Paléttina vào tk i. Lúc đó người ta đang
chờ đợi một số gương mặt trở lại. Trong Lc, ta thấy dân
chúng rất tín nhiệm Gioan (x. Lc 3,15); rồi có chuyện vua
Hêrôđê băn khoăn về cái chết của Gioan (Lc 9,7-9). Những
tin đồn và suy đoán như thế là bối cảnh cho câu hỏi Đức
Giêsu đặt ra cho các môn đệ Gioan khi họ đến gặp Đức
Giêsu theo ý ông (x. Mt 11,2-6; Lc 7,18-23) cũng như cho
các câu trả lời các môn đệ đã nêu ra khi Đức Giêsu hỏi
người ta bảo Người là ai (Mt 16,13-16; Mc 8,27-29; Lc
9,18-20). Dù sao, Đấng Kitô sẽ là vị vua lý tưởng như
Đavít; Người sẽ khôi phục quyền tự chủ trên đất nước và
qui tụ người Do-thái đang tản mác lại. Người cũng có thể là
như ngôn sứ Êlia, mà truyền thống tin là sẽ trở lại vào Ngày
của Đức Chúa (x. Ml 3,23). Người cũng có thể là chính
Môsê trở lại. Gioan đã thề là ông không phải là bất cứ dung
mạo trứ danh nào như thế, những dung mạo đang được
mong chờ tha thiết. Ông chỉ là “tiếng nói”.

5
— Ga 1,24-28
Tuy nhiên, cuộc thẩm vấn vẫn tiếp tục. Người ta hỏi thế thì
tại sao ông lại làm phép rửa. Tác giả ghi nhận là trong
nhóm được cử đi, có những người thuộc phái Pharisêu, tức
những người Do-thái giữ thật nghiêm nhặt Luật Môsê. Như
thế, Gioan vừa mạnh mẽ từ chối đồng hóa mình với bất cứ
dung mạo cánh chung nào đang được dân chúng chờ đợi,
vừa làm chứng trước những đại biểu của toàn thể thế giới
Do-thái.

Không có một chi tiết nào trong các nguồn văn chương Do-
thái nói rằng Đấng Kitô, Êlia hoặc Môsê, hoặc vị ngôn sứ
nào sẽ làm phép rửa. Như thế câu hỏi đăït ra cho Gioan là
câu hỏi về quyền. Do quyền nào mà ông làm phép rửa?
Một lần nữa, dường như Gioan lại né tránh câu hỏi. Ông
chỉ trả lời theo cách bí ẩn. “Tiếng nói” chỉ nhìn nhận rằng
ông làm phép rửa trong nước. Nhưng rồi ông nói rằng “có
một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết. Người
sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người”
(Ga 1,26-27).

Dường như ở đây Gioan quy chiếu về một truyền thống Do-
thái nói rằng Đấng Mêsia sẽ cứ ở trong tình trạng tăm tối
cho tới khi Người được Êlia giới thiệu cho Israel. Lời ông
nói, “Tôi thì tôi không phải là Đấng Kitô” hàm ý là Đấng Kitô
đã có mặt đâu đây, nhưng đang còn ẩn mình, và tuy ẩn
mình, Người rất vĩ đại.

Tác giả TM IV không nhấn mạnh về vai trò của Gioan là


làm phép rửa cho Đức Giêsu như các TMNL (Mt 3,1-17; Mc
1,2-11; Lc 3,1-20); do đó ngài không gọi Gioan là “Tẩy Giả”
(Mt 3,1) hay “người làm phép rửa” (Mc 1,4). Nếu ngài có
nói đến phép rửa ấy chỉ là để đưa đến cuộc tra hỏi thôi. Tác

6
giả TM IV cũng không giới thiệu Gioan là như một dung
mạo ngôn sứ kêu gọi người ta mau mau hoán cải vì Nước
Thiên Chúa đã đến gần. Ngài chỉ quan tâm xác định chân
tính của Gioan là “tiếng nói” thôi; ông phải nói điều gì đó.
Thật ra cả bốn Tin Mừng đều vận dụng bản văn Is 40,3 (Mt
3,3; Mc 1,3; Lc 3,4), nhưng trong TM IV, chính Gioan lại
gán cho mình vai trò làm tiếng nói: tác giả muốn nhân vật
Gioan của mình “nói cho chính mình”. Trong khi các TMNL
trích Is 40,3 như là một lời bình về ông Gioan, câu này lại
được Ga 1,23 trích như là lời của chính Gioan.

Truyện về Gioan trong TM IV là truyện của riêng tác giả.


Ngài có cách thức riêng cũng như ngôn ngữ và văn phong
riêng mà miêu tả ông Gioan, mà chia sẻ cái nhìn của ngài
về ông. Ở đây hoạt cảnh đúng là như một cuộc xử án gồm
hai giai đoạn thẩm vấn Gioan. Ngôn ngữ của chương 1 (và
của cả TM IV) phù hợp với bầu khí của phòng xử án: ngài
viết về lời chứng (martyria, c. 19), lời tuyên xưng
(homologeô, 2 lần trong c. 20), và việc chối (arneomai, c.
20); ngài cũng viết về việc hỏi (erôtaô, cc. 19.21.25) và trả
lời (apokrinomai, cc. 21; apokrisis, c. 22) và về những
người đã được cử đi (apostellô, cc. 19.22.24). Câu truyện
được đặt trong một tác phẩm trong đó các từ ngữ rõ ràng
mang màu sắc pháp lý, như kết án (katêgoreô, 5,45; 8,6),
và thuyết phục (elegchô, 3,20; 8,46; 16,8), bảo vệ
(paraklêtos, 14,16.26; 15,26; 16,7), án xử (krisis, 3,19;
5,22.24.27.29.30; 7,24; 8,16; 12,31; 16,8.11) và xét xử
(krinô, 3,17.18 (2x); 5,22.30; 7,24 (2x).51; 8,15
(2x).16.26.50; 12,47 (2x).48 (2x); 16,11; 18,31).

+ Kết luận
Từ phân đoạn 1,6-8, ta thấy Gioan không phải là đại sứ đặc
mệnh toàn quyền; ông được Thiên Chúa sai đến với một

7
mục tiêu rõ rẹât: “làm chứng về ánh sáng” (cc. 7.8). Sứ
mạng của ông phải được nhìn trong viễn tượng vũ trụ, siêu
lịch sử, nhưng vai trò của ông là chứng nhân và chỉ là
chứng nhân mà thôi. Nhiệm vụ của ông tập trung vào việc
làm cho Ít-ra-en nhận biết Đức Giêsu. Tuy nhiên, tác giả
cũng muốn nói một điều quan trọng hơn khi tinh tế đặt đối
lập dung mạo Gioan, người được Thiên Chúa sai đến (1,6),
với các tư tế và các thầy Lêvi được người Do-thái gửi đến
từ Giêrusalem (1,19). Cuộc thẩm vấn có thật, nhưng đây
chỉ là cuộc đụng chạm giữa hai đoàn tiền quân.

V. GỢI Ý SUY NIỆM


1. Sứ mạng của Gioan là làm chứng cho Đức Giêsu. sứ
mạng này quan trọng đến nỗi trong Lời Tựa, ông được
nhắc đến hai lần: một lần như là “chứng nhân” (1,6) và lần
kia thì nhắc lại lời chứng của ông (1,15). Do đó, cứ theo TM
IV, hẳn là ông phải được gọi là “Gioan người làm chứng”.
Danh hiệu mà Họâi Thánh Đông phương gán cho ông,
“Gioan vị Tiền Hô”, mở ra hai sứ mạng của ông, làm phép
rửa và làm chứng.

2. Gioan là chứng nhân của ánh sáng (1,6-8). Điều nghịch


lý là ánh sáng lại cần đến một chứng nhân. Ánh sáng thật
đang rạng soi cho mọi người (x. 1,9), thế mà không phải là
loài người đang tự nhiên sống dưới ánh huy hoàng của ánh
sáng này. Như một kho báu được chôn giấu, trước tiên ánh
sáng này cần được khám phá; chỉ sau đó ánh sáng mới tỏa
rạng và mọi người có thể thực sự thấy được. Đặc điểm của
Đức Giêsu là thực tại chân thật của Người không chỉ thấy
được ở bề mặt, và không phải bất cứ ai cũng có thể tiếp
cận Người. Người không tỏ mình ra với cung cách áp đảo,
Người không ép buộc bất cứ ai; người ta luôn luôn có thể
tránh Người và sống không cần Người. Đức Giêsu là ánh

8
sáng đòi hỏi tự do quyết định của con người. chính vì
Người ở trong tình trạng ẩn mình, Đức Giêsu cần có những
chứng nhân. Gioan là chứng nhân đầu tiên của Người, giúp
cho người ta có thể đến với Người để nhận được ánh sáng.
Nhưng cả lời chứng của Gioan cũng không phải là một
bằng cớ bó buộc: mọi người phải tin nhờ ông (1,7). Chỉ ai
nhờ ông mà tin thì mới đến được với Đức Giêsu là ánh
sáng.

3. Gioan nói như chứng nhân và khẳng định tính khả tín
của chính ông. Ông nói thẳng ra ông không phải là ai (1,19-
21) và ông là ai (1,22-23) và ai sẽ đến sau ông (1,25-27).
Ngay trong Lời Tựa, tác giả Ga đã cho biết: “Ông không
phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về ánh
sáng” (1,8). Trước tiên ông nói ông không là ai, như để
tránh che mất Đấng ông phải làm chứng cho, nếu như ông
lo khẳng định về bản thân. Rồi khi phải nói ông là ai, thì ông
cho biết ông chỉ là tiếng của người hô trong hoang địa: hoạt
động của ông có tầm quan trọng đặc biệt vì được chính
Kinh Thánh loan báo, được Thiên Chúa quy định, nhưng
chỉ là một tiếng nói loan báo rằng Chúa đang đến và
khuyến khích người ta dọn lòng đón tiếp Người.

4. Về nhân vật cao trọng mà ông làm chứng cho, Gioan chỉ
khẳng định hai điều: Người đang ở giữa họ, nhưng họ
không nhận biết Người; Người cao trọng đến mức chính
Gioan cũng không xứng đáng phục vụ Người theo cách
thức của một nô lệ. Ẩn mình và cao trọng vẫn là hai nét tiêu
biểu của Đức Giêsu. Người là ánh sáng tỏa rạng trong tình
trạng ẩn tàng đồng thời là ánh sáng chân thật duy nhất.

5. Bất cứ Kitô hữu nào hôm nay cũng cần thấy mình là một
chứng nhân như Gioan. Họ biết mình không là gì cả khi

9
sánh với Đấng họ phải làm chứng cho. Tuy nhiên, chính
Đấng ấy lại muốn chọn họ để tỏ mình ra cho thế giới. Cao
cả mà thật ra thấp hèn, thấp hèn nhưng cũng cao cả, đã là
tư cách của Gioan, thì cũng là thân phận của mọi Kitô hữu.

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG


Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Vào Chúa Nhật III Mùa Vọng nầy, Phụng Vụ tham dự trước
niềm hân hoan của ngày lễ Giáng Sinh. Tất cả các bài đọc
đều vang lên sứ điệp nầy: “Hãy vui lên, Chúa sắp đến gần
rồi”.

Bài đọc I liên kết niềm vui với lời loan báo Tin Mừng được
gởi đến cho những người nghèo, những người bất hạnh,
những người tù đày.

Is 61: 1-11
Thánh Phao-lô khuyên các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca hãy luôn
luôn vui lên và tạ ơn Chúa vì những thiên ân mà họ lãnh
nhận được.
1Th 5: 16-24
Tin Mừng tường thuật chứng từ của Gioan Tẩy giả, thánh
nhân khẳng định rằng Đấng mà muôn dân mong đợi hiện
đang ở giữa anh em.
Ga 1: 6-8, 19-28

BÀI ĐỌC I Is 61: 1-2, 10-11


Bài đọc I của Chúa Nhật III Mùa Vọng nầy được hình thành
bởi hai đoạn trích khác nhau từ chương 61 của sách I-sai-
a. Đoạn trích thứ nhất (61: 1-2) là phần mở đầu của bài thi
ca: chính vị ngôn sứ đích thân bày tỏ. Đoạn trích thứ hai
10
(61: 10-11) là phần kết của bài thi ca. Đây là một bài thánh
thi ca ngợi, được cộng đoàn xướng hát.

1. Đoạn trích thứ nhất (61: 1-2).


Trong đoạn trích thứ nhất, chúng ta nhận ra bản văn mà
vào một ngày sa-bát, trong hội đường Na-da-rét, Đức Giê-
su đã công bố trước cộng đoàn (Lc 4: 18-20). Sau khi đã
công bố đoạn văn nầy, Ngài ngồi xuống. Ai nấy trong hội
đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với
họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa
nghe”. Như vậy Đức Giê-su áp dụng vào chính mình lời của
ngôn sứ I-sai-a: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã
xức dầu tấn phong tôi để loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo
hèn…” Đức Giê-su cũng sẽ trích đoạn văn nầy để trả lời
cho những sứ giả của Gioan Tẩy giả được phái đến để hỏi
Ngài. Vì thế, vị ngôn sứ nầy là ai mà Đức Giê-su quy chiếu
đến hai lần? Và sứ điệp của ông ngỏ lời với ai?

1.1- Tác giả.


Những sự kiện được định vị vài năm sau năm 538 trước
Công Nguyên, năm những đoàn người hồi hương đầu tiên
trở về Giê-ru-sa-lem từ cuộc lưu đày ở Ba-by-lon.

Tác giả của bản văn nầy là một vị ngôn sứ vô danh sống ở
giữa những người hồi hương ở Giê-ru-sa-lem. Ông thường
được các nhà chuyên môn gọi I-sai-a đệ tam, hay I-sai-a
của thời hậu lưu đày (Is 56-66) để phân biệt với hai vị tiền
nhiệm của ông là ngôn sứ I-sai-a đệ nhị, vị ngôn sứ của
thời lưu đày (Is 40-55) và ngôn sứ I-sai-a đệ nhất, vị ngôn
sứ của thời tiền lưu đày (Is 1-39).

Vào Chúa Nhật I Mùa Vọng, chúng ta đã đọc lời khẩn


nguyện của vị ngôn sứ hậu lưu đày nầy. Bản văn được

11
trích hôm nay, xét về niên biểu, có trước lời khẩn nguyện.
Trong bản văn nầy, vị ngôn sứ biện minh sứ mạng của
mình: ông đã được Thần Khí Chúa xức dầu tấn phong, đây
cốt là xức dầu thiêng liêng bởi vì không có nghi thức xức
dầu tấn phong cho các ngôn sứ. Chính Thiên Chúa đã chọn
các ngôn sứ của Ngài. Sứ mạng của các ngài liên quan đến
đời sống luân lý của dân Thiên Chúa, nhưng vị ngôn sứ
nào đã được Thiên Chúa chọn, không thể nào thoái thác sứ
mạng của mình.

1.2- Sứ điệp.
Sứ mạng của vị ngôn sứ là loan báo “Tin Mừng” (ông lấy lại
diễn ngữ của vị tiền nhiệm của mình là I-sai-a đệ nhị được
trích trong bài đọc I của Chúa Nhật II Mùa Vọng). Tin Mừng
nầy có thể được tóm tắt như sau: “Phúc thay những người
nghèo khổ!”, âm vang lời công bố những mối phúc thật của
Đức Giê-su.

Những người hồi hương thất vọng và vỡ mộng trước thực


trạng quê hương muôn vàn khó khăn. Họ là những người
nghèo, trái tim tan nát. Vị ngôn sứ gọi họ là những “tù
nhân”, những “người bị giam giữ” cho dù hiện nay họ không
còn nữa, qua đó nhấn mạnh nỗi cùng cực của họ, bởi vì
những thuật ngữ nầy giải thích rõ hơn hình ảnh sau đó:
“công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa”, nghĩa là năm
mà những người nô lệ được phóng thích, mọi nợ nần được
tha bổng, đất đai được phân phối lại. “Năm hồng ân” được
cử hành cứ năm mươi năm một lần. Đây là sự khai triển
của “năm sa-bát”, được cử hành cứ bảy năm một lần. Năm
hồng ân biểu tượng một lý tưởng công bình xã hội. Tuy
nhiên, người ta không có đủ bằng chứng cho việc thực
hành thực sự nầy.

12
Đây là diện mạo của những “người nghèo của Đức Chúa”,
những người mà Kinh Thánh gọi là “anawin”. Chữ “anawin”
không thể dịch được, nó bao hàm sự nghèo khổ, đức
khiêm hạ và niềm tin tưởng phó thác vào Thiên Chúa. Ngữ
căn của từ mang một nét nghĩa căn bản là “còng lưng
xuống”, còng lưng xuống dưới gánh nặng của sự nghèo
khó, của sự nhục nhã; cũng “sấp mình” vì thái độ tôn giáo
của họ, thái độ tin tưởng phó thác hoàn toàn vào lượng từ
bi nhân hậu của Thiên Chúa. Đây là một khái niệm căn bản
của Cựu Ước cũng như Tân Ước. Chính những kẻ bé mọn
nầy mà Đức Giê-su sẽ ưu đãi.

Một trăm năm sau đó, một vị ngôn sứ khác, Xô-phô-ni-a, đã


tiên báo việc tăng tiến những người nghèo nầy: “Ngày ấy,
ngươi sẽ không còn phải hổ thẹn vì mọi hành vi ngang trái
chống lại Ta. Bấy giờ, Ta sẽ đuổi cho khuất mắt ngươi
những kẻ kiêu căng đắc thắng, và ngươi sẽ không nghêng
ngang trên núi thánh của Ta nữa. Ta sẽ cho sót lại giữa
ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; chúng sẽ tìm nương
ẩn nơi danh Đức Chúa. Số dân Ít-ra-en còn sót lại sẽ không
làm chuyện tàn ác bất công, cũng không ăn gian nói dối và
miệng lưỡi chúng sẽ không còn phỉnh gạt. Nhưng chúng sẽ
được chăn dắt và nghỉ ngơi mà không còn bị ai làm cho
khiếp sợ nữa” (Xp 3: 11-13).

2. Đoạn trích thứ hai (61: 10-11).


Được an ủi như vậy, cộng đoàn xướng lên một bài thánh
thi chúc tụng ngợi ca: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Thiên
Chúa, vâng nhờ Người, tôi hớn hở biết bao”.
Bài hoan ca nầy được diễn tả bởi hai hình ảnh:
- Trang phục: Giê-ru-sa-lem được mặc hồng ân cứu độ,
được khoắc áo choàng công chính như chàng rể chỉnh tề
khăn đóng, tựa nàng dâu lộng lẫy điểm trang.

13
- Khu vườn: Giê-ru-sa-lem được sánh ví với khu vườn
được chăm sóc tận tình: khu vườn của Đức Chúa ở đó
đức công chính sẽ nẩy hạt sinh mầm, đâm chồi nẩy lộc.

3. Ý nghĩa của việc nối kết hai đoạn trích nầy:


Khi đặt hai đoạn trích đầu và cuối bài thơ nầy bên cạnh
nhau, phụng vụ mời gọi chúng ta hãy suy niệm về mối liên
hệ sâu xa của chúng, mối tương quan giữa “ơn cứu độ”
được hứa bởi Đấng được xức dầu tấn phong (Đức Ki tô tự
đồng hóa với Đấng ấy) và “vẽ đẹp lộng lẫy” của Giê-ru-sa-
lem được nhân cách hóa nơi dân Thiên Chúa. Sách Khải
Huyền lấy lại hình ảnh Giê-ru-sa-lem thiên quốc được điểm
trang lộng lẫy như Hiền Thê nhờ máu của Con Chiên.

Một viễn cảnh như thế không thể là viễn cảnh của vị ngôn
sứ của thế kỷ thứ sáu trước Công Nguyên. Tuy nhiên, cách
tiếp cận lịch sử nầy có thể hiểu được nhờ những đau khổ
của nhóm nhỏ trung thành còn sót lại, những “người nghèo
hèn” nầy mà nổi khốn khổ của họ lôi kéo lòng từ bi nhân
hậu của Thiên Chúa. Và chính qua họ mà lòng từ bi nhân
hậu của Thiên Chúa trải dài cho đến tận cùng thế giới.

BÀI ĐỌC II (1Th 5: 16-24)


Thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho giáo đoàn Thê-xa
lô-ni-ca là bản văn xưa nhất của văn chương Ki tô giáo.
Bức thư nầy được viết vào mùa đông năm 50-51.

Thánh Phao-lô đã thiết lập giáo đoàn Thê-xa-lô-ni-ca ở Hy


lạp vào mùa hè của năm 50, nhưng ngài đã phải vội vàng
trốn chạy khỏi thành phố vì người Do thái tức giận tìm cách
giết ngài do lời rao giảng khác thường nầy khiến nhiều
người Ít-ra-en lẫn lương dân ăn năn sám hối.

14
Vì thế, thánh nhân thật sự bận lòng cộng đoàn nhỏ bé bị
hăm dọa nầy. Sau nầy, người cộng tác của ngài, Ti-mô-thê,
quay trở lại Thê-xa-lô-ni-ca và tường thuật những tin tốt
lành: Giáo Đoàn non trẻ nầy vẫn kiên vững trước những đe
dọa và quấy nhiễu của người Do thái.

Thế nên, thánh Phao-lô viết bức thư nầy cho Giáo Đoàn
Thê-xa-lô-ni-ca với cung giọng nồng nàn hòa chung với
niềm hân hoan và cảm tạ. Đoạn văn chúng ta đọc được
định vị vào cuối thư bao gồm những lời khuyên bảo và
khích lệ.

1. Vui mầng, cầu nguyện và tạ ơn:


Thánh nhân khuyên ba điều quan trọng: “Anh em hãy vui
mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn
trong mọi hoàn cảnh”.

Trước hết, “Anh em hãy vui mừng luôn”. Thánh Phao-lô


thường nhấn mạnh niềm vui Ki tô giáo. Niềm vui là hoa quả
của Thần Khí, Đấng hằng ở với người Ki tô hữu ngay cả
trong gian nan thử thách. Thánh nhân “chứa chan niềm an
ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn
khó” (2Cr 7: 4). Niềm vui phát xuất từ niềm xác tín là được
dự phần vào vương quốc Thiên Chúa ngay từ cõi thế nầy.
Tiếp đó, “Hãy cầu nguyện không ngừng”. Thánh nhân hầu
như luôn luôn khuyên cầu nguyện “không ngừng”, “mọi lúc”,
“đêm cũng như ngày”. Chung chung, thánh nhân cầu
nguyện với Chúa Cha, nhờ Chúa Ki tô; hiếm khi thánh nhân
cầu nguyện trực tiếp với Chúa Ki tô. Thánh nhân nói, chính
nhờ Thần Khí mà chúng ta mới có thể thân thương với
Thiên Chúa là “Cha”.

15
Sau cùng, “Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh”. Tạ ơn là một
cấu tố của lời cầu nguyện, xoay quanh lời chúc tụng.
Truyền thống Do thái dành một chỗ đặc biệt cho tâm tình
cảm tạ tri ân. Bài ca “Chúc Tụng” (Benedictus) là bài ca
cảm tạ tri ân: “Chúc tụng Thiên Chúa…” Thánh Phao-lô hầu
như luôn luôn bắt đầu bức thư của mình với lời chúc tụng
Thiên Chúa.

2. Đừng chối từ những ân ban Thần Khí:


Đây là lời khuyên thứ hai. Các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca coi
nhẹ những ân ban Thần Khí. Họ nghi ngại những người
được ơn Thần Khải. Có lẽ họ là những người Hy lạp
phương bắc, ít sôi nổi như những người Cô-rin-tô… Quả
thật, thánh Phao-lô viết từ Cô-rin-tô ở đó những ân ban
Thần Khí nhiều vô kể. Thánh nhân khuyên các tín hữu Thê-
xa-lô-ni-ca: “Anh em chớ dập tắt Thần Khí”. Cứ để mỗi
người nói lên theo những ân ban của mình, ngay cả ơn nói
tiên tri. Điều quan trọng là phải biết “cân nhắc mọi sự: điều
gì tốt thì giữ lấy; còn tất cả những gì xấu thì lánh cho xa”.

3. Ơn thánh hóa:
Đây là đề tài rất tâm đắc với thánh Phao-lô và thánh nhân
sẽ khai triển thêm nữa sau nầy: ơn thánh hóa của chúng ta
dựa trên tác động của Thiên Chúa hơn trên nổ lực của cá
nhân chúng ta.

Việc kể ra: thần trí, tâm hồn và thân xác, không gặp thấy
bất cứ nơi nào khác trong các thư của thánh nhân. Đây
không là cách diễn tả con người được phân chia thành ba
phần. Người Hy lạp cũng như người Do thái đều không
quan niệm con người như thế. Thánh Phao-lô chỉ muốn nói
đến toàn thể con người: theo thói quen của mình, thánh
nhân khai triển chữ “toàn diện” đi trước và tô đậm chữ

16
“thần trí” theo sau với ý nghĩa Ki tô giáo: chính thần trí con
người rộng mở trước tác động của Thần Khí.

TIN MỪNG Ga 1: 6-8, 19-28


Tin Mừng hôm nay được trích từ hai đoạn văn khác nhau,
một từ Tựa Ngôn (1: 6-8) và một từ phần mở đầu của Tin
Mừng Gioan (1: 19-28).

1. Gioan Tẩy giả, chứng nhân (1: 6-8).


Tựa Ngôn là một bài thánh thi về “Ngôi Lời” bị ngắt nhịp hai
lần để kể đến vị Tiền Hô. Lần ngắt nhịp thứ nhất được dùng
như lời mở đầu của đoạn Tin Mừng hôm nay.
Trong phần mở đầu nầy, tác giả Tin Mừng thứ tư không đề
cập sứ điệp của Gioan Tẩy giả cũng như ý nghĩa phép rửa
của thánh nhân, nhưng tô đậm chức năng “chứng nhân”
của vị Tiền Hô. Đối với thánh ký, “chứng nhân” là quan
trọng bậc nhất như ông nhấn mạnh trong thư thứ nhất của
mình: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận
mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã
chạm đến, đó là Lời sự sống…Điều chúng tôi đã thấy và đã
nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa…” (1Ga 1: 1-
4).

2. Lời chứng của Gioan Tẩy giả (1: 19-28).


Vị Tiền Hô chối từ tất cả những gì người ta nghĩ tưởng về
ông để chỉ tập trung lời chứng của mình trên sự hiện diện
của Đấng đến sau ông và hiện có mặt ở đây rồi.

Ông không phải là Đấng Mê-si-a mà dân chúng đang chờ


đợi. Ông cũng không phải là Ê-li-a mà truyền thống truyền
tụng rằng vị ngôn sứ được rước lên trời nầy và sẽ trở lại
trần thế để chuẩn bị cho Đấng Mê-si-a. Ông cũng không
phải là ngôn sứ vĩ đại mà Đức Chúa hứa với ông Mô-sê

17
trong sách Đệ Nhị Luật: “Từ giữa anh em, Ta sẽ cho xuất
hiện một ngôn sứ như ngươi để giúp chúng…” (Đnl 18: 18).
Sau khi đã phủ nhận tất cả những nhân vật nổi tiếng mà
người ta nghĩ tưởng về mình, Gioan Tẩy giả công bố sứ
điệp: “Có một Vị đang ở giữa các ông mà các ông không
biết”. Có thể ở đây ám chỉ đến niềm tin dân gian vào một
đấng mê-si-a ẩn mình. Thật vậy, sách Tin Mừng thứ tư
nhấn mạnh hơn các sách Tin Mừng khác lời loan báo về
Đấng Mê-si-a không chỉ sắp đến nhưng hiện có mặt ở giữa
họ rồi.

Tại sao những lời chứng vừa phủ nhận về mình vừa khẳng
định về Đức Ki tô của Gioan Tẩy giả mặc lấy một tầm mức
quan trọng đến như thế?

Để có thể lĩnh hội được Tin Mừng Gioan, cần phải giải mã
những ẩn ý nầy. Tin Mừng Gioan vốn giàu có biểu tượng
nên luôn luôn hàm chứa hai nghĩa: nghĩa trực tiếp và nghĩa
ẩn dụ.

2.1- Nghĩa trực tiếp:


Theo nghĩa trực tiếp, chúng ta có thể gặp thấy chìa khóa ở
nơi việc dàn dựng phần mở đầu cuộc đời công khai của
Đức Giê-su thành một tuần lễ, được gọi “tuần lễ khai mạc”
(song đối với bảy ngày cuối đời của Đức Giê-su).
Tuần lễ khai mạc được trình bày như sau:
- Ngày thứ nhất: chứng từ của Gioan Tẩy giả về chính
mình và về Đức Ki tô trước những lời chất vấn của các
tư tế và các thầy Lê-vi được phái đến từ Giê-ru-sa-lem.
- Ngày thứ hai: chứng từ của Gioan Tẩy giả về “Chiên
Thiên Chúa” và Thần Khí ngự xuống vào lúc Đức Giê-su
chịu phép rửa.

18
- Ngày thứ ba: An-rê và người môn đệ vô danh (có thể là
chính thánh Gioan) đi theo Đức Giê-su, đoạn kéo theo
Phê-rô.
- Ngày thứ tư: Phi-líp và Na-tha-na-en nhập đoàn với các
môn đệ đầu tiên.
- Ngày thứ năm và thứ sau: hành trình về miền Ga-li-lê.
- Ngày thứ bảy: tiệc cưới Ca-na. Các môn đệ, chứng
nhân của dấu lạ nầy, “tin” vào Ngài, vì họ đã “chứng kiến
vinh quang của Ngài”.

Khi trình bày phần mở đầu cuộc sống công khai của Đức
Giê-su như thế, thánh ký thiết lập sự song đối với bảy ngày
của Công Trình Sáng Tạo, qua đó thánh ký muốn nói rằng
việc Giáng Trần của Đức Ki tô là một cuộc tạo dựng mới,
hay đúng hơn, một cuộc tái tạo.

2.2- Nghĩa ẩn dụ:


Chứng từ của Gioan Tẩy giả trong Tin Mừng hôm nay được
định vị vào ngày thứ nhất trong tuần lễ khai mạc. Vào lúc
sáng tạo thế giới, ngày thứ nhất được đánh dấu bởi việc
phân tách Ánh Sáng ra khỏi bóng tối.

Do đó, tất cả ý nghĩa sâu xa của đoạn Tin Mừng nầy đó là


Gioan Tẩy giả đến để làm chứng về ánh sáng. Trái lại, các
tư tế và các thầy Lê-vi được cử đến và trở về Giê-ru-sa-lem
mà không đón nhận phép rửa sám hối ăn năn, vì thế, không
rộng mở lòng mình ra để đón nhận ánh sáng. Tuy nhiên, họ
đã được loan báo cho biết: “Có một Vị đang ở giữa các ông
mà các ông không biết” (động từ “biết” của nền văn hóa Do
thái không chỉ nói lên một sự hiểu biết thuần túy trên mặt trí
tuệ nhưng đặc biệt còn cả trọn tấm lòng nữa).

19
Như vậy, giáo quyền Do thái, ngay từ đầu, vẫn đắm mình
trong bóng tối. Sự việc nầy sẽ chi phối cách hành xử sau
cùng của họ đối với Đức Ki tô.

Việc đối lập của cặp tương phản ánh sáng và bóng tối nầy
hình thành nên một trong những đề tài chủ đạo của Tin
Mừng Gioan. Việc đối lập nầy đã được minh chứng rồi
ngay từ trong Tựa Ngôn.

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

VUI MỪNG VÌ CHÚA SẮP ĐẾN


Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Trong cuộc sống, chúng ta thường gặp những niềm vui: vui
khi thấy những nụ hoa hé nở trong vườn, vui khi nhìn
những cặp vợ chồng trẻ hân hoan trong ngày cưới, vui với
những tù nhân mãn hạn trở về. Ngày xưa, một ngôn sứ
cũng đã dùng những hình ảnh tương tự để loan báo niềm
vui khi Chúa đến. Thật vậy, khi Chúa đến, Ngài sẽ làm cho
cuộc sống ta tràn ngập niềm vui. Vậy chúng ta hãy chuẩn bị
đón tiếp Ngài.

II. GỢI Ý SÁM HỐI


Chúng ta không nghĩ rằng sống đạo là một niềm vui, trái lại
nhiều khi còn coi đó là gánh nặng khó chịu.

Chúng ta ít nghĩ đến việc làm cho những người chung


quanh được vui tươi hạnh phúc.

20
Chúng ta không sẵn sàng để cho Chúa giải thoát chúng ta
khỏi những trói buộc của tội lỗi và những đam mê bất
chính.

III. LỜI CHÚA


1. Bài đọc I: Is 61, 1-2. 10-11
Ðoạn này thuộc phần thứ ba sách Isaia (các chương 56-66)
do một (hoặc một số) tác giả không được biết tên nên
người ta tạm gọi là Ðệ Tam Isaia.

Có hai giả thuyết về thời gian soạn tác phần này: a/ Ðó là


thời sau lưu đày từ lúc xây xong Ðền thờ mới cho đến năm
445 trước công nguyên (Nhóm dịch CGKPV); b/ Một vài
năm trước khi kết thúc cuộc lưu đày. Nội dung đoạn được
trích hôm nay xem ra phù hợp với giả thuyết thứ hai hơn.

Tác giả nghĩ đến lúc được giải thoát khỏi ách lưu đày.
- Trong phần đầu (cc 1-2), tác giả tự đồng hóa mình với
một nhân vật được Thiên Chúa chọn làm sứ giả đặc biệt
để loan tin vui ấy. "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, sai tôi
đi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, băng bó
những tâm hồn đau thương, báo tin ân xá cho những kẻ
bị lưu đày, phóng thích cho những tù nhân, công bố năm
hồng ân của Thiên Chúa".
- Trong phần sau (cc 10-11), tác giả lại tự đồng hóa mình
với dân được giải thoát: "Tôi hớn hở vui mừng trong
Chúa, vì Ngài đã mặc cho tôi áo phần rỗi và choàng áo
công chính cho tôi..."
Sau này, trong bài ca Magnificat, Ðức Maria đã lấy lại
một số tâm tình của tác giả; và Ðức Giêsu, tại hội đường
Nadarét, cũng đã áp dụng những lời này cho chính bản
thân Ngài.

21
2. Ðáp ca: Trích bài Magnificat, Lc 1, 46-48. 49-50. 53-54.
Bài ca diễn tả tâm tình của Ðức Maria. Ðó cũng là tâm tình
của Ðệ Tam Isaia ngày trước, mà cũng là tâm tình của
Giáo Hội ngày nay: vui mừng vì được Chúa đến thăm và
dùng mình làm sứ giả loan báo Tin Mừng của Chúa.

3. Bài đọc II: 1 Tx 5, 16-24


Thêxalônica là một giáo đoàn mà thánh Phaolô rất quan
tâm, bởi vì ngài mới thành lập giáo đoàn này không bao lâu
thì phải bị buộc rời họ đi xa. Nhưng dù non trẻ, giáo đoàn
này đã sống đạo khá tốt. Bởi thế khi biên thư cho họ,
Phaolô bảo họ một mặt hãy luôn vui mừng trong Chúa và
mặt khác hãy cầu nguyện không ngừng và cảm tạ Chúa
trong mọi việc.

4. Tin Mừng: Ga 1, 6-8. 19-28


Sứ giả loan Tin Mừng mà Ðệ Tam Isaia đã tiên báo chính là
Gioan Tiền hô, và Tin Mừng mà Gioan công bố chính là
Ðức Giêsu.

Ðoạn Tin Mừng Chúa nhật tuần trước đã cho biết Gioan là
người dọn đường và ông đã dọn đường như thế nào. Ðoạn
Tin Mừng hôm nay (của thánh Gioan Tông đồ) cho biết
nhiều hơn:
• Ðấng Messia mà Gioan dọn đường chính là Ánh
sáng. Ngài đến thế gian như ánh sáng chiếu soi trong
đêm tối.
• Phần Gioan tiền hô, ông rất khiêm tốn: nói rõ mình
không phải là Messia và tuyên bố Ðấng Messia là
Ðức Giêsu cao trọng hơn ông.

22
IV. GỢI Ý GIẢNG
* 1. Vui mừng theo mệnh lệnh?
Lời kêu gọi rất rõ của Giáo Hội trong Thánh lễ hôm nay là
"Anh em hãy vui lên".
Nhưng có thể vui mừng theo mệnh lệnh như thế chăng? Vả
lại, trong cuộc sống cũng có nhiều nỗi buồn. Ðâu phải bất
cứ lúc nào hễ Giáo Hội kêu chúng ta vui lên thì chúng ta vui
lên ngay được?

Thiết tưởng ta nên phân biệt cho rõ. Cuộc đời gồm nhiều
phương diện lắm khi không hoàn toàn phối hợp hài hòa với
nhau. Bởi thế người ta vẫn có thể vui về phương diện này
đang khi gặp điều không vừa ý thuộc phương diện khác.
Chẳng hạn nghèo mà vui, bị sỉ nhục vẫn vui v. v. Phương
diện lúc nào cũng có thể vui chính là phương diện siêu
nhiên: vui vì Chúa, vui trong Chúa. Thứ niềm vui này ở tận
trong lòng nên bất cứ thứ xáo trộn bên ngoài nào cũng
không ảnh hưởng tới nó được.

Tác giả Sách Huấn ca đã viết: mọi việc đều có thời của nó.
Có thời để khóc và có thời để cười, có thời để buồn và có
thời để vui... Giáo Hội chỉ cho chúng ta biết rằng thời để vui
chính là thời bây giờ đây, thời chuẩn bị đón Chúa Giáng
sinh. Chúng ta vui vì Chúa đã "công bố năm hồng ân" (bài
đọc I), vì "Chúa đã đoái nhìn phận hèn tôi tớ" của chúng ta
(Bài đáp ca) và vì ý Thiên Chúa muốn rằng chúng ta luôn
được hân hoan hạnh phúc (Bài Thánh Thư).

* 2. Vui và sướng
Trong bài đọc II, Thánh Phaolô bảo: "Anh em hãy vui luôn".
Flor McCarthy có những suy nghĩ sau đây về vui và sướng
(joy and pleasure).

23
Vui và sướng rất khác nhau:
• Ta có thể vạch kế hoạch để mình được sướng,
nhưng không thể làm thế để được vui.
• Sung sướng đến ngay, còn niềm vui thường đến sau;
và niềm vui ngọt ngào hơn cả là thứ niềm vui đến
sau đau khổ.
• Sung sướng đến do mình trả lời "có" với mình; niềm
vui đến do mình trả lời "không" với chính mình.
• Sung sướng giống như một ánh lửa loé lên trong
đêm tối, chiếu sáng mọi sự trong giây lát rồi tắt lịm,
sau đó ta cảm thấy tối tăm và trống rỗng hơn bao giờ
hết; Niềm vui giống như một ngọn lửa trong tim, sau
đó dù lửa đã tàn nhưng vẫn còn để lại hơi ấm trong
ta.

* 3. Vui luôn
Thánh Phaolô kêu gọi "Anh em hãy vui mừng luôn mãi".
"Luôn mãi" là cả khi bị người ta đối xử xấu với mình nữa
chăng?
"Luôn mãi" là cả khi làm việc thất bại nữa chăng?
"Luôn mãi" là cả khi người thân bị chết hay bị bệnh nặng
nữa chăng?
"Luôn mãi" ngay cả khi đã phạm tội chăng? v. v.
Chắc chắn là thánh Phaolô đã nghĩ đến những tình huống
đó, dù vậy Ngài vẫn kêu gọi "Hãy vui mừng luôn mãi". Tại
sao?
Liền sau lời kêu gọi ấy, thánh Phaolô viết tiếp "Hãy cầu
nguyện không ngừng". Ðúng rồi, nếu gặp phải những tình
huống ấy mà biết cầu nguyện thì mọi buồn sầu lo lắng sẽ
sớm tan biến và trở thành niềm vui.

24
4. Có Ðấng mà các ngươi không biết, Ngài sẽ đến sau
tôi
Ðấng mà người ta không biết chính là Thiên Chúa. Thật
vậy, rất nhiều người không biết Thiên Chúa, thậm chí còn
không tin là có Thiên Chúa. Ðiều này cũng tự nhiên thôi, vì
chính Thánh Kinh cũng nói rằng khả năng con người không
thể biết được Thiên Chúa: Thánh Gioan tông đồ đã viết
"Chưa ai trông thấy Thiên Chúa bao giờ" (Ga 1, 18); Thánh
Phaolô cũng viết rằng Thiên Chúa là Ðấng "ngự trong ánh
sáng siêu phàm, Ðấng không một người nào đã thấy hay
có thể thấy" (1 Tm 6, 16).

Thế nhưng, vì yêu thương loài người, Thiên Chúa đã khấng


cho loài người biết Ngài, qua Ðức Giêsu con yêu dấu của
Ngài nhập thế sống giữa loài người chúng ta. Gioan Tiền
hô đã báo cho người ta biết tin vui đó: "Ngài đang ở giữa
các ngươi mà các ngươi không biết".

Chúng ta là những người được biết, vậy chúng ta hãy vui


mừng; và cũng như Gioan, chúng ta hãy chỉ Ngài cho nhiều
người khác được biết.

5. Ðiều kiện của người làm chứng


Ðiều kiện tiên quyết của người làm chứng là sống đúng
như chứng từ của mình.

Gioan Tẩy giả là người làm chứng như thế. Ðoạn Tin Mừng
hôm nay viết: "Ông đến để làm chứng về ánh sáng". Trung
thực với chứng từ này, một mặt ông cố gắng chỉ cho người
ta thấy Ánh Sáng là ai, mặt khác khi có người tưởng ông là
Ánh sáng ấy thì ông thẳng thắn phủ nhận. Rồi khi Ánh sáng
xuất hiện, ông âm thầm rút lui: "Ngài phải sáng lên, còn tôi
phải mờ đi".

25
Câu chuyện sau đây được thuật lại trong quyển The Tablet
(Tháng 5 năm 1998):

Một cặp vợ chồng trẻ kia đều là bác sĩ. Họ đã học chung
với nhau ở Ðại học Y khoa, quen nhau, rồi cưới nhau.
Người vợ là công giáo, người chồng thì không. Ðã nhiều
lần người vợ cố gắng thuyết phục chồng Rửa Tội, nhưng
anh không hề quan tâm, có lẽ vì chưa thấy đạo công giáo
có cái gì hay.

Thế rồi trong một đợt thanh lý công nhân viên, người chồng
bị bắt đi cải tạo cùng với một số nhà trí thức khác. Người
vợ không vào tù nhưng bị làm áp lực bỏ đạo và ly dị chồng.
Nhiều nữ bác sĩ khác cùng cảnh ngộ đã đành chìu theo
những áp lực ấy. Nhưng bà này vẫn cương quyết sống
theo niềm tin và tình yêu của mình, mặc dù gặp phải rất
nhiều khó khăn.

Nhưng một ngày kia, người chồng được trả tự do cùng với
nhiều bác sĩ khác. Xảy ra rất nhiều tình huống trớ trêu dở
khóc dở cười: nhiều bà vợ vui mừng vì chồng trở về nhưng
không dám đón chồng vì đã trót ly dị. Riêng cặp vợ chồng
này thì niềm vui rất trọn vẹn.
Sau đó người chồng xin gia nhập đạo công giáo. Anh đã
thấy được giá trị của đức tin và tình yêu hiện thân nơi vợ
mình. Ðó là một chứng từ, không phải bằng lời nói suông
mà bằng cả cuộc sống.

6. Làm chứng cho Ðức Kitô


Linh mục Anthony de Mello có kể một câu chuyện sau đây:
Có gia đình kia đi nghỉ hè một thời gian dài bên bờ biển.
Ngày nọ, mấy đứa con đang nô đùa, xây những lâu đài
bằng cát trên bãi biển, thì có một bà cụ xuất hiện. Tóc bà

26
rối bời trong gió, quần áo bẩn thỉu rách rưới. Bà vừa lẩm
bẩm một mình, vừa cúi nhặt những vật gì đó trên mặt cát
rồi cho vào giỏ.

Cha mẹ lũ nhỏ gọi chúng lại và bảo chúng hãy tránh xa mụ


đàn bà đó. Khi đi ngang qua, bà mỉm cười với họ, nhưng
mọi người không hề tỏ dấu đáp lại.

Nhiều tuần sau, cả gia đình mới biết rằng đã lâu lắm rồi,
người đàn đà ấy đã tự nguyện, làm công việc lượm các
mảnh thủy tinh rơi rớt trên bãi biển, để bọn trẻ khỏi bị đứt
chân.

* "Giữa các ngươi có một Ðấng mà các ngươi không


biết" (Ga. 1, 26).
Sứ mạng của Gioan Tiền Hô là làm chứng cho Sự Sáng
đích thật chính là Ðức Kitô. Ðức Kitô đến để chiếu ánh
sáng cho trần gian. Toàn bộ Tin mừng Gioan chỉ là để trả
lời cho câu hỏi này: "Giêsu Nagiarét, Người là ai?" Gioan
không dùng danh từ Phúc âm mà chỉ dùng từ ngữ "chứng
nhân". Ðộng từ "làm chứng" được Gioan nhắc đến 33 lần.
Tin mừng Gioan được khai mở bằng lời chứng của Gioan
Tiền Hô và kết thúc với minh chứng của Gioan Tông đồ:
"Chính môn đệ này làm chứng về những việc đó và đã viết
ra. Chúng tôi biết lời chứng của người ấy xác thực" (Ga.
21, 24).

Qua lối sống khổ hạnh khác người, qua lời rao giảng sám
hối, và qua lời chứng: "Tôi là tiếng kêu trong hoang địa:
Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi" (Ga. 1, 23) đã minh
chứng Gioan là vị Tiền Hô của Ðấng Cứu Thế, là chứng
nhân của Thiên Chúa. Gioan chỉ đứng ra làm chứng và báo
trước ngày Chúa xuất hiện, rồi rút lui vào bóng tối.

27
Có thể nói, Gioan là người tôi tớ, còn Ðức Giêsu là ông
chủ, Gioan là đèn soi, còn Ðức Giêsu là ánh sáng, Gioan là
tiếng kêu, và Ðức Giêsu là lời hằng sống.

Như Gioan, người tín hữu cũng sẽ là chứng nhân cho Ðức
Kitô trong cuộc sống. Về điểm này, Teihard de Chardin đã
ví von rất sống động: "Ánh sáng xuyên qua những áng
mây, người ta đoán là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời
sống chúng ta mọi người cũng đoán được có Ðức Kitô". Bà
cụ trong câu chuyện của Cha Mello phản ánh một tấm
gương sáng ngời về lòng thương người, luôn quan tâm tới
kẻ khác. Cụ sống khó nghèo, âm thầm, hy sinh thời giờ sức
lực của mình, để cho niềm vui của người khác được trọn
vẹn.

Martin Luther King viết: "Chúng ta không chỉ làm chứng


bằng lời nói, mà còn làm chứng bằng cuộc sống của mình".
Có những tâm hồn dần dần cải hóa nhờ việc làm của ta,
nhưng chính ta lại không ngờ tới. J. Basquin nói: "Sống
chứng nhân không phải là đuổi theo các tâm hồn, mà là
sống làm sao để các tâm hồn chạy theo ta".
Ước gì khi nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người cũng có
thể nói như đã nói về Thánh Gioan Vianey "Tôi đã thấy
Thiên Chúa trong một con người".

* Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết làm chứng cho
Chúa bằng lời rao giảng và bằng gương sáng đời sống
chúng con. Xin cho chúng con biết sống khiêm nhường:
không hiếu danh cũng chẳng ganh tị, không cao ngạo cũng
chẳng cậy uy. Nếu có khi nào thành công việc gì xin cho
chúng con biết hướng vinh dự về cho Chúa, để qua đó,
người ta nhận biết Chúa là Ðấng quyền năng và yêu
thương con người. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã yêu")

28
V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI
Chủ tế: Anh chị em thân mến, chúng ta đã tiến đến Chúa
nhật thứ 3 Mùa Vọng, niềm vui ngày Chúa đến dịp lễ Giáng
Sinh đã gần kề. Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy vui
mừng cầu nguyện và tạ ơn. Chúng ta hãy dâng lên Chúa
những ước nguyện của chúng ta:

1. Thánh Gioan đã dọn đường về Ðức Giêsu là ánh


sáng, là niềm vui cứu độ / Xin cho cộng đoàn Hội
thánh trở thành chứng tá cho Chúa xuyên qua việc
gieo rắc và bồi dưỡng niềm vui cho mọi người.
2. Ðức Giêsu được sai đi để đem Tin mừng cho người
nghèo khổ bất hạnh / Xin cho các nhà cầm quyền trở
thành những người bênh vực kẻ hèn yếu và đem an
vui cho những người thiếu may mắn.
3. Ðức Giêsu đến trần gian để băng bó những tấm
lòng tan nát / Xin cho những người nghèo đói thất
nghiệp, tù đày, bị bỏ rơi / tìm được niềm an ủi và hy
vọng nơi những người họ gặp gỡ.
4. Chúng ta đã được hiệp thông với Ðức Giêsu qua
các Bí tích / Xin cho mọi người trong cộng đồng họ đạo
chúng ta / luôn thắp lên trong đời mình ánh sáng của
Chúa / để sưởi ấm và soi sáng cho mọi người.

Chủ tế: Lạy Chúa, chúng con đang sửa soạn để đón nhận
niềm vui ngày Ðức Giêsu Giáng Sinh, xin Chúa sai Thánh
Thần Chúa đến sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con để
chúng con trở thành niềm an vui cho mọi người chúng con
gặp gỡ. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô.

Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

29
CHÚA ĐẾN MANG LẠI NIỀM VUI
Lm Giuse Đinh lập Liễm
I. GIOAN, ÔNG LÀ AI ?
Đã từ 400 năm, tiếng nói tiên tri đã im bặt, bây giờ với
Gioan, tiếng nói ấy lại vang lên. Qua đó một số người đã
ngưỡng mộ ông Gioan Tẩy giả đến độ dành cho ông địa vị
cao hơn địa vị thích đáng, còn cao hơn cả Đức Giêsu.
Tiếng nói của Gioan đã vang dội và đánh động nơi nhiều
người.

Cấp lãnh đạo Do thái sợ Gioan chiếm mất địa vị của mình,
đã sai mấy tư tế và Lêvi đến điều tra xem Gioan là ai. Họ
sợ ông là Êlia sống lại, người đã thiêu sống hơn 500 tư tế
của hoàng hậu Giêzabel thời vua Achab. Họ sợ ông là một
tiên tri, như bao tiên tri của Thiên Chúa, đến đe dọa họ,
đưa những tin làm đảo lộn thời thế, làm mất quyền lợi địa vị
của họ. Họ phải đề phòng, kiểm soát, canh chừng mọi bất
trắc xẩy ra. Họ đã biết có nhiều người được dân coi là
Đấng Cứu thế, nổi lên chống ngoại bang, làm cho bao
nhiêu người phải chết lây, nhất là tầng lớp lãnh đạo tôn
giáo lại càng sợ đế quốc tiêu diệt.

Vì vậy, cấp lãnh đạo tôn giáo sai tư tế và Lêvi đến đặt câu
hỏi, yêu cầu Gioan phải trả lời cho ho biết : Ông là ai ?

1. Gioan là Đấng Messia ?


Tâm lý chung của các nước các dân bị trị đều mong có một
vị cứu tinh nào đến giải phóng họ khỏi cảnh kìm kẹp của
ngoại bang. Dân Do thái đang sống trong tâm trạng đó. Họ
tin rằng họ là dân tuyển chọn của Giavê, họ không nghi
ngờ gì về việc chẳng chóng thì chầy Thiên Chúa sẽ can
thiệp để cứu dân Ngài. Không phải chỉ có một quan niệm
về Đấng Messia : có người tin rằng Đấng Messia sẽ đem lại
30
hòa bình cho cả thế giới. Có người trông chờ Ngài sẽ cai trị
đất nước bằng sự công chính. Có người trông chờ có một
siêu nhân đến từ Thiên Chúa. Nhưng đa số trông mong một
vị tướng lãnh vô địch sẽ cầm đầu quân đội quốc gia Do thái
đi chinh phục cả thế giới.

Trước câu hỏi đó, Gioan hoàn toàn bác bỏ danh xưng
Messia, nhưng lại tiết lộ một phần khác. Trong tiếng Hy lạp
có vẻ như Gioan muốn nói : “Tôi không phải là Đấng
Messia, nhưng Đấng Messia đang có mặt ở đây mà các
ông không biết”.

2. Gioan là tiên tri Êlia ?


Người Do thái tin rằng tiên tri Êlia và ông Hênốc đã được
đưa về trời trên chiếc xe bằng lửa, và khi Đấng Messia
giáng lâm, Êlia sẽ trở lại để loan báo trước, và chuẩn bị cho
thế gian tiếp rước Ngài. Họ tin rằng Êlia sẽ đến sắp xếp lại
mọi công việc cho người Do thái : dàn xếp những bất hòa,
đem lại sự đoàn kết và nối lại các gia đình. Niềm tin rằng
Êlia phải đến trước Đấng Messia bắt nguồn từ Malakia 4,5.
Người ta còn tin rằng chính Êlia xức dầu cho Đấng Messia
làm vua cũng như cho tất cả các vị vua được xức dầu.
Nhưng Gioan tẩy giả đã bác bỏ mọi vinh dự đó.

3. Gioan là một tiên tri nào đó ?


Nhiều người Do thái tin Isaia và đặc biệt là Giêrêmia hoặc
một trong các vị anh hùng cứu nước như Samuel, Maisen...
sẽ có ngày trở lại. Niềm tin đó dựa vào sách Đệ nhị luật
(18,15) nói có vị tiên tri sẽ xuất hiện. Đó là lời hứa dân Do
thái không khi nào quên. Họ chờ đợi sự xuất hiện của một
nhân vật sẽ là tiên tri vĩ đại nhất. Họ hỏi Gioan có phải là
một trong các vị tiên tri được hứa trong sách Đệ nhị luật
không ? Một lần nữa, Gioan Tẩy giả trả lời là “không”. Sự

31
thực ngài cũng là tiên tri, nhưng không phải là tiên tri theo
sách Đệ nhị luật nói.

4. Gioan là người làm chứng ?


Để trả lời cho họ, Gioan không trả lời trực tiếp : Tôi là Tiền
sứ của Chúa Cưu thế vì ông khiêm tốn nhưng ông mượn
lời tiên tri Isaia :”Tôi chỉ là tiếng hô trong hoang địa : hãy
dọn đường cho Chúa.

Muốn hiểu rõ câu nói đó của Gioan Tẩy giả, ta nên nhớ
rằng những con đường ngày xưa chỉ có một ít là trải sỏi
hoặc đá, còn đa số là những con đường lầy lội. Khi một vị
vua muốn đi thăm một tỉnh nào đó trong vương quốc của
mình, ông sẽ sai một người “tiền hô” tới đó trước để báo
cho dân chúng lấp đầy những hố, những vũng bùn, và làm
cho những con đường thẳng thắn lại. Người “tiền hô” còn
một điều nữa phải làm là dạy cho dân chúng những nghi
thức tiếp tân thích hợp để đón nhà vua tới. Gioan Tẩy giả
cũng lưu ý tới thái độ tiếp tân cần phải có để đón Chúa tới.
Ông nói :”Hãy ăn năn hối cải tội lỗi mình và hãy lãnh nhận
phép rửa”.

Tóm lại, chúng ta có thể diễn đạt toàn bộ sứ điệp của Gioan
như sau :”Tôi không phải là Đấng Cứu thế, nhưng tôi là
người “tiền hô” cho Ngài. Hãy chuẩn bị vì Ngài sắp đến”.
Gioan đã làm những gì mà mọi vị lãnh đạo tôn giáo đích
thực phải làm. Ông không để cho người ta chú ý tới ông,
mà hướng mọi sự chú ý của họ vào Đức Giêsu.

Còn một điều khác làm cho phái đoàn Do thái thắc mắc :
Gioan lấy quyền gì mà làm phép rửa ? Nếu ông là Đấng
Messia, là Êlia hay là một tiên tri thì ông mới có quyền làm
! Nhưng bằng một giọng thản nhiên, Gioan nói rõ : ông là

32
tiên tri dọn đường Chúa Cứu thế thì cố nhiên phép rửa của
ông cũng chính là phép dọn đường mở lối cho phép rửa
chính thức của Đấng Cứu thế. Và ông nhấn mạnh thêm :
Chúa Cứu thế đã đến rồi và hiện nay đang ở giữa họ, thế
mà họ đã không nhận ra Ngài.

II. KITÔ HỮU, NGƯỜI LÀ AI ?

1 . Là chứng nhân của Chúa


Kitô hữu là người được mang danh Chúa Kitô, danh hiệu
này đã được thánh Phaolô lần đầu tiên gọi các tín hữu ở
Antiochia. Kitô hữu là người thuộc về Chúa Kitô, được
đồng hoá với Chúa Kitô đang sống giữa chúng ta. Chúng
ta không như người Do thái phải mất mấy thế kỷ mong đợi
Đấng Cứu thế đến. Hơn nữa, cũng không phải sống lại
những biến cố đã qua. Đức Kitô đã đến. Ngài đang có đó.
Liên tục hiện diện giữa chúng ta để loan báo Tin mừng cho
người nghèo, để chữa lành các tâm hồn bị tan vỡ và giải
thoát những kẻ bị xiềng xích.

Tuy Chúa Cứu thế đã đến rồi và ở giữa chúng ta, nhưng
trong thực tế , chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Ngài
không ? Phải chăng lời khiển trách của Gioan Tẩy giả lại
không nhằm đến chúng ta, cũng như những người Do thái
đời ông :”Giữa các ngươi có một Đấng , mà các ngươi
không biết”. Do đó, lời mời gọi khẩn thiết được trao gửi cho
ta, giúp chúng ta dễ chấp nhận những nỗ lực và hy sinh
cần thiết, để từ bỏ mọi kiêu căng, thoát khỏi những lố lăng
trần thế, hầu nhận biết Đức Kitô.

Truyện : Tình nghĩa vợ chồng.

33
Tại một trung tâm bài phong, đa số các bệnh nhân đều
buồn chán, vì cảm thấy bị bỏ rơi và bị mọi người xa lánh.
Tuy nhiên, có một người vẫn còn biết cười và vẫn còn tiếp
tục tạ ơn khi được giúp đỡ. Vị nữ tu coi sóc trung tâm
muốn tìm hiểu xem đâu là nguyên nhân của phép lạ này.
Sau nhiều ngày theo dõi, vị nữ tu mới khám phá rằng,
xuyên qua một lỗ nhỏ trên vách tường ngăn cách trung tâm
với thế giới bên ngoài, ngày ngày có một người đàn bà đến
nhìn vào và mỉm cười rất trìu mến. Đó là tất cả sức mạnh
và niềm hy vọng của người đàn ông xấu số. Mỗi ngày ông
chờ đợi nụ cười ấy, khuôn mặt người đàn bà khi xuất hiện,
mỉm cười và biến mất. Người đàn ông duy nhất còn biết
cười nơi trung tâm bài phong đó đã giải thích cho vị nữ tu
đó như sau :

“Người đàn bà ấy chính là vợ tôi ; trước khi tôi đến đây,


nàng đã tìm đủ mọi cách để chữa chạy cho tôi. Mỗi ngày
nàng lau chùi một khoảng nhỏ trên khuôn mặt tôi và đặt lên
đó một cái hôn. Nhưng cuối cùng nàng không thể giữ tôi
lâu hơn, người ta đã đến đưa tôi vào trung tâm này, nhưng
vợ tôi đã không bỏ tôi, mỗi ngày nàng đến nhìn qua vách
tường và mỉm cười với tôi. Nhờ nàng, tôi biết rằng tôi vẫn
còn sống, nhờ nàng, tôi vẫn còn muốn sống”.

Người vợ đã làm sống lại niềm tin của chồng. Ông ta không
còn thất vọng, không bi quan, không chán đời và còn muốn
sống vì đã được tình thương của người vợ ấp ủ. Chính tình
yêu của người vợ đối với chồng đã làm chứng cho tình yêu
Thiên Chúa đối với loài người.

Người Kitô hữu cũng là chứng nhân của Đức Kitô trong
cuộc sống. Về điểm này, nhaThần học Teilhard de Chardin
đã ví von rất sống động :”Ánh sáng xuyên qua những đám

34
mây, người ta đoán là có mặt trời trên đó. Nhìn vào đời
sống chúng ta, mọi người cũng đoán được có Đức Kitô”.

Người vợ trong câu chuyện kể trên phản ảnh một tấm


gương sáng ngời về lòng thương người, luôn quan tâm tới
người khác, sẵn sàng hy sinh cho tha nhân vì tình yêu Đức
Kitô như thánh Phaolô nói :”Caritas Christi urget me” : Tình
yêu Đức Kitô thúc đẩy tôi.

Mục sư Martin Luther King nói :”Chúng ta không làm chứng


chỉ bằng lời nói, mà còn làm chứng bằng cả cuộc sống của
mình”, đúng như người ta nói :
Lời nói như gió lung lay,
Gương bày như tay lôi kéo.

Có những tâm hồn dần dần được cải hóa nhờ việc làm của
ta, nhưng chính ta lại không ngờ.
J. Basquin nói :”Sống chứng nhân không phải là đuổi theo
các tâm hồn, mà là sống làm sao để các tâm hồn chạy theo
ta”.

Ước gì nhìn vào đời sống chúng ta, mọi người có thể nói
như đã nói về thánh Gioan Vianney :”Tôi đã thấy Thiên
Chúa trong một người”.

2. Chờ đợi ngày Chúa trở lại.


Người Kitô luôn nhớ lời Chúa hứa mà phấn khởi trong cuộc
sống :”Nếu Thầy đi dọn chỗ cho các con, thì Thầy lại đến,
và đem các con về với Thầy, để Thầy ở đâu, các conb cũng
ở đó

35
(Ga 14,3).
Trong suốt Mùa Vọng, Giáo hội hướng lòng chúng ta về
Chúa Kitô như một điểm qui chiếu. Giáo hội hành động
giống như vị “tiền hô” của Ngài. Và cuối cùng Giáo hội giải
thích cho chúng ta phải chuẩn bị đón Ngài như thế nào.

Mùa Vọng nói với chúng ta về việc Đức Giêsu đến. Ngài
không phải chỉ đến trong dòng lịch sử như chúng ta vẫn
mừng và kỷ niệm ngày lễ Giáng sinh, mà còn đến lần chót
vào cuối dòng lịch sử nữa, để lúc ấy sẽ có trời mới đất mới.

Và việc Chúa sẽ trở lại lần thứ hai với loài người trong ngày
chung thẩm, Tin mừng thánh Matthêu còn ghi rõ :”Khi con
người đến với tư cách là vị Vua, Ngài sẽ ngồi trên ngai vàng
của Ngài, và toàn dân thiên hạ đều qui tụ trước mặt Ngài.
Lúc đó Ngài phân chia họ ra thành hai nhóm, y như người
chăn tách chiên ra khỏi dê... Nhà Vua sẽ nói với những
người ở bên phải : Hãy đến, hỡi những kẻ được Cha Ta
chúc phúc ! Hãy đến và lãnh lấy Nước Trời làm cơ nghiệp...
Rồi Ngài nói với những người ở bên trái : Hãy đi khỏi mặt
Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25,34-41).

3. Chờ đợi trong niềm vui.


Đối với Kitô hữu, cuộc sống ở trần gian này là thời gian chờ
đợi Chúa đến. Chúa đến trong ngày chung thẩm và Chúa
đến với ta trong ngày sau hết của đời mình. Đời là một
cuộc lữ hành đi về trời. Trong cuộc lữ hành đó có buồn vui
sướng khổ xen lẫn nhau. Nhưng trong bài Thánh thư hôm
nay, thánh Phaolô khuyên tín hữu Thessalonica :”Anh em
hãy vui mừng luôn mãi”(Tx 5,16).

Tại sao Ngài khuyên chúng ta “hãy vui mừng luôn mãi” ?
Ngài bảo chúng ta hãy vui mừng vì chúng ta đã được

36
Thiên Chúa cứu độ :”Linh hồn tôi nhảy mừng trong Thiên
Chúa Đấng cứu độ tôi”. Ngoài ra, chúng ta là con cái Chúa,
con cái Chúa thì phải vui luôn, vui trong lúc buồn, vui trong
lúc khổ, vui trong thất bại vì tất cả nằm trong thánh ý Thiên
Chúa.

Làm sao chúng ta mang một nét mặt buồn rầu khi chúng ta
đến gần Chúa là nguồn vui, như lời thánh vịnh nói :”Tôi sẽ
bước tới bàn thờ Thiên Chúa, Đấng làm cho tuổi thanh
xuân tôi được vui tươi”. Chúa là nguồn vui, tại sao gần
nguồn vui mà lại buồn ? Ta hãy bắt chước thánh Têrêsa
Hài đồng mà chấp nhận trong vui tươi :
Vâng, con sẽ hát, con còn hát mãi
Dù trăm gai con vẫn hái hoa hồng.
Gai càng nhọn, tiếng con hát càng trong
Gai càng dài, lời ca càng thánh thót.(Têrêsa Hài đồng)

Truyện : kịch sĩ hài lại buồn


Người ta cho biết tại một thành phố kia có một kịch sĩ nổi
tiếng vì tài nhạo cười. Ai buồn đến đâu, khó tính đến mấy
nếu nghe kịch sĩ này pha trò thì thế nào cũng phải bật cười.

Cũng trong thành phố ấy có một nhà tâm lý nổi tiếng chữa
được hầu hết mọi tâm bệnh. Ngày nọ một người đàn ông
đứng tuổi, mặt mày rầu rĩ đến xin gặp nhà tâm lý.
Được nhà tâm lý hỏi nguyên do, ông trả lời :
- Thưa bác sĩ, tôi là một người thiếu hạnh phúc, cuộc đời
tôi quá buồn khổ. Bác sĩ có cách nào làm cho tôi vui được
không ?
Nhà tâm lý hỏi :
- Ông có quá túng thiếu về tiền bạc không ?
Ông đáp :
- Thú thật với bác sĩ, tôi là người khá giầu.

37
Nhà tâm lý hỏi tiếp :
- Thế vợ con ông ra sao ?
Ông ta gật đầu nói :
- Tôi có một người vợ vừa hiền vừa đẹp và mấy đứa con
rất dễ thương.

Sau khi hỏi thêm một vài điều khác, nhà tâm lý đề nghị :
- Tôi nghĩ ông nên đến nghe kịch sĩ nổi tiếng trong thành
phố chúng ta. Thế nào ông cũng quên đi được nỗi buồn
chán và tìm lại được niềm vui.
- Thưa bác sĩ, tôi xin cám ơn lời khuyên của bác sĩ.
Nhưng... Tôi lại chính là kịch sĩ đó !

Nghe câu chuyện có vẻ mâu thuẫn, nhưng thực tế là vậy.


Một con người có biệt tài làm cho người khác dù buồn chán
đến đâu cũng phải vui lên được mà chính mình lại là nạn
nhân của sự buồn rầu. Cái mâu thuẫn đó dễ hiểu vì kịch sĩ
đó ngay trong tâm hồn không có nguồn vui thì làm sao
mình cảm thấy vui được ? Niềm vui đích thực chỉ đến từ
Thiên Chúa. Thiên Chúa là chính niềm vui vĩnh cửu cho
chính Ngài và từ nơi Ngài, niềm vui ấy được trao ban cho
con người.

Chúa Giêsu chính là hiện thân niềm vui của Thiên Chúa.
Từ cung lòng Chúa Cha, Ngài đến báo tin vui cho nhân loại
và giải thoát con người khỏi mọi sầu khổ đau thương gây
nên bởi tội lỗi và sự chết. Ngài đã đem niềm vui đó đến với
nhân trần trong đêm Giáng sinh tại Belem : Vinh danh
Thiên Chúa tên trời, bình an dưới thế cho người Chúa
thương.

Trong Mùa Vọng này, chúng ta hãy đến với Chúa. Gặp gỡ
Chúa là đến với nguồn vui bất tận, có niềm vui Thiên Chúa

38
trong lòng mình, chúng ta sẽ làm cho người khác hưởng
được niềm vui chân thật và bền vững.

Chúng ta hãy nhớ một câu trong bản nhạc rất hay của nhạc
sĩ trứ danh Sebastian Bach :
“Lạy Chúa Giêsu su, xin cho niềm vui của con luôn tồn tại,
để niềm vui đó đem lại niềm vui cho những người khác”.

Lạy Chúa, xin hãy đến : Maranatha, xin viếng thăm và ban
cho chúng con niềm vui Giáng sinh bất tận.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

ÔNG CÓ PHẢI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ KHÔNG?


Chủ đề: "Gioan là người tiền hô cho Đấng Cứu Thế. Hãy sẵn sàng! Đấng
Cứu Thế sắp đến!"
Lm. Mark Link, S.J.

Jim Bishop có viết một tác phẩm nhan đề "Ngày Đức Kitô
chết". Tác phẩm đó có một đoạn văn rất hay mô tả những
gì người Do Thái cảm thấy về việc Đấng Cứu Thế đến.
Đoạn văn đó như sau:

"Việc Đấng Cứu Thế đến là một nỗi ám ảnh dịu ngọt của
một quốc gia. Đó là một niềm vui ngoài sức tưởng tượng,
một hạnh phúc vượt khỏi niềm tin. Đó là niềm an ủi cho
những nông dân làm việc cực nhọc cả ngày đang cùng với
gia đình nằm trên giường chờ giấc ngủ đến. Đó là giấc mơ

39
của người tóc đã hoa râm. Đó là điều mà trẻ em mong
được nhìn thấy từ trên ngọn núi phủ mây trắng hiện đến.
Đó là niềm hy vọng của dân xứ Giuđêa đang bị xiềng xích
tủi nhục. Đấng Cứu Thế luôn luôn là một sự hứa hẹn cho
buổi sáng ngày mai."

Vì thế nên khi Gioan tẩy Giả xuất hiện bên giòng sông
Giođan, dân chúng rất phấn khởi. Gioan bắt đầu sứ mạng
của ông tại một địa điểm không xa Biển Chết. Đó là tụ điểm
bình dân của những đoàn hành hương và các du khách từ
khắp nơi trên thế giới đến. Đó là một nơi tuyệt hảo để mọi
người gặp gỡ nhau và trao đổi những tin tức thế giới. Vì thế
đó là một nơi lý tưởng để Gioan Tẩy Giã bắt đầu rao giảng
và làm phép rửa. Sứ điệp Gioan rất đơn giản và rõ ràng:
"Hãy từ bỏ tội lỗi mình… Hãy dọn đường cho Chúa đến,
hãy làm một lối thật thẳng để Người đi" (Lc. 3, 3-4)

Chẳng mấy chốc, tin tức về hoạt động của Gioan Tẩy Giả
đã đến tai những nhà lãnh tôn giáo ở Giêrusalem. Vì thế họ
cử một phái đoàn gồm các tư tế và các thầy Lêvi đến nói
chuyện với Gioan. Các tư tế đặc biệt lưu ý đến Gioan vì
ông là con của Zacaria, cũng là một tư tế. Trong Do Thái
giáo, điều kiện duy nhất để có thể làm tư tế là phải thuộc
dòng dõi tư tế. Nếu có ai là con cháu của Aaron, thì không
ai có quyền cầm người ấy thực hiện chức năng tư tế của
mình. Do đó các tư tế tại Giêrusalem đặc biệt lưu tâm tới
Gioan, và chắc chắn không hiểu tại sao Gioan lại hành xử
một cách dị thường như thế.

Khi phái đoàn các tư tế đến, họ đi thẳng vào vấn đề và hỏi


Gioan: "Ông là ai?". Gioan biết trong tâm trí họ nghĩ gì, nên
ông nói: "Tôi không phải là Đấng Cứu Thế ". Các tư tế hỏi:
"Nếu ông không phải là Đấng Cứu Thế, vậy ông là ai? Ông

40
có phải là Êlia không?". Đối với chúng ta, câu hỏi sau cùng
này có vẻ khó hiểu. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng Êlia là
một vị tiên tri đã được cất lên trời bằng một chiếc xe rực lửa
vào cuối đời. Nhiều người Do Thái tin rằng Êlia sẽ trở lại
vào thời Đấng Cứu Thế đến. Ngay cả thời nay cũng có một
số người Do Thái dành cho tiên tri Êlia một ghế trống trong
bữa ăn Vượt Qua của họ. Họ cầu mong năm nay là năm
Êlia trở lại để loan báo Đấng Cứu Thế đến. Nhưng Gioan
nói thẳng rằng ông không phải là vị tiên tri đã được cất lên
trời trên chiếc xe lửa trước đó mấy thế kỷ.

Họ hỏi: "Vậy ông có phải là một vị tiên tri không?" Gioan lại
trả lời: "Không!Tôi không phải là một vị tiên tri giống như
Giêrêmia hay Êzêkiel". Họ hỏi tiếp: "Vậy thì ông là ai?"
Gioan trả lời bằng câu nói của Isaia: "Tôi là tiếng kêu gào
trong sa mạc: 'Hãy dọn đường cho ngay thẳng để Chúa
đến'". Muốn hiểu rõ câu nói đó của Gioan Tẩy Giả, ta nên
nhớ rằng những con đường ngày xưa chỉ có một ít là trải
sỏi hoặc đá, còn đa số là những con đường lầy lội. Khi một
vị vua muốn đi thăm một tỉnh nào đó trong vương quốc của
mình, ông sẽ sai một người "tiền hô" tới đó trước để báo
cho dân chúng lấp đầy những hố, những vũng bùn, và làm
cho những con đường thẳng thắn lại. Người "tiền hô" còn
có một điều nữa phải làm là dạy cho dân chúng những nghi
thức tiếp tân thích hợp để đón nhà vua tới. Gioan Tẩy Gỉa
cũng lưu ý tới thái độ tiếp tân cần phải có để đón Chúa tới.
Ông nói: "Hãy ăn năn hối cải tội lỗi mình và hãy lãnh nhận
phép rửa". (Mc. 4)

Tóm lại chúng ta có thể diễn đạt toàn bộ sứ điệp của Gioan
như sau: "Tôi không phải là Đấng Cứu Thế, nhưng tôi là
người 'tiền hô' cho Ngài. Hãy chuẩn bị, vì Ngài sắp đến.
Gioan đã làm những gì mà mọi vị lãnh đạo tôn giáo phải

41
làm. Ông không để cho người ta chú ý tới ông, mà hướng
mọi sự chú ý của họ vào Đức Giêsu.

Đó chính là những gì Giáo Hội làm suốt Mùa vọng. Giáo


Hội hướng mọi chú tâm của chúng ta vào Đức Giêsu. Giáo
Hội hành động giống như vị "Tiền hô" của Ngài. Và cuối
cùng Giáo Hội giải thích cho chúng ta biết chuẩn bị đón
Ngài như thế nào.

Mùa vọng nói với chúng ta về việc Đức Giêsu đến. Ngài
không phải chỉ đến trong giòng lịch sử như chúng ta vẫn
mừng và kỷ niệm vào ngày Giáng Sinh, mà Ngài còn đến
lần chót vào cuối dòng lịch sử nữa.

Tin Mừng Matthêu có nói về lần đến cuối cùng đó: "Khi Con
Người đến với tư cách một vị vua, Ngài sẽ ngồi trên ngai
vàng của Ngài, và toàn dân thiên hạ sẽ qui tụ trước mặt
Ngài. Lúc đó Ngài phân chia họ ra làm hai nhóm, y như
người chăn tách chiên ra khỏi dê… Nhà vua sẽ nói với
những người ở bên phải: Hãy đến hỡi những kẻ được Cha
Ta chúc phúc! Hãy đến và hãy lãnh lấy nước trời làm cơ
nghiệp… Rồi Ngài nói với những người ở bên trái: Hãy đi
khỏi Ta và vào lửa đời đời" (Mt. 25, 34-41).

Những bài đọc trong Thánh lễ Chúa Nhật này muốn nói:
Gioan không phải là Đấng Cứu Thế, ông chỉ là người "Tiền
hô" của Ngài. Gioan dạy cho chúng ta cách chuẩn bị ngày
Ngài đến vào cuối lịch sử để làm quan án xét xử chúng ta.
Để kết thúc, chúng ta hãy ăn năn thống hối như khi lãnh
nhận bí tích hoà giải. Xin các bạn hãy thinh lặng và cùng
cầu nguyện với tôi:

42
"Lạy Cha chí nhân, con xin trở về với Cha và nói giống như
người con hoang đàng: con đã lỗi phạm đến Cha, con
không đáng gọi là con Cha nữa.

Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc nhân loại, con cầu
nguyện với Chúa như người trộm lành mà Chúa đã hứa
nước thiên đàng ngày xưa: Lạy Chúa xin hãy nhớ đến con
trong nước của Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu, con thành
tâm cầu khẩn Ngài, Xin hãy thanh tẩy tâm hồn con và giúp
con bước đi như con cái của sự sáng".

Lm. Mark Link, S.J.

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG


Lm. Augustine, SJ

Yêu thương là phục vụ


Hai ông bà Ðoàn Tư Hộ (Santi Rillô) có tám người con. Cả
tám đều ngoan ngoãn dễ bảo khi còn nhỏ. Nhưng khi lớn
lên, chúng chịu ảnh hưởng bạn bè, trở nên xa lạ với gia
đình.

Hai lần ông bà khuyên bảo được các con đi dự cuộc họp
thành phố của Ðức Maria dành cho giới trẻ, nhưng sự việc
đã chấm dứt ở đó. Mỗi đứa con là một thế giới riêng mà
sinh hoạt tôn giáo xem ra chẳng mang lại một biến chuyển
nào.

Ông Tư Hộ không muốn nêu tên người con nào, nhưng về


một người con gái ông không ngại nêu chi tiết về những

43
khó khăn ông gặp phải để biểu lộ tình yêu mà ông dành cho
người con này. Ông chia sẻ như sau:

"Người con gái ấy của chúng tôi sau khi tốt nghiệp đại học
đã xin đi làm bên Hoa Kỳ. Chỉ sau hai năm Xuyên (tạm gọi
như vậy) trở về Phi Luật Tân, chỉ vì chán với công việc bên
Mỹ. Thời gian tiếp theo, Xuyên đi học tạp nham, như cắt
may, ngoại ngữ tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha. Thậm chí,
có lần Xuyên ghi tên học làm thư ký nữa!

Chẳng bao lâu sau đó Xuyên đánh bạn với lớp người xì ke,
đêm về nhà trễ. Chúng tôi có trách mắng, Xuyên cũng bỏ
ngoài tai và còn tỏ ra giận dữ hơn trước.

Khi ấy Xuyên đã 25 tuổi. Tôi chẳng biết xử trí ra sao nên


đem câu chuyện đau lòng này bàn với một người bạn thân
ở Tổ Aám. Lời khuyên mà tôi nhận được là: "Hãy cứ tiếp
tục yêu thương Xuyên hơn nữa. Hãy yêu và phó thác mọi
sự nơi Mẹ Maria."

Ðó chính là điều vợ chồng chúng tôi rắp tâm thực hiện, tức
là yêu thương Xuyên hơn nữa cách vô điều kiện. Khi ấy vợ
tôi có việc phải đi Mỹ. Thế là tôi một mình ở nhà tìm đủ
cách để tỏ tình thương đối với Xuyên. Tôi hiểu yêu thương
là phục vụ nên cần phải quên mình đi. Ngày nào tôi cũng
xuống bếp lo việc bếp núc thay cho nhà tôi. Tôi giặt đồ cho
Xuyên. Ban sáng tôi dậy sớm nấu bữa sáng cho Xuyên. Khi
nước nhà máy yếu không đủ sức vọt, tôi xách sô nước lên
lầu cho Xuyên dùng. Cứ như vậy suốt sáu tháng, tôi tiếp
tục biểu lộ tình yêu qua những việc thường ngày, mặc dầu
nhiều lúc tôi cảm thấy mình không được khoẻ lắm.

44
Một hôm Xuyên đến nói với tôi: "Có khi tốt hơn con nên
sang bên Canada thay vì ở Phi Luật Tân? Thế là tôi đã
chiều theo mà sắp xếp mọi sự để Xuyên sang ở bên
Canada. Tôi cũng mua những đồ Xuyên cần cho chuyến đi
này.

Chứng từ trở nên đáng tin


Sau khi Xuyên ra đi, tôi đã phải nằm bệnh viện một tuần vì
kiệt sức do cố gắng chăm sóc Xuyên. Nhưng khi tôi xuất
viện, vợ chồng tôi đã nhận được lá thư bất ngờ sau đây:

Ba rất quí mến, con cám ơn ba về tất cả những gì ba đã


dành cho con. Con được thôi thúc rất nhiều do việc ba
hằng cố công giúp đỡ và dẫn dắt con. Tất cả những điều đó
giờ đây trở nên tươi đẹp dưới cái nhìn của con và con cảm
nhận được sự hiện diện của Chúa ngang qua ba. Con xin
hiệp lòng hiệp ý với ba nguyện xin Chúa cho biết Người
hiện muốn cha con ta phải làm gì tới đây. Ba đã cho con
hơn điều mà người cha có thể cho con mình. Ðó là điều
con sẽ luôn giữ làm kho báu để luôn nhận Chúa là quan
trọng hơn hết trong đời con. Con đã nhận ra tất cả những
điều vừa nói và đã hình thành điều chọn lựa ấy nhờ ba dẫn
dắt. Con cám ơn ba rất nhiều. Con yêu ba."

Từ ba năm nay Xuyên vẫn ở thành phố Ðông Ðô (Toronto),


Canada, vừa đi học vừa đi làm. Xuyên năng viết thư về nhà
để biểu lộ tình yêu và lòng hiếu thảo.
Xuyên cũng tham gia Tổ ấm tại Ðông Ðô và giúp giới trẻ
của Phong Trào.

Gioan Tẩy Giả và những người chứng


Lời chia sẻ vừa trích của ông Tư Hộ chẳng thể ăn khít với
nội dung của bài Tin Mừng hôm nay, Chắc chắn ơn sám

45
hối của cô Xuyên, con ông phải do Chúa tác động. Nhưng
cách nào đó chính Chúa đã khơi dậy nơi ông một tình yêu
bất khuất làm cho con ông được khắc phục mà nhận ra sự
hiện diện của Chúa nơi ông.

Còn bài Tin Mừng hôm nay chủ yếu cho thấy Phụng Vụ
Chúa Nhật 3 Mùa Vọng, muốn chính ông Gioan Tẩy Giả lên
tiếng tự giới thiệu ông là ai và Ðức Giêsu là ai
Ông là tiếng người hô trong hoang địa:
Hãy sữa đường cho thẳng để Ðức Chúa đi.
Như ngôn sứ Isaia đã nói (Mc 1,23). Còn Ðức Giêsu mới là
nhân vật chính: "Ðấng ấy là Ðấng đến sau tôi và tôi không
đáng cởi quai dép cho Người." (c.27)

Nhưng tác giả Tin Mừng thứ bốn luôn đưa ông Gioan Tẩy
Giả ra sân khấu trong một khung trời sáng tạo. Ở lời tựa
cũng như ở khởi đầu của Sách Tin Mừng thứ bốn, ông
Gioan Tẩy Giả đều là người chứng.

Lời tựa gồm 18 câu mà bài Tin Mừng hôm nay đề cập hai
câu 6-8 mà thôi. Lời tựa khởi sự với lời khởi đầu của sách
Sáng Thế, tức Lúc khởi đầu (in the beginning). Ở đâu Ngôi
Lời được nhìn nhận là Thiên Chúa (Ga 1,1). Nhờ Ngôi Lời,
vạn vật được tạo thành và không có Người thì chẳng có gì
được tạo thành. Ðiều đã được tạo thành ở nơi Người là sự
sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại (cc. 3-4). Thế
mà Gioan vẫn được giới thiệu là "người làm chứng về ánh
sáng" (c.7). Tại sao? Vì trong kế hoạch cứu độ, Thiên Chúa
đã muốn dùng người chứng thay vì thiên thần làm chứng
để con cháu Ađam tin mà được sống.

Từ lời tựa ấy Gioan Tẩy Giả bước vào chương đầu sách
Tin Mừng để làm chứng. Ở đây ông xuất hiện, giữa công

46
trình tạo dựng như thấy ở đầu sách Sáng Thế. Bảy ngày
tạo thành được trình bày như sau.

Ngày thứ nhất (cc.19-28):


Người chứng: Gioan Tẩy Giả ngỏ lời cùng một số thầy Tư
tế và Lêvi từ Giêrusalem.
Chứng từ: bản thân ông không phải là Ðức Kitô, cũng
không phải là ngôn sứ Eâlia (Mal 3,23) mà người Do thái
từng mong đợi. Cũng không phải là vị ngôn sứ nói đến
trong Ðệ Nhị Luật 18,15-18, nhưng là "Tiếng người kêu
trong hoang địa," chẳng đáng cởi quai dép cho Ðấng đến
sau ông.

Ngày thứ hai (cc.29-34):


Người chứng: Gioan Tẩy Giả khi thấy Chúa Giêsu.
Chứng từ: cho biết Ðức Giêsu Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá
tội trần gian, Ðấng có Thánh Thần ngự xuống và là Ðấng
làm phép rửa trong Thánh Thần; Người là Ðấng được
Thiên Chúa tuyền chọn.

Ngày thứ ba (cc.35-39):


Người chứng: là Gioan Tẩy Giả ngỏ lời cùng hai môn đệ
của ông với kết quả là họ đã trở nên môn đệ của Ðức
Giêsu.
Chứng từ: được nêu: "Ðây Chiên của Thiên Chúa" có ý nói
Ðức Giêsu là Chiên của Lễ Vượt Qua; hoặc Người tôi tớ
chịu đau khổ cách lặng lẽ như chiên bị xén lông trong Is
53,7.

Ngày thứ bốn (?) (cc.40-42):


Người chứng: là Anrê và Simon.
Chứng từ: "Chúng tôi đã tìm thấy Vị Cứu Tinh"

47
Ngày thứ năm (cc.43-51):
Chứng nhân: Philip ngỏ lời với Nathanaen.
Chứng từ: Ðấng mà Môsê và các ngôn sứ đã loan báo,
chúng tôi đã gặp.

Ngày thứ sáu


Chứng nhân: Nathanaen
Chứng từ: "Ngài là Con Thiên Chúa; Ngài là vua Ít-ra-en."

Ngày thứ bảy (Ga 2,1-11)


Chứng nhân: Phép lạ của Ðức Giêsu tại tiệc cưới Cana.
Chứng từ: Ðức Giêsu đã mạc khải vinh quang Người cho
các môn đệ Người (2,11).

Rõ ràng ông Gioan Tầy Giả là người chứng nổi bật: ba lần
làm chứng với ba chứng từ quan trọng khác nhau. Tin
Mừng Matthêu đã giới thiệu Ðức Giêsu là Ðấng cứu dân
mình khỏi tội (1,21). Gioan Tẩy Giả đi xa hơn khi làm chứng
Người thực hiện việc xóa tội trần gian với tư cách là chiên
của Thiên Chúa để ám chỉ về người tôi tớ của Thiên Chúa
chịu đau khổ để đền tội cho dân (x. Is 53,6-10)

Riêng về bản thân, ông Gioan Tẩy Giả khẳng định ông chỉ
là tiếng người kêu trong hoang địa (Gz 1,23.27). Oâng
không chỉ khiêm nhường nói rằng mình chẳng đáng cởi
quai dép cho Ðấng đến sau ông là Ðức Giêsu, mà chính
ông còn giới thiệu đề hai môn đệ của ông đi theo Ðức
Giêsu (c.37). Lời chứng cuối cùng của ông là Ðức Giêsu
phải nổi bật lên, còn ông phải lu mờ đi (x. 3,30).

Sau Người chứng Gioan Tẩy Giả, là cả một loạt những


người chứng khác xuất hiện nhờ tiếp cận với Ðức Giêsu.
Ðiều được hiểu ngầm là họ cũng phải theo con đường của

48
người chứng thứ nhất. Cả họ nữa cũng phải theo con
đường từ bỏ mình là con đường mà Gioan Tẩy Giả đã đi,
để điều họ làm chứng trở nên đáng tin.

Quả thật lời chia sẻ của ông Tư Hộ cho thấy lời chứng của
ông đáng tin đối với người con gái của ông vì chính ông đã
đi trên con đường phục vụ trong khiêm hạ là con đường mà
Gioan Tẩy Giả đã đi.

Một số câu hỏi gợi ý


1. Ðọc lời chia sẻ của ông Tư Hộ, bạn tâm đắc được điều
gì về điều ông nói: "Tôi hiểu yêu thương là phục vụ nên
phải quên mình đi" và ông đã quên mình như thế nào?
2. Bạn tâm đắc được gì về thư cô Xuyên gởi ông Tư Hộ?
3. Bạn hãy kể ra những người chứng và những chứng từ
của họ về Ðức Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay.

Lm. Augustine, SJ

CHỨNG NHÂN CHO ĐỨC KITÔ


Ga 1, 6-8.19-28
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,CSsR
Chúa nhật 3 Mùa Vọng gợi lên cho chúng ta hai hình ảnh
thật ấn tượng, hai tư tưởng thật quí hóa: một là tư tưởng
vui mừng, hân hoan, phấn khởi vì thời cứu độ đầy khích lệ,
đầy an ủi đã gần kề chúng ta; hai là hình ảnh kham khổ,
khiêm tốn của Gioan Tẩy Giả, khiến nhiều người đồng thời
thắc mắc, tự đặt vấn đề Gioan Tiền Hô là ai vậy ?
Cuộc đời của các Kitô hữu là cuộc hành trình tiến về Nước
Trời, do đó, con người vẫn còn lo âu, vẫn còn thử thách,
vẫn còn tội lỗi. Chúa không miễn trừ cho con người những
điều khó khăn ấy, nhưng trong mọi hoàn cảnh, Chúa nói
chúng ta hãy vui lên. Bởi vì Chúa đang ở giữa chúng ta để
chia sẻ nỗi lo âu và hy vọng, làm cho những đau khổ, cũng
49
như niềm vui của chúng ta có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
Tuy nhiên, sự an bình chỉ có được nơi người mộn đệ có
niềm tin, lòng khiêm tốn cậy dựa, tín thác vào Chúa. Gioan
Tẩy Giả đã nêu gương cho chúng ta, cho mọi người về đức
tin sống động, sự khiêm tốn tuyệt hảo, nên Ông đã trở nên
Đấng Tiền Hô và trở nên cao trọng trong Nước Thiên Chúa.

THỜI GIAN GIÚP NHÂN LOẠI NHẬN RA LỜI HỨA CỦA


THIÊN CHÚA ĐƯỢC THỰC HIỆN NƠI LỊCH SỬ CON
NGƯỜI :
Thời gian là một thực tại mà tất cả mọi người sống trong
lịch sử đều kinh nghiệm. Dòng đời luôn trôi qua, thời gian,
bốn mùa thời tiết cứ tiếp tục xoay vần, luân chuyển.Tuy
nhiên, thời gian lại là một cái gì đó con người khó lòng định
nghĩa, khó lòng xác định. Con người chỉ biết được mình
được sinh ra tại một nơi chốn, trong một đất nước, trong
một thời giờ và thời gian nhất định. Chỉ có một mình Thiên
Chúa là thoát ra ngoài những ràng buộc, những ấn định
của thời gian, Ngài sống ngoài những giới hạn của thời
gian, bởi vì Ngài sống trong cõi đời đời, không có quá khứ
và tương lai. Ngài luôn ở trong cõi vĩnh cửu…Thiên Chúa
tạo dựng vũ trụ, muôn loài muôn vật và con người. Chính
trong khoảng khắc của thời gian hay ngày giờ mà Thiên
Chúa dựng nên thế giới này, thời gian đã trở thành một
thực tại không ai có thể chối cãi được. Do đó, chúng ta
nhận ra rằng với lời mời gọi của Abraham đi tới vùng Đất
Hứa vào một ngày đặc biệt trong thời gian, lịch sử cứu độ
của con người, của thế giới bắt đầu. Thiên Chúa đã ban
cho Abraham qua lời hứa của Ngài mà Đấng Cứu Thế đã
sinh ra bởi dòng tộc Vua Đavít trong một nơi chốn và trong
một thời gian nhất định:” Gioan Tẩy Giả là Vị Tiền Hô của
Đấng Cứu Độ và nhờ Gioan mà nhân loại nhận ra Ngài khi
Ngài đến “.

50
GIOAN TIỀN HÔ LÀ CHỨNG NHÂN CỦA ĐỨC KITÔ:
Thánh Gioan trong chương 1,6-8 đã viết: ” Có một người
được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm
chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông
mà tin. Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm
chứng về ánh sáng “. Sự Sáng là Đấng Cứu Độ mà Gioan
chính là người được diễm phúc làm chứng cho Chúa,
Gioan đã là chứng nhân trung thành nhất, kiên trì và hoàn
hảo nhất cho Đấng Cứu Thế.Gioan Tiền Hô làm chứng cho
Đấng Cứu Thế bằng lời nói, bằng gương sáng và bằng
hành động của Người. Gioan đã sống đời sống hết sức khổ
hạnh, Người đã rao giảng sự sám hối, ăn năn, và qua việc
làm chứng của Người: ” Tôi là tiếng kêu trong hoang địa:
Hãy sửa cho ngay đường Chúa đi “ ( Ga 1, 23 ). Gioan Tẩy
Giả chỉ là Đấng Tiền Hô và báo trước ngày, thời gian Chúa
xuất hiện, sau đó Người rút lui vào bóng tối:” Ngài phải lớn
lên, còn tôi phải nhỏ lại “. Gioan chính là người nô bộc của
Đấng Cứu Thế và Đức Kitô là chủ, là Chúa và là Thầy.

CHÚNG TA CŨNG PHẢI LÀ CHỨNG NHÂN CHO CHÚA:


Như thánh Gioan Tiền Hô, mỗi Kitô hữu cũng phải là chứng
nhân cho Đức Kitô trong cuộc sống của mình. Bởi vì, Chúa
Cứu Thế đã tới trần gian như thánh Gioan viết:” Ngôi Lời là
ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi
người “ ( Ga 1, 9 ). Con Thiên Chúa đã thực sự làm người
và ở giữa thế gian:” Người ở giữa thế gian, và thế gian đã
nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người “( Ga
1, 10 ). Chính vì thế gian không nhận biết Người mà nhân
loại và mỗi Kitô hữu chúng ta phải làm chứng cho sự hiện
của Người. Chúng ta phải như Gioan Tiền Hô minh chứng
chính Đấng Cứu Thế là Con Thiên Chúa và Đức Kitô đang
sống với, sống vì, sống cho chúng ta, sống cho nhân loại.

51
Và cũng như các Tông Đồ xưa, chúng ta phải làm chứng: ”
Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh
quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn
ân sủng và sự thật “( Ga 1, 14 ). Các Tông Đồ đã nhìn thấy
vinh quang của Đức Kitô ở một vài thời điểm trong cuộc đời
trần thế của Người ( Ga 2, 11 và Lc 9, 32 ). Chính các Tông
Đồ đã nhìn thấy vinh quang trong cuộc Thương Khó và
Phục Sinh của Đức Kitô. Các Ngài đã làm chứng cho Đức
Kitô Nagiarét chết và phục sinh, cũng như Gioan Tẩy Giả
đã làm chứng cho chúa Giêsu khi Ngài đến và xuất hiện
giữa trần gian, chúng ta cũng phải làm chứng cho Chúa
Giêsu như các Ngài đã làm chứng.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ:


Chúa đã đến trần gian, đã chết và sống lại vì yêu thương
con người. Chúng ta đang trên con đường hành trình lữ
thứ, chúng ta phải năng lắng nghe và thực thi lời Chúa qua
đời sống cụ thể hằng ngày. Làm chứng cho Chúa bằng
gương sáng và bằng những hành động bác ái cụ thể trong
đời sống mỗi người chúng ta. Bí tích Thánh Thể là lương
thực nuôi sống chúng ta và là bằng chứng chúng ta tôn
kính, thờ lạy và làm chứng cho Ngài.

Lạy Chúa, xin hãy dạy chúng con sống thánh thiện để được
rước Chúa và siêng năng, cần mẫn rước Chúa mỗi ngày.
Xin làm cho tâm hồn chúng con trở nên đền thờ sống động,
xứng đáng cho Chúa ngự trị. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:


1. Chúa nhật 3 Mùa Vọng day chúng ta những gì ?
2. Tại sao Gioan Tẩy Giả lại là người chứng quan
trọng?

52
3. hánh Gioan Tiền Hô đã làm gì để cho nhiều người
nhận ra Chúa Cứu Thế đến và xuất hiện ?
4. Thái độ nào chúng ta phải có để làm chứng cho Đức
Kitô.

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi,CSsR

NI M VUI TRONG CHÚA


Lm. Anphong Trần Đức Phương

Chúa Nhật III Mùa Vọng thường được gọi là ‘Chúa Nhật
Hãy Vui lên’ ‘Gaudete’ (tiếng Latinh), ‘Rejoice’ (tiếng Anh).
Ngay trong câu đầu Ca Nhập Lễ là lời mời gọi của Thánh
Phaolô: “Anh em hãy vui lên trong Chúa! Tôi nhắc lại: Anh
em hãy vui lên, vì Chúa đã gần đến!” (Phil. 4,4.5).

Bài Đọc I (Isaia 61, 1-2;10-11): Tiên tri Isaia nói đến “Niềm
vui của Đấng được xức Dầu Thánh và được sai đi đem Tin
Mừng cho người nghèo khó, băng bó những tâm hồn đau
khổ… Và tôi hớn hở vui mừng trong Chúa vì Người đã mặc
cho tôi niềm vui ơn cứu độ và sự công chính!”

Bài Đọc II (1 Thess. 5, 16-24): Thánh Phaolô mời gọi chúng


ta, các tín hữu của Chúa “Hãy vui luôn trong Chúa với tâm
hồn cầu nguyện và cảm tạ Thiên Chúa … Tránh xa sự dữ
dưới mọi hình thức, và sống vẹn toàn chờ đón Chúa đến…”
Bài Phúc Âm (Gioan 1, 6-8; 19-28) nói đến vai trò của
Thánh Gioan Tẩy Giả. Ngài khiêm tốn xác nhận Ngài không
phải là Elia, cũng không phải là Tiên Tri, cũng không phải là
Đấng Kitô, nhưng Ngài được sai đến là để làm chứng cho
Ánh Sáng, cho Đấng Kitô. Ngài ban Phép Rửa Thống Hối

53
để dọn lòng dân chúng sám hối lỗi lầm trở về với Chúa là
Đấng Cứu Độ.

Trước tình trạng của thế giới hôm nay: nào là khủng hoảng
kinh tế toàn cầu, ngay cả tại Hoa Kỳ; các cuộc khủng bố
vẫn xảy ra tàn khốc, như ở Mumbai (Ấn Độ) từ ngày
26/11/08 kéo dài mãi đến ngày 29/11/08, gây kinh hoàng
cho cả thế giới; những cuộc nổ bom tự sát ở Iraq, những
biến động chính trị ở Thái Lan, cuộc chiến ở Congo, ở
Nigeria; cảnh bão lụt khủng khiếp vừa qua ở Việt Nam cùng
với bao lo lắng người dân Việt phải hứng chịu, nhất là ở
Thái Hà (Hà Đông)…Vậy làm sao chúng ta có thể vui
được?

Tuy nhiên, Thánh Phaolô vẫn kêu gọi tín hữu của Chúa:
“Hãy vui lên trong Chúa!” và Ngài còn nhấn mạnh: “Tôi
nhắc lại: Anh em hãy vui lên trong Chúa!” (Phil. 4,4). Trong
lá thư gởi tín hữu Thexalonica Ngài cũng kêu gọi: “Anh em
thân mến, anh em hãy vui mừng luôn…” (1 Th. 5,16). Khi
Thánh Phaolô kêu gọi như vậy, không phải là lúc Ngài cũng
như các tín hữu lúc đó đang gặp mọi sự tốt đẹp. Trái lại, khi
viết như vậy thì chính Ngài đang phải sống trong ‘xiềng
xích, tù tội’ trên đường bị giải nộp về Rôma, và trong lòng
Ngài cũng đang mang nặng bao nỗi âu lo cho Cộng đoàn
Dân Chúa (Phil. 1,12…). Trong một đoạn khác, Ngài còn
cho ta thấy: “Nếu tôi phải đổ máu ra hợp làm một với hy lễ
anh em lấy đức tin mà dâng lên Chúa, thì tôi vui mừng và
cùng chia sẻ niềm vui với tất cả anh em. Anh em cũng vậy,
anh em hãy vui lên và cùng chia sẻ niềm vui với tôi” (Phil.
2,18).

Thế giới chúng ta đang sống, mọi nơi mọi thời đều có chiến
tranh, loạn lạc, những tai ương, những khốn khó. Nếu là

54
những người vô thần, thì chúng ta thực đáng bi quan, chán
nản. Nhưng chúng ta là những tín hữu của Chúa, thì dù
trong hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phó thác nơi Chúa. Đó
là niềm vui trong Chúa là Cha chúng ta. Chúng ta vẫn phải
chia sẻ những khổ đau của anh chị em chúng ta, như
Thánh Phaolô bảo chúng ta: “Hãy vui với người vui, khóc
với người khóc!” Nhưng chúng ta không chán nản, thất
vọng; trái lại luôn vui trong niềm vui phó thác của con cái
Chúa. Đó là niềm vui siêu nhiên mà chỉ có những tâm hồn
biết sống kết hợp với Chúa và biết sống yêu thương nhau
mới có thể cảm nghiệm được. Niềm vui trong Chúa sẽ giúp
chúng ta can đảm chịu đựng mọi thử thách, mọi khổ đau,
bệnh tật, kể cả trong hoàn cảnh bị ‘xiềng xích, tù tội’ như
Thánh Phaolô (đặc biệt chúng ta đang sống trong Năm
Thánh kỷ niệm sinh nhật 2000 của Thánh Phaolô).

Với tinh thần đó, chúng ta mới có thể cảm nghiệm được
những tâm tình của Mẹ Maria, khi chúng ta hát ‘Bài Ca
Cảm Tạ’ trong phần Đáp Ca trong Thánh lễ Chúa Nhật này:
“ Linh hồn tôi ngợi khen Chúa và lòng trí tôi hớn hở vui
mừng trong Chúa Đấng cứu độ tôi…” (Luca 1,46…).

Xin cho ‘Niềm Vui Trong Chúa’ của Mùa Vọng nâng đỡ
chúng ta, nâng đỡ những người đang gặp bao khổ đau trên
thế giới; đặc biệt những anh chị em chúng ta ở Việt Nam
hiện nay.

Lm. Anphong Trần Đức Phương

55
CÓ MỘT NGƯỜI Ở GIỮA ANH EM
Ga 1,6-8. 19-28
Lm. An Phong, OP

Trong mùa Vọng, ba nhân vật vẫn được nói đến luôn, đó là
: Ðức Maria, ngôn sứ Isaia và Gioan - người làm phép Rửa.
Bài Tin mừng hôm nay đề cập đến nhân vật thứ ba vừa nói
ở trên, với một chứng từ rõ ràng về con người sa mạc ấy.
Gioan loan báo Ðấng đang đến, Gioan chỉ cho thấy Ðấng
ấy chính là Ðức Giêsu; và một hệ luận tất nhiên : Gioan
nhận ra mình không xứng đáng cởi xăng-đan cho Người.

Cùng với Gioan, mùa Vọng hẳn là mùa loan báo và là mùa
chỉ cho thấy; đồng thời mùa Vọng là mùa nhận ra mình
không xứng đáng.

Thiên Chúa vốn là một vị Thiên Chúa ẩn giấu. Người ta đã


hao tổn biết bao giấy mực để cố khám phá vị Thiên Chúa
ẩn giấu này. Gần 2000 năm lịch sử trước Chúa Giáng sinh,
người ta mặc sức hình dung Ngài với những dung mạo
khác nhau. Với Abraham, Ngài không có tên; Ngài là "sự sợ
hãi của Isaác" (St 31,42), là "Ðấng Tối Cao của Giacóp" (St
49,24)... Với Isaia, Ngài là "Người Tôi Tớ đau khổ"...

Như thế, Ngài luôn luôn và vẫn là một vị Thiên Chúa cần
được loan báo và cần được chỉ cho thấy. Ðôi lúc người ta
phác họa chân dung một Thiên Chúa sai lạc, hoặc chỉ dò ý
tưởng riêng của mình. Hẳn lúc đó, nguời ta sẽ nhận được
một câu trả lời "tôi không phải như là các bạn nghĩ đâu";
hoặc "có một người ở giữa anh em mà anh em không nhận
ra".

56
Như thế, cùng với Gioan, chúng ta hẳn phải loan báo và chỉ
cho người khác thấy một vị Thiên Chúa tình yêu; Loan báo
và chỉ cho thấy Thiên Chúa đang đến. Ngài đang ẩn giấu
nơi người nghèo, người đau khổ, những phụ nữ "đứng
đường"... bởi Ngài là tình yêu, là niềm cảm thông sâu xa
thân phận con người.

Như Gioan, nhận ra mình không xứng đáng, đó là một sự


không xứng đáng trước vị Thiên Chúa tình yêu bao la; ta
đấm ngực "lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng", nghĩa là dám
nhận ra mình còn "những điều thiếu sót", chưa làm những
điều phải làm để gia tăng tình yêu. Victor Hugo đã có lần
lên tiếng cảnh tỉnh : Ngày nào chúng ta không thắp lên
ngọn lửa sưởi ấm, ngọn lửa tình yêu, chắc chắn sẽ có
người chết rét".

Như thế, cùng với Gioan, chúng ta cất tiếng cao rao tình
yêu Thiên Chúa bao la và cố gắng sống bác ái với mọi
người.

Lạy Chúa Giêsu,


Hẳn cũng có lần con đấm ngực, dằn vặt tâm hồn
và tha thiết mong Chúa giải thoát nỗi khốn cùng của con.
Hẳn cũng bao lần con đứng trước hang đá, cầu xin Chúa
mau đến;

Nhưng hình như con chưa dám "đóng vai Chúa" để đến với
những người nghèo khó, khổ đau chung quanh con. Và
hình như con chưa nhận ra Chúa là tình yêu, Chúa đang
mời gọi tình yêu nơi chính tâm hồn của con. Lạy Chúa
Giêsu, xin Ngài trở nên tình yêu trong con và đốt nóng tâm
hồn của con bằng tình yêu của Chúa.

Lm. An Phong, OP

57
TIN MỪNG GIẢI PHÓNG
Ga 1,6-8. 19-28
Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP
TIN MỪNG đem lại niềm vui cho toàn thể vũ trụ. Nghe lời
Chúa hôm nay, chúng ta sẽ hiểu tại sao Kitô giáo là một
đạo Tin Mừng, đem niềm vui đến cho toàn thể nhân loại.
Ðức Giêsu đã xuống trần gian để mạc khải tình Cha yêu
thương hết mọi người, không trừ ai. Ðúng hơn, "Ngôi Lời
hằng hữu đời đời đã nhập thể làm người Á châu," (ÐGH
Gioan Phaolô II :VietCatholic:8/12/1999) để đem TIN
MỪNG giải phóng đến cho miền đầy cơ chế bất công nhất
thế giới.

DỌN ÐƯỜNG CHO CHÚA ÐI


Cho đến hôm nay, Ðức Giêsu vẫn còn là một bóng mờ trên
miền đất bao la đó. Hơn khi nào, cần phải nhìn Ðức Phật,
Khổng Tử, Lão tử v.v. như những sứ giả dọn đường cho
Chúa đến với dân Người. Nhưng hơn ai hết, Gioan Tẩy giả
là vị tiền hô lớn nhất. Hôm nay "ông đến để làm chứng, và
làm chứng về ánh sáng, để mọi người nhờ ông mà tin" (Ga
1:7). Lời chứng Gioan Tẩy giả thật là hùng hồn và ảnh
hưởng. Ông ý thức rất rõ sứ mệnh và vai trò của mình. Ông
chỉ là trung gian giới thiệu Ðức Giêsu cho muôn dân, chứ
không phải là người muôn dân trông đợi. Bởi vậy khi bị
những người thuộc phái Pharisêu bắt bí, ông đã khẳng
định: "Tôi là tiếng người hô trong hoang địa : Hãy dọn
đường cho thẳng để Ðức Chúa đi" (Ga 1:23; Is 40:3).
Những người Pharisêu "cứ gặng hỏi xem Gioan Tẩy giả là
ai, nhưng Gioan lại muốn cho họ biết Ðức Giêsu là ai" (Life
Application Study Bible:1991).

58
Dọn đường cho Chúa đi vào lòng người. Chúa là nguồn
bình an và hoan lạc sẽ đem đến cho nhân loại một mùa
xuân rực rỡ. Mấy ai phát hiện được mùa hồng ân đang đến
? Bởi vậy Gioan mới nhắc nhở mọi người : "Có một vị đang
ở giữa các ông mà các ông không biết" (Ga 1:26). Chính vì
thế, vai trò Gioan cực kỳ quan trọng. Ngoài Gioan, không ai
có thể thấy được Ðức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa,
Ðấng xóa tội trần gian." (Ga 1:29) Ông đã đến như một
chứng nhân TIN MỪNG. Chính ông đã chỉ cho các môn đệ
thấy TIN MỪNG đích thực là Ðức Giêsu.

"Ông không phải là ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng
về ánh sáng" (Ga 1:8). Chính khi làm chứng như thế, ông
mới giữ trọn được niềm vui cho mình và các môn đệ. Ðức
Giêsu đã không hề "dập tắt thần khí" (1Tx 5:19) nơi chứng
từ Gioan Tẩy giả, ngay cả khi ông hoài nghi về sứ vụ của
Người (Mt 11:2-6; Lc 7:18-23). Trái lại, nhiều lần Người còn
ca ngợi ông cao trọng "hơn cả ngôn sứ" (Mt 11:9) và bất cứ
"phàm nhân" nào (x. c.11). Dầu vậy, ông chỉ tự nhận như
một tên nô lệ bất xứng : "Tôi không đáng cởi quai dép cho
Người" (Ga 1:27).

Ðúng thế. Ðức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa."Nhờ Ngôi


Lời, vạn vật được tạo thành" (Ga 1:3), trong đó có Gioan
Tẩy giả. Một tạo vật làm sao có thể so sánh với Ðấng Tạo
hóa ?! Nhưng "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ
giữa chúng ta" (c.14). Nghĩa là "Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận" (c. 11). Chính vì
thế mới cần đến lời chứng Gioan Tẩy giả. Ông đã tìm được
niềm vui trong sứ vụ làm chứng. Ông đã thành công rực rỡ
tới mức đổ máu vì sự công chính, một nhân tố làm nên
Nước Trời.

NHẬN DIỆN
59
TIN MỪNG đã bắt đầu vang lên với chứng từ Gioan Tẩy
giả. Nhưng TIN MỪNG chỉ thực sự có hiệu lực từ lúc Ðức
Giêsu xuất hiện trong quyền năng Thánh Linh, một sức
mạnh giải thoát. Thực vậy chính Chúa đã công khai xác
nhận "hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh" (Lc 4:21) :
"Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Vì Chúa đã xức dầu tấn
phong tôi, Ðể tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố Cho kẻ bị giam cầm biết họ
được tha, Cho người mù biết họ được sáng mắt, Trả lại tự
do cho người bị áp bức, Công bố một năm hồng ân của
Chúa." (c.18-19; Is 61:1-2).

Từ nay TIN MỪNG đã trả lại cho tất cả những người cùng
khổ nhất tất cả niềm vui ơn cứu độ. Như thế xã hội đã
được Phúc Âm hóa. Không hiểu tại sao có người không
đồng ý với việc "Phúc Âm hóa Á châu" trong thông điệp
"Giáo hội tại Á châu" của Ðức Giáo Hoàng ? Nếu Phúc Âm
hóa chỉ là đổ mấy giọt nước rửa tội trên đầu, quả thực Giáo
hội đang đi ngược dòng. Nhưng nếu chỉ nhằm đem lại cho
xã hội đời sống "công chính, bình an và hoan lạc trong
Thánh Thần" (Rm 14:17), Giáo hội đáp ứng những gì các
dân tộc Á châu đang mong đợi nhất. "Giáo hội xác tín rằng
trong lòng dân chúng, văn hóa và tôn giáo tại Á Châu, có
một cơn khát "Nước Hằng sống" (x.Ga 4:10-15), một cơn
khát chính Thần Khí đã tạo ra và chỉ có mình Chúa Giêsu
Cứu thế mới có thể thỏa mãn đầy đủ" (Giáo hội tại Á
châu:1999). Cơn khát vọng này lớn hơn nỗi mong chờ
Ðấng Messia của dân Do thái. Cơn khát vọng đó kéo dài cả
mấy ngàn năm rồi. Giáo hội đã nêu lên được lý tưởng cao
cả nhất của công cuộc Phúc Âm hóa. Giáo hội chỉ muốn
phục vụ, chứ không muốn khống chế con người.

Thế nhưng, cho tới nay vẫn có những "chuyên viên" Phúc
Âm hóa "lẫn lộn sứ vụ rao giảng Tin Mừng với khát vọng
60
truyền bá các giá trị văn hóa và lối ứng xử kiểu Âu châu"
(Cuộc tọa đàm về truyền giáo đại kết tại Hồng Kông,
VietCatholic 8/12/1999). Lối khống chế đó đã làm cho công
cuộc Phúc Âm hóa Á châu trì trệ và thất bại.

Tuy thế, vẫn chưa đến nỗi thất vọng. Thực tế "Chúa Thánh
Thần, Ðấng hoạt động trên Á châu trong thời các Tổ Phụ và
ngôn sứ, và hoạt động còn mãnh liệt hơn nữa trong thời
Chúa Giêsu và Giáo hội lúc đầu, bây giờ vẫn hoạt động ở
giữa các người Kitô hữu Á Châu, tăng cường bằng chứng
đức tin của họ giữa các dân tộc, các nền văn hóa và tôn
giáo của lục địa" (Giáo hội tại Á châu:1999). Chỉ có Thánh
Linh mới thấu hiểu và đáp ứng nổi tất cả những khát vọng
lớn lao của các dân tộc.

Vậy các dân tộc Á châu đang mơ ước những gì ? Chắc


chắn sống dưới nhiều cơ chế bất công khác nhau, họ muốn
thấy công lý ngự trị. Ðây là một cơ hội lớn xây dựng Nước
Chúa tại Á châu. Hơn lúc nào hết, chúng ta cố gắng "thiết
lập lại công bằng và làm cho công bằng được triển nở ở
mọi cấp bực xã hội" (ÐGH Gioan Phaolo II:

Nhưng muốn thực hiện được công cuộc đó, xin khắc tâm
khắc cốt lý tưởng Kitô hữu sau đây :
TÌNH YÊU phục vụ tha nhân,
Sống là TIẾN BỘ, dấn thân suốt đời.
TÍN THÀNH sống đạo làm người,
Hồng ân thắp sáng bầu trời TỰ DO.
Hai vai TRÁCH NHIỆM 'tiền hô' :
TIN MỪNG cứu độ, điểm tô Nước Trời.

Lý tưởng đó đã được Thần Khí khơi dậy nơi Kitô hữu.


Nhưng bao lần lý tưởng tuổi trẻ đã bị vùi dập. Bởi vậy,
thánh Phaolô cảnh cáo : "Anh em đừng dặp tắt Thần Khí."
61
(1 Tx 5:19) Ðặc biệt, nơi giáo xứ Thần Khí đang hoạt động
như "trung tâm đời sống phụng vụ" (ÐGH Gioan Phaolô II :
CWNews 25/11/2002) và trung tâm đào luyện giáo lý và
luân lý cho giới trẻ Kitô hữu. ÐGH cho thấy giáo xứ là tụ
điểm quan trọng để giáo dân "uống tận nguồn suối Lời
Chúa và truyền thống. Người cũng nhấn mạnh đến tầm
quan trọng của bí tích Thánh Thể trong việc nuôi dưỡng
đức tin, "bảo vệ chúng ta khỏi tội lỗi, kiện cường chúng ta
trong tình thân ái, và duy trì nỗ lực chúng ta trên cuộc hành
trình dương thế." (CWNews 25/11/2002) Không có sức
mạnh đó, tuổi trẻ không thể chống lại những ảnh hưởng
văn hoá trần tục. Muốn tìm được hứng thú cho cuộc sống,
giới trẻ "cần phải tiếp tục cuộc hành trình, khởi sự từ Ðức
Kitô, nghĩa là từ bí tích Thánh Thể." (ÐGH Gioan Phaolô II:
Zenit 25/11/2002) Hôm nay, Giáo hội cần giáo dân "ý thức
về ơn gọi rao giảng Tin Mừng" và sẵn sàng đem sứ điệp
Tin Mừng vào trần gian. Muốn "làm chứng về ánh sáng"(Ga
1:7.8) là Ðức Kitô giữa thế giới chìm đắm trong bóng tối
hôm nay, họ cần giáo xứ hỗ trợ mạnh mẽ (ÐGH Gioan
Phaolô II: Zenit 25/11/2002) và trang bị đầy đủ sức mạnh
Tin Mừng.

Lm. Giuse Đổ Vân Lực, OP

ÐƠN GIẢN LÀ NHƯ THẾ


Ga 1,6-8. 19-28
Lm. Giuse NguyễnCao Luật, OP
Tôi chẳng phải là ai cả
Câu chuyện xảy ra tại một địa điểm ở phía Bắc Biển Chết,
có lẽ cũng là nơi xưa kia dân Do-thái đã vượt qua sông
Gio-đan để tiến vào Ðất Hứa. Ông Gioan Tẩy Giả đang có
mặt tại đó và làm phép rửa bằng nước. Chỉ một nghi thức
sám hối này cũng đủ để phân biệt phép rửa của ông với
62
những cách thức thanh tẩy khác nhau vốn đang thịnh hành
trong các nhóm thời bấy giờ. Con người này là ai vậy mà
biết bao người đang ùn ùn kéo đến với ông để lãnh nhận
phép rửa ? Con người này có sứ mạng gì mà lời rao giảng
của ông có âm giọng như tiếng kêu của các vị ngôn sứ, tính
cho đến lúc này, đã im vắng được ba thế kỷ ?

Người Do-thái, hay chính xác hơn, một số tư tế và mấy


thầy Lê-vi đã muốn xác định xem ông là ai. Họ đặt câu hỏi
và muốn xếp ông vào một trong số những hiểu biết của
mình. Họ muốn kiểm chứng, họ muốn tin chắc vào hiểu biết
của mình.

Trước hết, họ muốn biết có phải là Ðấng Mê-si-a không.


Trong giai đoạn căng thẳng lúc bấy giờ, có rất nhiều người
mong chờ vị sứ giả của Thiên Chúa đến. Họ đã mường
tượng ra dung mạo của vị sứ giả, nhưng là một thứ hình
ảnh cứng ngắc. Trong thực tế, họ đã có nhiều hình ảnh
mẫu, tuỳ theo thái độ chờ đợi, tuỳ theo khát vọng của mỗi
người. Trong khi đó, các vị lãnh đạo dân đang cố gắng
kiểm chứng danh tính của những người đang có ảnh
hưởng trên dân chúng. Chính họ cũng có quan niệm về
dung mạo của con người phải đến. Do đó, họ đã nêu vấn
đề với ông Gioan khi thấy đám đông kéo đến với ông để
nghe giảng và đón nhận phép rửa.

Ông có phải là ngôn sứ Ê-li-a không ? Một nhân vật khác


được nêu lên sau khi ông Gioan đã tuyên bố ông không
phải là Ðấng Mê-si-a. Từ trước đến nay, người Do-thái vẫn
công nhận ngôn sứ Ê-li-a là một chứng nhân vĩ đại về lòng
tin. Ông đã được cất lên trời cách lạ lùng (2 V 2), và ông sẽ
trở lại để dọn đường cho Ðấng Mê-si-a đích thực. Lúc sinh
thời, ngôn sứ Ê-li-a đã bị mọi người loại bỏ. Nhưng giờ đây,

63
người ta đã biết ông là ai. Con người xưa kia bị bách hại,
nhưng giờ đây lại được tôn phong.

Người ta vẫn dựa trên những hình ảnh quá khứ để nhận
định về hiện tại. Nhưng mỗi người có vai trò riêng của
mình, và ông Gioan Tẩy Giả là một trường hợp rất đặc biệt.

Ðơn giản là một chứng nhân


Câu trả lời của ông Gioan cho thấy một thái độ khiêm tốn
cần ngạc nhiên.

Ông tuyên bố ông không phải là Ðấng Mê-si-a, không phải


là Ánh Sáng. Ông không phải là ngôn sứ Ê-li-a trở lại, cũng
không phải là vị Ngôn Sứ vĩ đại như người ta vẫn chờ đợi.
Ông chỉ là vị tiền hô, đơn giản là một chứng nhân, có vai trò
hoàn toàn tuỳ thuộc vào Ðấng ông loan báo. Ông là ngọn
đèn do Thiên Chúa thắp lên để soi đường cho Ðức Ki-tô
đến, là tiếng nói của Thiên Chúa. Ðơn giản chỉ có thế. Tất
cả chỉ có thế. Ngọn đèn để soi sáng, tiếng nói để cung cấp
lời.

Cách trả lời của ông Gioan Tẩy Giả cho thấy ông không để
cho người ta xác định về mình. Ông không lặp lại quá khứ,
nhưng mở ra tương lai. Vì vậy, ông là người của bất ngờ.
Người ta không thể đóng khung vào một loại nào. Ông
khước từ quan niệm coi ông là điểm dừng, ông chỉ muốn
mình là điểm cần đi qua. Ông làm chứng về ánh sáng, một
loại ánh sáng luôn vuột khỏi tầm với con người, nhưng lại
soi chiếu cho họ trên con đường của mình. Ông Gioan chỉ
muốn mình là người chỉ đường và không muốn người ta
chăm chú vào mình. Một thái độ tuyệt vời và chính điều này
làm ông trở nên cao cả. Ðây cũng là đặc tính của mọi ngôn
sứ Ít-ra-en.

64
Ðàng khác, câu trả lời của Gioan là một thứ tuyên bố về lý
lịch cá nhân, nhưng hoàn toàn tiêu cực, làm cho những
người chất vấn chưng hửng, thêm thắc mắc. Người ta
không thể xác định về ông, nhưng ông vẫn rất cần thiết và
quý giá để chỉ cho mọi người thấy rằng : có một vị đang ở
giữa các ông mà các ông không biết".

Tuy vậy, phải nói rằng chính ông Gioan Tẩy Giả cũng
không biết rõ về Ðức Giêsu. Ðang khi ông dìm người khác
trong nước để thức tỉnh và thanh tẩy họ, thì chính ông lại
sống trong nghi nan. Ông biết rằng ông có sứ mạng dọn
đường cho Ðấng Mê-si-a đến. Ông cũng biết rằng Ðấng
Mê-si-a cao cả hơn ông nhiều : "Người đến sau tôi và tôi
không đáng cởi quai dép cho Người" ; "có người đến sau
tôi nhưng trỗi hơn tôi, vì có trước tôi" ; ông cũng cảm thấy
một sự đứt đoạn, nhưng ông chưa thấy Người đến. Ông
cũng không biết rằng Vị Sứ giả của Thiên Chúa, mà ông là
người dọn đường, lại chẳng là ai khác hơn là người bà con
của ông tại làng Na-da-rét, là ông Giêsu người thợ mộc.

Ông chỉ biết rằng chính ông không phải là Ðấng Mê-si-a, và
chỉ là kẻ dọn đường. Ông biết điều này rất rõ và ông sống
đến tận cùng. Ông dấn thân trọn vẹn để thi hành sứ mạng
ngôn sứ, giới thiệu Ðức Ki-tô khi tới thời gian đã được ấn
định. Ông biết rằng ông không phải là ánh sáng, nhưng ông
có mặt để làm chứng về Ánh Sáng. Rồi đây, ông sẽ đưa tay
ra để chỉ vào Ðấng phải đến. Người là Ðức Giêsu, Người
đến và đem lại cho Thiên Chúa vô hình, Thiên Chúa không
thể đụng chạm tới được một dung mạo, một thân thể.

Về một Thiên Chúa đã biết và chưa biết


Không ai thấy Thiên Chúa, không ai nghe được Thiên
Chúa, và cũng không ai đụng chạm được Thiên Chúa.

65
Làm thế nào bây giờ trước một Thiên Chúa được gọi là
Ánh Sáng nhưng không ai nhìn thấy được ? Ðấng tự nhận
mình là Chân Lý tinh tuyền nhưng lại xuất hiện dưới khuôn
mặt không thực, Người là ai ? Ðấng hiện diện ở khắp nơi
nhưng dường như lại vắng mặt, Người là ai ?

Các nhà thần học luôn tìm ra những lý luận rất hay, nào là
Thiên Chúa ẩn mình để tôn trọng sự tự do của chúng ta,
hay để tạo cho chúng ta nỗi ngạc nhiên khi chúng ta chết,
v.v... Tuy vậy, chúng ta cảm thấy không thoả mãn với
những giải thích như thế, và chúng ta có cảm tưởng rằng
những giải thích này cũng chẳng làm cho những người đã
đề ra chúng được thoả mãn.

Thiên Chúa là Ðấng không thể hiểu thấu : chúng ta phải


chấp nhận sự kiện đó, một sự kiện không thể khác được.
Chấp nhận không phải để buông xuôi, nhưng là để nhìn rõ
chỗ đứng của chúng ta và nhất là để đặt Thiên Chúa vào
đúng chỗ của Người, tức là Người có mặt ở khắp nơi, ở bất
cứ nơi nào chúng ta đang chờ đợi Người.

Như vậy, nếu Thiên Chúa không để cho cảm giác và lý luận
của chúng ta đụng chạm tới Người, nếu Thiên Chúa không
để cho chính lòng tin của chúng ta nắm bắt được Người,
thế thì phải chăng chúng ta bị kết án phải tìm đến Người
trong bóng đêm mịt mù ? Phải chăng chúng ta đang có
nguy cơ đi lạc đường hay là chỉ chạy theo một ảo ảnh ?

Những câu hỏi như thế vẫn được đặt ra cho chúng ta và có
lẽ không bao giờ chúng ta có được câu trả lời đầy đủ. Thiên
Chúa vẫn luôn ở phía trước và mở ra những chân trời rộng
lớn hơn. Người mời gọi chúng ta bước vào và trở thành
nhân chứng cho Người.

66
Như ông Gioan Tẩy Giả, mỗi chúng ta cũng được mời gọi
trở thành người loan báo về một Thiên Chúa đang ẩn mình
nhưng vẫn đang đến. Mỗi chúng ta đang được mời gọi
đóng vai trò rất khiêm tốn nhưng không thể thiếu : giới thiệu
về Thiên Chúa đang đến. Nói một cách khác, chúng ta
được trao phó trách nhiệm lôi kéo thêm nhiều người cùng
gia nhập vào cộng đoàn những người tìm kiếm Thiên Chúa,
tìm kiếm Chân Lý và Ánh Sáng, đang khi chính chúng ta
phải trở thành ngọn đèn, thành tiếng nói. Ðơn giản là như
thế. Tất cả chỉ có thế.
***
Thiên Chúa của tôi vượt hẳn mọi thứ suy luận và mọi thứ
đo lường. Thiên Chúa của tôi là thế này : kỳ diệu, độc đáo
và gây sững sờ.
Người là hữu thể, nhưng lại là chuyển biến,
Người là những gì đã có, hiện có và sẽ có,

Người là tất cả, nhưng không có gì là Người,


Chúa tôi gây sững sờ
là Ðấng người ta tin nhưng không thấy,
người ta yêu mến nhưng không sờ được,
người ta trông chờ nhưng không nghe theo,
người ta chiếm hữu, nhưng không đáng được như thế.
(Juan Arias - Thiên Chúa mà tôi không tin, trang 32)

Lm. Giuse NguyễnCao Luật, OP

CHỨNG NHÂN GIOAN TẨY GIẢ


Ga 1,6-8.19-28
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Gioan Tẩy Giả là một nhân vật quan trọng luôn được nhắc
tới trong Mùa Vọng, vì ngài là vị Tiền Hô đi trước kêu gọi

67
mọi người chuẩn bị tâm hồn đón Đấng Cứu Thế đến bằng
cách thay đổi, cải thiện đời sống. Bài Tin Mừng cho chúng
ta thấy một điều nổi bật trong cuộc đời tiền hô của ngài, đó
là làm chứng cho Chúa Ki-tô, Ngài đã sống và chết cho vai
trò chứng nhân của mình.

Ngay những trang đầu tiên sách Tin Mừng của thánh Gioan
tông đồ đã cho chúng ta biết mục đích cuộc đời trần thế
của Gioan Tẩy Giả là làm chứng cho Đấng Cứu Thế : “Có
một người được Thiên Chúa sai đến, tên ông là Gioan, ông
đã đến để làm chứng, để chứng thực về Sự Sáng, ngõ hầu
mọi người nhờ ông mà tin. Ông không phải là Sự Sáng,
nhưng là người làm chứng cho Sự Sáng”. Sự Sáng đây là
Đấng Cứu Thế và Gioan đã làm chứng cho Đấng Cứu Thế
một cách trung thành nhất, bất vụ lợi nhất, kiên trì nhất và
hoàn hảo nhất. Ngài đã làm chứng bằng lời nói, bằng hành
động và bằng máu.

Gioan Tiền Hô đã làm chứng bằng lời nói : chúng ta biết vai
trò hay sứ mạng của một ngôn sứ là phát loa, là thuyết
giảng, là loan báo về Đấng Cứu Thế. Gioan Tiền Hô đã
đóng vai trò đó, ngài đã nói những gì ? ngài bảo cho mọi
người biết : “Tôi chỉ là tiếng nói trong hoang địa, chuẩn bị
đường đi cho Đấng Cứu Thế, sau tôi một Đấng sẽ đến,
Đấng ấy đã có trước tôi, cao trọng hơn tôi nhiều, và tôi
không đáng xách dép cho Ngài”. Rồi khi Chúa Giêsu đến,
Gioan đã chỉ vào Chúa và nói với dân chúng : “Đây là
Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh hết mọi tội trần gian”, nghĩa
là đây là Đấng Cứu Thế, Ngài sẽ là nạn nhân hiến tế để
cứu chuộc mọi người. Bài Tin Mừng Gioan còn cho mọi
người biết Chúa Giêsu là Đấng thánh hóa các linh hồn,
Ngài sẽ rửa mọi người trong Thánh Thần và lửa, đồng thời
cũng là Đấng xét xử mọi người : thưởng phạt mỗi người tùy
theo công nghiệp của họ. Tóm lại, như một người phát
68
ngôn trung thành, Gioan loan báo cho mọi người biết :
Chúa Giêsu chính là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế.

Không những làm chứng bằng lời nói, Gioan còn làm
chứng bằng hành động và gương sáng. Chúng ta biết
Gioan là một người rao giảng đầy uy quyền, kêu gọi được
người ta ăn năn sám hối, trở về với Chúa. Lời giảng của
ngài được mọi người đương thời chú ý, tại sao vậy ? bởi vì
ngài chỉ nói sau khi đã làm hay đã sống, đã kinh nghiệm rồi
mới nói, bí quyết thành công của ngài là làm rồi mới nói,
hoặc nói và làm đi đôi với nhau. Thực vậy, ngài đã lấy cuộc
đời khổ hạnh để làm chứng cho người tôi tớ của Gia-vê,
ngài đã sống khó nghèo để làm chứng cho Con Người
không có chỗ dựa đầu. Thi hành chức vụ tiền hô ngài cũng
có một số môn đệ, nhưng ngài rất vui mừng nhường số
môn đệ ấy cho Chúa Giêsu, không một chút ghen tương,
không một chút luyến tiếc, bởi vì ngài biết Chúa Giêsu mới
là vị tân lang của họ, còn ngài chỉ là bạn hữu đến sửa soạn
tiệc cưới mà thôi. Nói rõ hơn, Gioan không thể kêu gọi
người ta sám hối nếu ngài không sám hối trước, Gioan
không thể kêu gọi người ta khiêm nhường nếu ngài không
quên cái tôi của mình, Gioan không thể kêu gọi người ta
thực hành bác ái nếu ngài không thực sự mến Chúa yêu
người, Gioan không thể kêu gọi người ta hy sinh nếu ngài
chưa sống khắc khổ và hy sinh vì người khác. Tóm lại, ngài
được mọi người nghe và làm theo lời ngài giảng dạy là vì
ngài chỉ nói những gì ngài đã sống, đã làm, đã kinh nghiệm
: “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”, lời nói của Gioan đã
làm chuyển biến lòng người, nhưng đời sống và gương
sáng của ngài đã thuyết phục được mọi người.

Sau hết, bởi vì Gioan luôn sống với tư cách là chứng nhân
của Đấng Cứu Thế, nên sau khi đã làm chứng cho Chúa
bằng lời nói và hành động, ngài còn muốn làm chứng bằng
69
chính máu của mình nữa. Ngài tố cáo cuộc hôn nhân bất
chính của vua Hê-rô-đê với bà Hê-rô-đi-a, vợ của anh vua,
nên ngài đã bị tống giam vào ngục. Bà Hê-rô-đi-a vẫn chưa
hài lòng, vì Gioan luôn là mối cản trở cho hành động ngang
trái của bà, bà tìm cách giết cho được Gioan, chính vì thế
mà trong bữa tiệc mừng sinh nhật Hê-rô-đê, lợi dụng lúc
ông đã ngà ngà say, bà xúi con gái là Sa-lô-mê xin chiếc
đầu của Gioan, vì Hê-rô-đê vui thú trước những điệu múa
của Sa-lô-mê và hứa cho cô bé bất cứ thứ gì dù là nửa
nước. Thế là Gioan đã phải chết, ngài đã chấp nhận cái
chết chứ không chịu để cho đạo lý bị chà đạp, chấm dứt
nhiệm vụ chứng nhân của ngài.

Cuộc đời chứng nhân của Gioan Tiền Hô là một bài học
sáng giá cho chúng ta. Đời sống của một Ki-tô hữu phải bắt
chước đời sống của ngài, là làm chứng nhân cho Chúa
trong mọi hoàn cảnh : thuận cảnh cũng như nghịch cảnh.
Hẳn là Chúa không đòi chúng ta phải sống khắc khổ hay đổ
máu đào như Gioan, nhưng Chúa đòi chúng ta phải là
chứng nhân, sống như Gioan trong đời sống hiện tại của
mình, nghĩa là chúng ta phải là ánh sáng, là muối, là men
của trần gian, phải sống như bông sen giữa bùn lầy, như
bông huệ giữa bụi gai, đặc biệt là sống anh hùng như ngài,
ngài là một anh hùng của sự thật : suốt đời ngài chỉ sống
theo sự thật và nói sự thật, điều gì có ngài chân nhận, điều
gì không có ngài nói không.

Chúng ta hãy kiểm điểm và suy nghĩ : chúng ta có bao giờ


nói dối không ? Chúng ta phải nhìn nhận rằng không những
chúng ta có nói dối mà còn nói dối nhiều nữa, rồi nhiều khi
chúng ta còn ém nhẹm, giấu diếm, chua ngoa, thề thốt,
phân bua cho là mình thật thà, thẳng thắn, vô vị lợi…để lấp
đầy đi cái thiếu thành thật của mình. Nếu chúng ta đã sống
như thế, chúng ta phải sửa lại, phải sống thành thật, có nói
70
có, không nói không, đừng thêm thắt, bịa đặt. Tuy nhiên,
chúng ta phải cẩn thận, vì sự thật dễ mất lòng. Chúng ta
phải sống thành thật, đó là điều tất nhiên, nhưng sống thật
thà không có nghĩa là buộc chúng ta phải nói tất cả những
gì mình nghĩ, mình biết, đức tính này buộc chúng ta suy
nghĩ cẩn thận, chín chắn rồi hãy nói, mà đã nói thì không
bao giờ nói sai, nói thừa nói thiếu, nói dối để khỏi gây thiệt
hại cho bất cứ ai. Xin Chúa cho chúng ta quyết tâm sống
được như thế luôn mãi.

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG.


Jn. 1,6-8. 19-28.
Gp.Vĩnh Long

Anh chị em thân mến.


Trong thời buổi kinh tế thị trường của thời đại, nghệ thuật
quảng cáo chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Trên đường
phố, những nơi nào có thể được là có những hình ảnh giới
thiệu những gì mà người ta cần đến. Trên TV cũng thế, bất
cứ giờ phút nào cũng có những thông tin cần thiết về
những sản phẩm, có khi làm cho người nghe phải khó chịu.
Nhưng lại rất hiệu quả, vì khi qua những giây phút khó chịu
đó, nó dường như có một chút gì còn lại nơi người nghe.
Không chỉ có thế, còn có những con người mang sản
phẩtm đến tận nơi người tiêu dùng, với những kiểu nói hết
sức duyên dáng và thu hút, làm cho người đối diện không
thể nào làm ngơ được. Những người quảng cáo nầy còn
được goi là nhân viên tiếp thị, họ chịu trách nhiệm về mặt
hàng, họ giải thích hiệu quả và chỉ cách cho khách hàng xử
dụng như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài ra còn
có những giải thưởng hết sức hấp dẫn cho người tiêu

71
dùng, khiến cho mọi người đều lắng nghe và hưởng ứng
tận tình.

Chúng ta vừa lắng nghe một nhân viên tiếp thị, nhưng
không phải tiếp thị cho mặt hằng nào, mà là thông báo và
quảng cáo phần thưởng cho những ai biết chuẩn bị chu
đáo để đón mừng Đấng có uy quyền đến với họ. Nhân viên
tiếp thị không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng hành động và
cả cuộc sống. Một đời sống khiêm nhường chân thật để
làm chứng cho sự thật. Một đời sống thanh thoát để hướng
mọi người về trời cao. Một đời sống khắc khổ để kêu gọi
mọi người hy sinh, chịu khó để dâng cuộc đời cho Chúa.
Oâng biết chấp nhận sự thật, quên mình đi, để hướng mọi
người về Đấng Cứu Thê mà ông giới thiệu. Oâng kêu mời
mọi người thay đỗi đời sống cho tốt hơn để xứng đáng
chuẩn bị đón chờ Chúa đến. Oâng cũng làm gương cho
mọi người biết chấp nhận cuộc sống hiện tại, chấp nhận
những gì là của mình, để biết sống trọn vẹn và chu toàn
trách nhiệm thật chu đáo.

Những người của ngày xưa không thể nào ngồi yến bất
động, khi nghe thấy những lời mời gọi của Gioan Tẩy Giả,
họ chạy đến với Gioan, nhận phép rửa thống hối. Họ cũng
đến với Gioan để tìm cho mình một con đường sống theo
Thánh ý Chúa.

Chúng ta, những con người của ngày hôm nay, cũng nghe
những lời của ngày xưa, cũng gợi lại trong tâm trí chúng ta
hình ảnh sống động của một chứng nhân. Nhưng nhân viên
tiếp thị hết sức thuyết phục của ngày xưa, cũng đang dùng
hết khả năng của mình cho những người của ngày nay,
không biết có mang lại chút kết quả nào không?

72
Mỗi người trong chúng ta nghe nhiều, biết nhiều, nhưng
chúng ta sống như thế nào? Giờ đây lời kêu mời lại vang
lên một cách sống động và tha thiết. Nếu chúng ta thấy
được mình thiếu thốn về đạo đức, thiếu về lòng nhân ái,
thiếu thốn về nhân cách làm người mà biết chạy đến với
Chúa khi nghe lời kêu mời của Gioan, để xin Chúa đong
đầy những gì còn thiếu nơi chúng ta.

Nhìn vào gương làm chứng của Gioan Tẩy Giả, chứng ta
cũng quyết là những chứng nhân sống động như Ngài; khi
chúng ta biết làm cho Chúa Kitô hiện điện trong đời sống
của mình thật sự. Đó là những lúc chúng ta biết quên mình
mà đến với người khác để giúp cho họ sống tốt hơn qua
những lời nói chân thành, qua sự giúp đở nhẹ nhàng đối
với những gì mà người ta cần. Cũng là những lúc chúng ta
nhìn thấy được trách nhiệm, những gì phải làm mà không
ngần ngại, cho dù nhìn thấy những khó khăn trước mắt.
Trong những lúc chúng ta nhìn thấy những lợi lộc của trần
gian, những niềm vui không phải của mình, chúng ta không
cần đến cũng không tìm cách chiếm hữu nó; những lúc đó
chúng ta đã trở nên một chuyên viên tiếp thị xuất sắc cho
chúa Kitô như vị Tiền Hô của ngày xưa. Khi đó mọi người
nhìn vào chúng ta và họ cũng nhìn thấy, cũng lắng nghe
được sứ điệp loan báo về Chúa sắp ngự đến. Khi đó chúng
ta không chỉ loan báo bằng lời nói, nhưng bằng chính cuộc
sống và cả con người của chúng ta. Khi đó Chúa đã đến
thật sự.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết lắng
nghe Lời Chúa, đễ biết nhận ra Chúa và sống xứng đáng là
Chứng nhân trung thành của Chúa trong cuộc sống đời
thường.

Gp.Vĩnh Long

73
LÀM CHỨNG TRONG NIỀM VUI
Ga 1, 6.8.19 – 28
Gp.Vĩnh Long

Cùng với Giáo hội chúng ta bước vào Chúa nhật thứ 3 Mùa
vọng của năm Phụng vụ 2009. Với Chúa nhật này chúng ta
đã đi được nửa đoạn đường của mùa vọng năm nay. Chúa
nhật hôm nay được gọi là Chúa nhật của niềm vui. Vui
mừng vì ngày Đại lễ Giáng sinh sắp tới. Ngày đại lễ Giáng
sinh nhắc nhớ chúng ta về một niềm vui trọng đại. Niềm vui
con người chúng ta được đón nhận Đấng Cứu Thế Giêsu.
Niềm vui này không thể giữ cho riêng ai mà cần phải được
loan báo cho nhiều người được biết.

Đoạn Tin mừng hôm nay giới thiệu cho chúng ta một chứng
nhân loan báo niềm vui ấy. Chứng nhân ấy là Thánh Gioan
Tẩy Giả. Mở đầu đoạn Tin mừng Thánh sử Gioan giới
thiệu: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gio-
an. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để
mọi người nhờ ông mà tin” (Ga 1, 6- 7). Kế đến, người Do
thái muốn biết Gioan là ai thì ông đã trả lời: “ Tôi là tiếng
người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để
Đức Chúa đi” (Ga 1, 23) và “Tôi đây làm phép rửa trong
nước. Nhưng có một vị đang ở giữa các ông mà các ông
không biết. Người sẽ đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai
dép cho Người” (Ga 1, 26b – 27).

Chính trong niềm vui mà Thánh Gioan Tẩy giả đã ý thức


được vai trò làm chứng của mình. Vai trò giới thiệu làm
chứng cho Đấng Cứu Thế Giêsu. Thánh Phaolô trong bài
đọc 2 cũng đã kêu mời chúng ta hãy vui mừng luôn mãi
74
(1Tx 5, 16 ). Thánh nhân cũng là một trong những người
cảm nhận được niềm vui trong Chúa. Do đó, cả đời thánh
nhân từ một con người căm ghét những ai tin vào danh
Đức Kitô trở thành một chứng nhân hăng say rao giảng
Đức Kitô.

Đấng Cứu Thế Giêsu đến trần gian này đem lại cho nhân
loại một niềm vui mới. Người ta nói niềm vui đem chia sẻ
thì niềm vui sẽ nhân đôi. Mỗi người chúng ta chắc chắn ít
nhiều cũng cảm nhận được niềm vui mà Chúa mang đến
cho mình. Chúng ta hãy đem chia sẻ niềm vui ấy cho
những anh chị em xung quanh bằng cách sống theo những
gì Chúa dạy. Đó là chúng ta đang làm chứng cho Người
trong niềm vui.

NIỀM VUI ĐÍCH THỰC


Ga 1, 6-8, 19-28
Gp.Vĩnh Long

Hôm nay chúng ta bước vào Chúa nhật thứ 3 Mùa vọng,
nghĩa là chúng ta đã trải qua hơn nữa chặng đường của
Mùa Vọng. Hôm nay, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy vui lên.
Tại sao vậy? Điều gì khiến chúng ta cần phải sống tâm tình
hân hoan như thế? Vâng, chúng ta có rất nhiều lý do để vui
mừng:

Trước hết, chúng ta vui mừng vì Chúa đã nhập thể làm


người và đã mang lại cho chúng ta ơn cứu độ. Chúa đã
đến và đã hiện diện trong lịch sử nhân loại, mang lại cho
con người hồng ân lớn lao là cứu con người khỏi quyền lực
sự chết và phục hồi cho con người địa vị làm con cái Thiên
Chúa. Nhưng có lẽ nhiều người chúng ta không cảm thấy
đây là một vinh dự lớn lao mà lại xem thường vì thấy làm
75
con cái Thiên Chúa đâu có hơn gì người khác đâu. Quả
thật, nếu nhìn theo phương diện phàm trần thì được làm
con Chúa không hơn và không khác gì với những người
khác, thậm chí còn phải mang lấy nhiều trách nhiệm hơn
những người khác. Nhưng về phương diện đời sống thiêng
liêng, chúng ta đang nắm giữ một vinh dự quá lớn lao, đang
sở hữu một gia nghiệp sung mãn và vững chắc mà không
ai trên trần gian này có thể có hay dám nghĩ tới. Chúng ta
có quyền hy vọng như thế vì Chúa đã ban cho chúng ta
Người Con Một yêu dấu của Ngài rồi thì không còn có gì
mà Ngài lại từ chối không ban cho chúng ta. Tuy nhiên,
hạnh phúc Nước trời chỉ nằm ở cuối chặêng đường trong
hành trình đức tin của chúng ta. Phần thưởng ấy dành cho
những ai hết lòng tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa qua
nỗ lực sống thánh thiện trong từng ngày sống của mình.
Sống tin tưởng và tín thác vào Thiên Chúa chính là chu
toàn sứ mạng của mình, chu toàn những phận vụ mà mình
đã lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa như những nén bạc được
Thiên Chúa trao ban.

Tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy một mẫu gương sống
niềm vui và sống tín thác vào Thiên Chúa, đó là Thánh
Gioan Tẩy Giả. Thánh Gioan là người sống niềm vui tràn
đầy vì ngài được kêu gọi làm Ngôn sứ của Chúa và làm
tiền hô cho Đấng Cứu Thế. Thánh Gioan đã sống hết mình
và hết tình với nhiệm vụ của mình trong sự khiêm tốn lạ
lùng để làm cho mọi người nhận biết Đức Giêsu là Đấng
Kitô và là Đấng Cứu Độ muôn dân hằng mong đợi. Thánh
Gioan đã hạ mình xuống để cho làm cho Đức Giêsu được
sáng lên. Ngài đã nói “Người phải lớn lên còn tôi phải nhỏ
lại”. Thánh Gioan làm được điều đó vì ngài đang mang
trong mình niềm tin yêu và hy vọng vào Thiên Chúa của
ngài. Chúng ta cũng cần mang lấy tâm tình đó để sống vui

76
trong từng ngày sống làm Kitô hữu và làm chứng nhân cho
Thiên Chúa.

Chúng ta còn phải vui mừng vì biết bao những ơn lành


người đã ban cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày.
Nhưng đây là điều ít ai trong chúng ta nghĩ tới. Chúng ta
thường có quan niệm coi Thiên Chúa như một vị khách hoà
hiệp nào đó, lâu lâu ghé thăm chúng ta một lần rồi tặng cho
chúng ta một món quà nào đó, thấy cũng vui vui vậy thôi. Vì
nhìn Thiên Chúa như thế, cho nên chúng ta không thấy cần
Thiên Chúa trong cuộc đời của mình bao nhiêu: có Ngài
cũng được, không có Ngài cũng chẳng sao. Thậm chí nhiều
lúc, chúng ta còn nghi ngờ về sự hiện diện của Thiên Chúa
trong cuộc đời này khi chúng ta thấy thiên tai, bệnh tật, bất
công, đói nghèo xảy ra nhan nhản trước mắt; khi chúng ta
thấy kẻ ác lại sống sung túc và dư dật, còn kẻ lương thiện,
hiền lành thì lại sống chật vật và bị chèn ép tứ bề. Nhìn
thấy nhân tình thế thái như vậy thì làm sao chúng ta vui
được? Làm sao chúng ta có thể hân hoan tiến bước trong
đời sống đức tin của chúng ta được? . . .

Tất cả những điều ấy chỉ có thể giải đáp trong đời sống đức
tin mà thôi. Nhưng tắt một lời là nếu vắng bóng Thiên Chúa
trong cuộc đời của chúng ta một giây phút thôi, nếu Thiên
Chúa ngưng gìn giữ vù trụ này một giây phút thôi thì tất cả
sẽ ra tro bụi hết, sẽ về cõi hư vô hết. Chúng ta cũng cần
hiểu biết rằng: nếu không có cuộc sống đời sau và sự sống
vĩnh cửu thì cuộc đời này sẽ vô lý, vô nghĩa và nói như
Jean Paul Sarte: “Cuộc đời này buồn nôn” vô cùng. Nhưng
chúng ta tin có sự sống đời sau, có thưởng phạt trong cuộc
sống mai sau. Thiên Chúa là Đấng nhân từ vô cùng nhưng
Ngài cũng công bằng vô cùng: Số phận của con người
chúng ta sẽ khác biệt nhau trong cuộc sống mai sau tuỳ

77
vào lối sống hiện tại của chúng ta. Kẻ dữ, người lành sẽ
được Thiên Chúa tách biệt ra như “mục tử tách chiên ra
khỏi dê” vậy. Vì thế, mọi việc làm của chúng ta ở cuộc đời
này cần phải được đặt nền móng trong Thiên Chúa, trong
cuộc sống mai sau. Có như thế thì chúng ta mới thấy phấn
khởi và hân hoan tiến bước. Chúa Giêsu đã khuyên nhủ
chúng ta rằng: “anh em hãy ra công làm việc không phải vì
lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn
đem lại phúc trường sinh, " (Ga 6,27). Nếu chúng ta giữ
đạo chỉ vì muốn được hạnh phúc ở đời này thôi thì quả thật
đức tin của chúng ta còn non yếu lắm và coi chừng chúng
ta là những kẻ khờ dại trước mặt Thiên Chúa. Chúa không
hứa hạnh phúc ở đời này cho bất cứ ai theo Ngài, có hứa
chăng là Ngài hứa cho chúng ta được nên giống Ngài trên
con đường Thập giá để mai sau chúng ta được Phục sinh
vinh quang với Ngài trên trời. Chúa nói: “phúc cho anh em
khi vì Thầy mà bi người ta bắt bớ và vu khống mọi điều xấu
xa”. Chúng ta có dám đón nhận phúc lành của Chúa
không? Chúa Giêsu cũng nói với thánh Phêrô rằng: “Con
ráng làm Giáo hoàng cho ngon lành và tốt đẹp nhé, Thầy
sẽ cho con được chết giống như Thầy”. Như vậy, cuộc đời
theo Chúa của từng người chúng ta không nhằm vinh
quang ở đời này, không nhằm hạnh phúc chóng qua ở đời
này, nhưng là hạnh phúc lớn lao mai sau. Đó là động lực, là
niềm vui mà Giáo hội mời gọi chúng ta hân hoan đón nhận
và tích cực sống đời sống Kitô hữu của mình.

Chúng ta còn một lý do nữa để vui mừng là chúng ta đang


mang trong lòng một niềm hy vọng về một tương lai huy
hoàng và chắc chắn. Trong sứ điệp Mùa vọng năm nay,
Đức Thánh Cha Bênêđictô mời gọi người Kitô hữu chúng ta
sống niềm hy vọng. Như vậy, sống Mùa vọng là sống niềm
hy vọng. Quả thật, đời sống của người Kitô hữu của chúng

78
ta được đông đầy bởi niềm hy vọng: hy vọng vào vào tình
yêu cứu độ của Thiên Chúa, hy vọng vào một tương lai huy
hoàng mai sau. Nói cách khác, niềm tin Kitô giáo của chúng
ta được xây trên niềm hy vọng vững chắc cho cuộc sống
mai sau.

Ước gì chúng ta luôn sống vui mừng và hy vọng trong từng


ngày sống của chúng ta trong niềm tin vào Thiên Chúa tình
yêu qua thái độ sống tích cực, vui tươi với mọi người, hăng
hái làm việc thiện, khát khao tìm gặp Chúa và tìm mọi
phương thế cũng như tận dụng mọi khả năng để làm cho
Chúa được lớn lên trong cuộc đời chúng ta và trong vũ trụ
này. Amen.

LÀM CHỨNG
Ga 1, 6-8, 19-28
Gp.Vĩnh Long

Anh chị em thân mến,


Chị Rơ Châm H'Jưng, là người J’rai, đất Ialy, Kontum, giáo
viên cấp I. Chị đang học Giáo lý tân tòng thì bị chính quyền
xã gọi đến cấm đoán. Sau nhiều lần như thế, chị bị buộc
phải chọn lựa: hoặc làm giáo viên, hoặc theo Chúa. Chị
khẳng khái trả lời: “Tôi chọn theo đạo Chúa.” Thế là bị nghỉ
việc. Chị kể lại: khi nhận tờ giấy thôi dạy, chị thấy tương lai
của gia đình, con cái đều sụp đổ… Chị lại trở về bản làng
làm lụng kiếm ăn. Bà con biết chị theo đạo đã đến xin chị
dạy đạo cho họ. Lúc đầu chị từ chối, nghĩ rằng ngoài khả
năng mình; nhưng sau vì thấy cần, chị chịu khó đọc Kinh
thánh, cầu nguyện suy niệm Lời Chúa. Chị mạnh dạn nói
về Chúa cho mọi người. Càng ngày bà con càng đến với
chị đông hơn, có khi phải lội bộ 20, 30 cs, hay bị cấm đoán,
phạt vạ, vì họ đến học đạo nơi chị. Từ đó, chị lại càng thấy
79
rõ cái được, cái mất hơn nữa: “Ai muốn theo Thầy, phải từ
bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” ( Mt 16, 24 ).
Cũng từ nay, chị nhận ra mình là sứ giả của Tin mừng cho
người nghèo mà Chúa Giêsu mong muốn nơi chị, không chỉ
rao giảng Lời Chúa, mà còn để xoa dịu những tâm hồn tan
nát, chữa lành người tật bệnh. (Vietcatholic news,
18.01.2003). Đây chính là hình ảnh của thánh Gioan nói
trong TM hôm nay; ngài là chứng nhân sống cho Chúa Kitô.
Kính mời cùng suy niệm…

a/. Gioan Tẩy giả, trước mắt người phàm:


Thánh Gioan Tẩy giả được kinh thánh tuyên xưng là vị đại
Tiên tri, Đấng Tiền hô đi trước dọn đường cho Đấng Cứu
thế, vậy mà cuộc đời của ngài vinh quang đâu chẳng thấy,
chỉ thấy toàn là long đong, vất vả. Lớn lên nhận được ơn
gọi làm chứng nhân, người tiền phong cho Chúa Cứu thế,
thánh nhân đã vào sa mạc sống khắc khổ, ăn châu chấu,
uống mật ong rừng, mặc áo bằng da lông thú. Chính Chúa
Giêsu đã nói về Gioan: “các ông vào sa mạc tìm gì? Có
phải tìm cây sậy phất phơ trước gió không? – Không. Hay
có phải tìm một người ăn mặc lụa là gấm vốc? Nhưng hạng
người đó lại chỉ ở trong cung điện nhà vua. Vậy có phải các
ông đi tìm một vị tiên tri không? Đúng và còn hơn một tiên
tri nữa…”(Gn 11, 7-9)

Thánh Gioan là một tiên tri, một chứng nhân như thế, vì lời
thẳng thắn đã không làm hài lòng nhóm tư tế, kinh sư do
thái. Thánh Gioan còn làm phật ý cả vua Hêrôđê, đến nổi bị
bà Hêrôđiađê dùng mưu mà chém đầu. Trước mặt thế gian,
ai cũng cho là thất bại, là điên rồ. Cuộc đời của các thánh
hiển tu, các vị tử đạo cũng thế. Các ngài bị chê là những kẻ
khờ dại, mê lầm, những người không hiểu biết nên mới

80
chối bỏ vinh hoa phú quí trần gian… Những con người bị
chê; thả mồi bắt bóng… Có đúng như thế không?

b/. Gioan Tẩy giả, trước mặt TC, là một chứng nhân tận
tụy và trung kiên:
“Có người hỏi: Ông là ai? Có phải là Đấng Cứu thế không?
Gioan trả lời: Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc…”(Gn 1, 20-29)
“Tôi chỉ làm phép rửa cho anh em trong nước; Đấng đến
sau tôi, sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong
lữa…”(Mt 3, 11)

“Khi Đức Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa, Gioan nói:
chính tôi mói cần được ngài làm phép rửa.” (Mt 3, 14).
“Đấng đến sau tôi, cao trọng hơn tôi; tôi không đáng cởi
quai dép cho Người…”(Gn 1, 27)

Thánh Gioan Tiền hô quả là một chứng nhân tận tụy và


trung kiên. Dù là một đại Tiên tri đi trước mở đường cho
Đấng Cứu thế, nhưng rõ ràng ngài khiêm tốn biết bao khi
nói lên chính sự thật này: “tôi chỉ là tiếng kêu trong sa
mạc.Tôi chỉ rửa anh em trong nước mà thôi…” Một con
người sống sau thánh Gioan không bao lâu, nhỏ hơn ngài
cũng không nhiều, cũng đã sống như một chứng nhân tận
tụy và trung kiên như Gioan Tẩy giả, đó là Thánh Phaolô,
tông đồ dân ngoại.Thánh nhân cũng đã từng nói những
lời không khác thánh Gioan là mấy:
“Tôi sống nhưng không còn phải là tôi sống mà là Đức Kitô
sống trong tôi”(Gal 2, 20). “Tôi biết tôi đang tin vào ai…” (II
Tim 1, 12)
“Ước gì tôi chẳng hảnh diện điều gì, ngoài thập giá Đức
Kitô.”(Gal 6, 14)
“Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng phúc âm.”(I Cor 9,
16)

81
“Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa.” (I Cor 1, 31)
“Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng cho tôi được mạnh
mẻ.” (Phil 4, 13)
Thánh Gioan TG, thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại, họ là
những chứng nhân tận tụy kiên cường như thế, làm sao
chúng ta có thể nghỉ họ là người ngây dại mê muội, không
khôn ngoan?

Câu chuyện: Mang thai đứa con thứ tư, bác sĩ Gianna
Beretta Molla mới biết mình mang căn bệnh đe dọa mạng
sống cả hai mẹ con, bà không hề do dự. Luôn tin tưởng
vào sự Quan Phòng và Tình thương của Thiên Chúa, bà
sẵn sàng dâng hiến mạng sống để cứu bào thai. Bà nghiêm
trang nói với bác sĩ: Nếu quí vị phải đắn đo chọn lựa
giữa tôi và đứa bé, xin đừng do dự, hãy cứu sống đứa
bé, vì tôi mong muốn như vậy! Ngày 21-4-1962, bác sĩ
Gianna Molla sinh một bé gái, đặt tên: Gianna Emanuela.
Chỉ một tuần sau, bà trút hơi thở cuối cùng, miệng vẫn thiết
tha lập đi lập lại: “Lạy Đức Chúa GIÊSU, con yêu mến
Chúa”. Bà hưởng thọ 40 tuổi. Đức Thánh Cha Gioan
Phaolo II đã tôn phong bà là Mẹ các gia đình, lên hàng
chân phước ngày 24-4-1994. Ngày 16-5-2004, bà lại được
tôn lên hàng hiển thánh. Lễ kính ngày vào ngày 28-4 hàng
năm. Con của bà là Gianna Emanuela, hiện nay 46 tuổi,
hành nghề bác sĩ nối nghiệp hiền mẫu đáng kính của mình.
c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Thánh Gioan đã là vị đại tiên tri,
vậy mà Gioan chỉ nhận mình là tiếng kêu trong sa mạc,
chứng nhân can trường đi trước dọn đường cho Chúa Cứu
thế. Ta có tin nơi lời Gioan nói, tin vào việc ngài làm không?
Nhất là ta có sẵn sàng sống như là chứng nhân cho Chúa
Kitô ở giữa lòng thế giới hôm nay không?

Gp.Vĩnh Long

82
LÀM CHỨNG CHO SỰ THẬT
Ga 1, 6-8, 19-28
Gp.Vĩnh Long

Gioan Tẩy Giả có một vai trò rất đặc biệt trong kế hoạch
của Thiên Chúa. Có lẽ vì thế mà Thánh sử Luca đã nói về
Gioan ngay sau câu giới thiệu tóm tắt quyển Tin Mừng: “
Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa: chiếu
theo lời đã chép trong sách ngôn sứ Isaia: ‘Này ta sai sứ
giả của ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.
Có tiếng người hô trong hoang địa, hãy dọn đường …” (x.
Mc 1, 1-4). Gioan Tẩy Giả đến để làm chứng cho sự thật về
vai trò của mình, về tình thương của Thiên Chúa và về
Đấng Cứu Độ đến trong trần gian.

1. Làm chứng cho sự thật về mình :


Gioan rao giảng và làm phép rửa sám hối cho mọi người.
Khi ông đã nổi danh, người ta thắc mắc về vai trò của ông.
Ông có phải là một vị tiên tri như bao vị tiên tri đã qua đi
hay là Đấng Cứu Độ phải đến trong trần gian. Những người
đại diện tôn giáo muốn có tin chính xác về ông nên đã cử
người đến gặp ông. Họ hỏi: “ông là ai?” Ông nói rõ : tôi
không phải là Đấng Cứu Thế, cũng không phải là Êlia
nhưng là “tiếng hô trong hoang địa”. Phái đoàn này gồm
những luật sĩ và biệt phái chắc hẳn hiểu ngay là Gioan ám
chỉ mình là Tiền hô cho Đấng Cứu Thế và phép rửa của
ông chỉ là hình bóng cho phép rửa chính thức của Đấng
Cứu Thế.

2. Làm chứng cho tình thương của Chúa:

83
Tên Gioan nghĩa là Chúa thương. Gioan sinh ra do tình
thương của Chúa đối với gia đình : sinh ra trong hoàn cảnh
cha mẹ già. Kể cả Giacaria cũng không tin nổi là mình còn
có thể sinh con dù ông tha thiết muốn có con! Chính ông
làm mọi người phải để tâm suy nghĩ về hồng ân Chúa ban
cho gia đình, và xa hơn nữa là tình thương của Chúa đối
với dân Israel. Mỗi lần kêu đến tên Gioan là mọi người nghĩ
ngay đến tình thương Chúa.

3. Làm chứng về Đấng Cứu Độ đã đến trong trần gian:


Gioan khẳng định mình là tiếng hô trong hoang địa, cũng là
cách khẳng định về ơn cứu độ đang dành sẵn cho dân
Israel. Thời kỳ cứu độ đã đến gần. Gioan nói rõ: Đấng đó
đã đến, đang ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết.
Đấng đó cao trọng hơn tôi và tôi không xứng đáng cởi dây
giày cho Người. Đấng đó là Ngôi lời Thiên Chúa, là Sự
Sáng, còn Gioan chỉ là người phàm được Chúa sai đến làm
chứng cho Sự Sáng, giúp cho thiên hạ nhận biết Ngôi Lời
và tin phục Người.

Gioan dọn đường cho Chúa bằng việc làm chứng cho sự
thật về mình, về Đấng cứu thế. Đời sống khổ hạnh của
Ngài là lời mời gọi chúng ta hôm nay hãy hoán cải tận đáy
lòng, thể hiện đức tin của mình bằng những việc làm cụ thể
như sống hòa thuận trong gia đình, hàng xóm láng giềng,
bác ái với mọi người, biết tha thứ cho những người làm
phiền lòng mình… lời rao giảng và bằng đời sống khổ hạnh.
Chúng ta cũng hãy nối tiếp vai trò của Gioan nhắc nhở
những người xung quanh bằng cuộc sống gương mẫu và
lời khuyên để họ biết chuẩn bị đón Chúa đến luôn luôn.

Là con cái Chúa, chúng ta trả lời mạnh dạn cho mọi người
về vai trò và niềm tin của chúng ta hiện nay trong thế giới, ý

84
thức về bổn phận của mình đối với việc truyền giáo và sống
đạo, để xứng đáng với tình thương của Chúa trên mỗi
người chúng ta. Ngay khi làm được nhiều việc Chúa trao,
chúng ta cũng hãy biết vai trò của mình chỉ là người dọn
đường và biết nói như thánh Gioan Tiền Hô: để Chúa lớn
lên còn tôi nhỏ đi.

CHÚA NHẬT HỒNG


Ga 1, 6 – 8 , 19 – 28
Gp.Vĩnh Long

Chúa Nhật hôm nay được gọi là : “Chúa Nhật Hồng, Chúa
Nhật Vui”. Đây là một niềm vui rất to lớn và tràn đầy hy
vọng của những người tin vào Đấng Cứu Thế và đang hân
hoan chờ đón Ngài. Niềm vui này chúng ta được nghe
trong Lời Chúa hôm nay : “Anh chị em hãy vui lên trong
Chúa.! Tôi nhắc lại một lần nữa : Anh chị em hãy vui lên vì
Chúa đã đến gần!...”. Niềm vui này là một niềm vui được ơn
Chúa cứu độ, niềm vui được an bình, niềm vui được hạnh
phúc! Vậy thì chúng ta phải sống như thế nào trong Mùa
Vọng này, để hưởng được trọn vẹn hạnh phúc Chúa ban.?
Chuyện kể rằng Có một Ông Vua kia lúc nào cũng lo âu,
mặc dù sống trong quyền lực và nhung lụa sung sướng
nhưng ông không có hạnh phúc, không biết cách nào để có
được hạnh phúc. Nhà Vua gọi các nhà khôn ngoan lại bàn
hỏi xem làm thế nào trút bỏ những âu lo đang đè nặng tâm
trí Vua đến nỗi Vua không thể nào có được một cuộc sống
hạnh phúc? Nhà thông thái trả lời: “ Chỉ có một cách duy
nhất để giúp nhà Vua . Đó là Vua phải mặc chiếc áo của
người có hạnh phúc thật sự!”. Thế là các sứ giả được sai đi
khắp nơi để tìm kiếm một người đang mặc chiếc áo hạnh
phúc. Nhưng bất kỳ người nào được hỏi đến cũng có lý do
để đau khổ, buồn sầu,.. một điều gì đó đã cướp mất hạnh
85
phúc của họ. Sau cùng thì họ cũng tìm một người, đúng
hơn là một người ăn xin. Người ăn xin này ngồi mĩm cười ở
giữa chợ và tự xưng mình là người hạnh phúc nhất, không
có một điều gì buồn rầu, lo âu. Sứ giả của Nhà Vua nói với
người ăn xin về điều Nhà Vua cần mặc chiếc áo hạnh phúc
ấy, và hứa trả cho người ăn xin một món tiền thật lớn để
mua chiếc áo hạnh phúc ấy. Chúng ta nghĩ sao? Anh chàng
ăn xin này có đồng ý bán chiếc áo hạnh phúc của mình
không? Chúng ta có biết phản ứng của người ăn xin ra sao
không ? Không nín được cười , người ăn xin bật cười to lên
và nói rằng: “ Thật đáng tiếc! Tôi không thể nào làm hài
lòng Nhà Vua được. Vì tôi chẳng có chiếc áo nào cả!!!”.
Vâng người hạnh phúc nhật trên đời lại là người không có
một chiếc áo nào cả!!!

Bài Tin mừng hôm nay Ga 1, 6 – 8 , 19 – 28 cho chúng ta


thấy nhiều người kéo đến với Gioan Tiền Hô để tìm kiếm
hạnh phúc. Và ông cũng đã vạch ra cho họ những con
đường trong chính cách sống của ông để họ thực sự hạnh
phúc khi họ biết tin vào Đấng Cứu Thế đang đến gần. Đó là
những con đường như:

Con đường sống khổ hạnh : Gioan sống ần dật trong


samạc. Sống trong samạc đồng nhĩa với sống khổ hạnh:
sống trong sự khắc nghiệt của thời tiết, trong sự hoang vu
cô tịch, sự đe dọa của thú dữ. Sống khó nghèo , đơn sơ
đạm bạc: mặc áo bằng da thú, ăn châu chấu và mật ong
rừng.

Con đường sống khiêm nhường : Gioan từ chối vinh


quang mà người ta ban tặng cho mình. Ông thành thật
nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế. Ông chỉ là “tiếng

86
kêu trong sa mạc”, không đáng cởi giây giày cho Đấng Cứu
Thế.

Con đường sống trung thực : Gioan đến để làm chứng


về ánh sáng. Trung thực với sứ mạng của mình, một mặc
ông chỉ cho chúng ta thấy ánh sáng thật là ai, mặc khác khi
có người lầm tưởng ông là ánh sáng ấy thì ông thẳng thắn
phủ nhận. Trung thực về những lời nói về mình nên ông
không nhận vinh quang mà người ta lầm tưởng ban tặng.
Trung thực với lòng mình nên Ông sống khổ hạnh, không
phô trương, không giả dối,... Trung thực trong phán đoán
nên ông thẳng thắn khuyên Vua Hêrôđê không được lấy chị
dâu

Con đường sống quên mình : nhìn nhận là người đưa tin
nên ông quên mình để cho Đức Giêsu nổi bật lên. Ông tự
hủy mình để Đấng Cứu Thế được nhận biết.

Tóm lại Gioan Tiền Hô là một chứng nhân tuyệt hảo, Ông là
chứng nhân của ánh sáng, chứng nhân của hy vọng, của
hạnh phúc. Ông là làm chứng cho sự sáng thật là Đức Kitô.
Mùa vọng này, mọi ngươì đang chờ Chúa đến, Chúa muốn
chúng ta giới thiệu Chúa cho người khác, Chúa muốn
chúng ta làm chứng cho Chúa. Thế nhưng rất nhiều khi
thay vì mở đường cho Chúa, chúng ta chỉ lo mở đường cho
chúng ta. Hay thay vì làm chứng cho Chúa thì chúng ta làm
chứng cho ta....

Hôm nay Chúa mời gọi chúng ta hãy nhìn vào tấm gương
của Gioan Tiền Hô để biết cách dọn đường cho Chúa ngự
đến bằng đời sống chứng tá là “ để Chúa lớn lên” và để cho
chúng ta biết đường tìm đến hạnh phúc đích thực.

87
Xin Thánh Gioan giúp chúng ta sống trong ánh sáng Của
Chúa Cứu Thế để chúng ta được hưởng trọn vẹn hạnh
phúc Chúa ban.

Gp.Vĩnh Long

KHIÊM NHƯỜNG
Ga 1,6-8 . 19-28.
Gp.Vĩnh Long
Người ta thường ví Gioan Tẩy Giả như một ngọn đèn biết
tỏa sáng và biết mờ đi một cách đúng lúc. Có những lúc
ông tỏa sáng đến nỗi người ta hiểu lầm ông là Đấng Kitô
màDân Do Thái đang trông chờ, cho đến ngày nay người ta
vẫn đang trông đợi Đấng Kitô. Vì bất cứ một dân tộc nào
đang bị đô hộ cũng trông mong được giải phóng. Có người
còn hy vọng Ngài sẽ cai trị đất nước bằng sự công chính.
Khi ông phủ nhận mình không phải là Đấng Kitô thì họ lại
lầm tưởng là Eâlia. Đối với họ Ê-li-a phải đến trước Đấng
Messia Người ta còn tin rằng chính Ê-li-a xức dầu cho
Đấng Messia làm vua cũng như tất cả các vua đã được xức
dầu. Nhưng Gioan Tẩy Giả đã phủ nhận tất cả những vinh
dự đó.

Vậy, Gioan Tẩy giả là ai? Ông chỉ là tiếng kêu trong hoang
địa hay nói đúng hơn ông chỉ là người cởi giày cho Đấng
đến sau ông mà thôi. Một mẫu người cho đi, một mẫu
người lãnh đạo, một mẫu người với tinh thần phục vụ biết
làm đúng công việc của mình. Có thể nói, Gioan Tẩy Giả là
con người mà tất cả các nhà truyền đạo, các giáo sư đều
phải nên như thế, ông chỉ là một tiếng nói, một ngón tay chỉ
nhà vua. Ông muốn mọi người hãy quên ông, chỉ thấy Nhà
Vua mà thôi.

88
Điều ngạc nhiên hơn nữa là phép rửa do tay người làm thì
không dành cho Israen mà chỉ dành cho những người
ngọai nhập vào Do Thái giáo, tức là những người vốn có
đạo khác, mới tin theo đạo Do Thái . Một người Israen
không bao giờ chịu phép rửa, họ đã thuộc về Chúa Giavê,
nên không cần rửa sạch nữa. Nhưng những người ngoại
bang đến gia nhập Do Thái giáo thì phải chịu rửa sạch
bằng phép rửa. Gioan Tẩy Giả đã bắt dân Israen làm một
việc mà chỉ có dân ngoại mới phải làm. Ông có ý nói tuyển
dân phải được rửa sạch. Đó chính là điều Gioan tẩy Giả tin,
nhưng ông đã không trả lời trực tiếp.

Ông nói: “về phần ta, ta làm phép rửa bằng nước, nhưng
có một Đấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không biết, ta
chẳng đáng cởi dây giày cho Ngài”. Gioan Tẩy Giả không
nêu ra được một nghề nào hèn hạ hơn nữa, mở dây giày là
công việc của một người nô lệ. Một ngạn ngữ của các ra-bi
bảo rằng môn đệ có thể làm cho thầy mình bất cứ việc gì
một đầy tớ phải làm ngoại trừ việc “cởi dây giày”. Việc đó
quá hèn hạ ngay cả đối với một môn đệ. Dầu vậy, Gioan
Tẩy Giả ngụ ý: “Với Đấng đang đến thì cả việc làm đầy tớ
cho Ngài cũng không xứng đáng”.

Chúng ta phải hiểu là lúc đó Gioan đã làm phép rửa cho


Chúa Giêsu rồi, và ông đã nhận ra Chúa. Ở đây, ông nhắc
lại ý đó một lần nữa, và ngụ ý: “Nhà Vua đang đến, để
chuẩn bị đón Ngài , các ngươi phải được tẩy rửa y như bất
cứ người ngoại bang nào. Hãy dọn mình sửa soạn để đi
vào lịch sử của nhà vua”. Chức vụ của Gioan Tẩy Giả là
chức vụ dọn đường. Bất cứ sự cao trọng nào ông có được
đều đến từ sự cao trọng của Đấng mà ông loan báo. Gioan
tẩy Giả là tấm gương lớn về con người sẵn sàng xóa mình

89
đi để người ta chỉ nhìn thấy Chúa Giêsu . Ông nhận thấy
mình là ngón tay chỉ cho thiên hạ thấy Chúa Cứu Thế.

Lạy Chúa, Nguyện Chúa ban cho chúng con ơn biết quên
mình, chỉ nhớ đến Chúa Giêsu thôi. Và nhất là trong mùa
vọng này chúng con luôn biết hướng về Ngài. Amen.

Gp.Vĩnh Long

NGƯỜI LÀM CHỨNG


Manna
? LỜI CHÚA: Ga 1, 6-8.19-28
6
Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. 7
Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng, để mọi
người nhờ ông mà tin. 8 Ông không phải là ánh sáng,
nhưng ông đến để làm chứng về ánh sáng.
19
Và đây là lời chứng của ông Gioan, khi người Dothái từ
Giêrusalem cử một số tư tế và mấy thầy Lêvi đến hỏi ông:
"Ông là ai?" 20 Ông tuyên bố thẳng thắn, ông tuyên bố rằng:
"Tôi không phải là Ðấng Kitô". 21 Họ lại hỏi ông: "Vậy thì thế
nào? Ông có phải là ông Êlia không?" Ông nói: "Không
phải." - "Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?" Ông đáp:
"Không." 22 Họ liền nói với ông: "Thế ông là ai, để chúng tôi
còn trả lời cho những người đã cử chúng tôi đến? Ông nói
gì về chính ông?" 23 Ông nói: "Tôi là tiếng người hô trong
hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Ðức Chúa đi, như
ngôn sứ I-sai-a đã nói". 24 Trong nhóm được cử đi, có mấy
người thuộc phái Pharisêu. 25 Họ hỏi ông: "Vậy tại sao ông
làm phép rửa, nếu ông không phải là Ðấng Kitô, cũng
không phải là ông Êlia hay vị ngôn sứ?" 26 Ông Gioan trả
lời: "Tôi đây làm phép rửa trong nước. Nhưng có một vị
đang ở giữa các ông mà các ông không biết. 27 Người sẽ
đến sau tôi và tôi không đáng cởi quai dép cho Người." 28
90
Các việc đó đã xảy ra tại Bêtania, bên kia sông Giođan, nơi
ông Gioan làm phép rửa.

? SUY NIỆM
Trong bài Tin Mừng trên đây cụm từ làm chứng được dùng
đến bốn lần. Lẽ sống của Gioan là làm chứng. Ông được
sai đến để làm chứng (x. c.6-7).
Cả câu chuyện xảy ra ở Bêtania, bên kia sông Giođan,
cũng là một lời chứng hùng hồn của ông (c.19).Gioan
không làm chứng cho mình hay về mình, bởi lẽ ông không
phải là Ánh Sáng. Ông chỉ là ngọn đèn (Ga 5,35) giúp mọi
người tin vào Ánh Sáng thật là Ðức Kitô.

Sau khi nhiều người tuốn đến chịu phép rửa, tiếng tăm của
Gioan trở nên lừng lẫy. Các nhà lãnh đạo tôn giáo cử một
phái đoàn đến tìm hiểu con người ông. Khi được hỏi lần
thứ nhất: Ông là ai ? Gioan đã đưa ra ba câu trả lời phủ
định: "Tôi không phải là Ðức Kitô" - "Không phải" - "Không".

Những tiếng không dứt khoát và trung thực. Ông không


nhận những danh hiệu người ta nghĩ về ông. Ông chẳng
phải là một Êlia tái giáng hay một vị Ngôn Sứ phi thường
như Môsê.

Gioan chỉ sợ người ta đánh giá quá cao về mình khiến


Ðấng ông giới thiệu bị che khuất. Lần thứ hai được hỏi:
Ông là ai ?

Gioan đã định nghĩa mình là một tiếng hô trong hoang địa,


là lời mời gọi con người sửa đường cho Ðức Kitô. Ông biết
rõ mình là người đến trước nhưng vị đến sau lại có trước
ông và trổi vượt hơn ông ngàn trùng (Ga 1,30). "Tôi không
đáng cởi quai dép cho Người." Làm đầy tớ cho Ðức Kitô,

91
ông nhận mình không xứng. Gioan tự xóa mình trước Ðức
Kitô. Ông chẳng sợ mất uy tín trước bao người ngưỡng
mộ. Ông nhìn nhận phép rửa của ông chỉ nhằm chuẩn bị
cho một phép rửa lớn hơn trong Thánh Thần. Gioan không
ngại giới thiệu môn đệ mình theo Ðức Giêsu, và ông bình
an khi người ta đổ xô đến với Ngài để chịu phép rửa (Ga
3,26).
Có ai siêu thoát như Gioan? Ông từ bỏ trong niềm vui hồn
nhiên.Ông hạnh phúc vì mình đã hoàn thành sứ mạng.
"Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại" (Ga 3,30). Sự
khiêm hạ làm cho lời chứng của Gioan đáng tin hơn.

"Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết."
Hôm nay Ðức Giêsu vẫn là Ðấng xa lạ với nhiều người.
Con người vẫn khắc khoải đi tìm những nẻo đường cứu độ,
trong khi Ðấng Cứu Ðộ đã đến từ 2000 năm. Xin được làm
người chứng như Gioan, giới thiệu cho bạn bè Ðấng mà họ
đang tìm kiếm.

? GỢI Ý CHIA SẺ
• Giới trẻ hôm nay say mê các ngôi sao ca nhạc, điện
ảnh, thể thao... Theo ý bạn, điểm nào nơi Ðức Giêsu
có thể làm cho giới trẻ say mê?
• Ðức Giêsu có phải là mẫu người lý tưởng của các
bạn trẻ không?
• Gioan là con người siêu thoát. Ông không tìm mình,
ông vượt lên trên cái vòng danh lợi. Bạn có quen biết
ai làm chứng tuyệt như Gioan không?

? CẦU NGUYỆN
Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế Người là tất cả của tôi.
Chỉ mong ý muốn trong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi cảm

92
thấy Người ở mọi nơi, đến với Người trong mọi sự, và dâng
Người tình yêu trong mọi lúc.

Chỉ mong tôi chẳng còn gì, nhờ thế tôi không bao giờ muốn
tránh gặp Người. Chỉ mong mọi ràng buộc trong tôi chẳng
còn gì, nhờ đó tôi gắn bó với ý muốn của Người và thực
hiện ý Người trong suốt đời tôi. (R. Tagore)
Manna
NIỀM VUI
Is 61,1-2a.10-11; 1Thes 5,16-24; Ga. 1,6-8.19-28

Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm


I. PHÚC ÂM: Ga 1, 6-8. 19-28
"Giữa các ngươi có một Ðấng mà các ngươi không biết".
Có người đã được Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến
như chứng nhân để làm chứng về sự sáng, hầu mọi người
nhờ ông mà tin. Ông không phải là sự sáng, nhưng ông chỉ
làm chứng về sự sáng. Và đây là chứng của Gioan, khi
những người Do-thái từ Giêrusalem sai các vị tư tế và các
thầy Lêvi đến hỏi ông: "Ông là ai?" Ông liền tuyên xưng,
ông không chối, ông tuyên xưng rằng: "Tôi không phải là
Ðấng Kitô". Họ liền hỏi: "Thế là gì? Ông có phải là Elia
chăng?" Gioan trả lời: "Tôi không phải là Elia". - "Hay ông là
một đấng tiên tri?" Gioan đáp: "Không phải".
Họ liền bảo: "Vậy ông là ai, để chúng tôi trả lời cho những
người sai chúng tôi. Ông tự xưng là ai?" Gioan đáp: "Tôi là
tiếng kêu trong hoang địa: Hãy sửa cho ngay đường Chúa
đi, như tiên tri Isaia đã loan báo". Và có những người thuộc
nhóm biệt phái cũng được sai đến. Họ hỏi Gioan rằng: "Nếu
ông không phải là Ðức Kitô, cũng không phải là Elia hay
một tiên tri, vậy tại sao ông làm phép rửa?" Gioan trả lời:
"Tôi làm phép rửa trong nước; nhưng giữa các ngươi, có
Ðấng mà các ngươi không biết. Ðấng ấy sẽ đến sau tôi,
nhưng chính Ðấng ấy đã có trước tôi và tôi không xứng
93
đáng cởi dây giày cho Người". Việc này xảy ra tại Bêtania,
bên kia sống Giođan, nơi Gioan làm phép rửa.

II. SUY NIỆM Niềm Vui


"Hãy vui lên, hỡi anh em, hãy vui lên! Hãy cảm tạ Thiên
Chúa trong mọi sự, vì đó là thánh ý Người về tất cả anh em
trong Ðức Kitô. Anh em đứng dập tắt tác động của Thánh
Thần" (1Thes 5,16-17).

Lời thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Thessalônikê ngày


xưa, hôm nay Giáo hội lại công bố với chúng ta trong ngày
Chúa nhật thứ III mùa Vọng này.

Trong lúc chờ đợi Ðức Kitô đến, chúng ta phải tỉnh thức,
phải lắng nghe tiếng Chúa kêu gọi. Chính tiếng Người đem
lại niềm vui cho ta, như Yoan Tẩy giả đã làm chứng, khi
ông nói về vai trò tiền hô của mình đối với Ðấng Cứu thế.
"Niềm vui của tôi là được nghe tiếng Ngài.
Niềm vui của tôi đã sung mãn.
Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ dần đi"(Gioan 3,29-30)

1. Giáo Hội Kêu Gọi Chúng Ta Vui Lên. Nhưng Thế Nào
Là Vui?
Theo kinh nghiệm thông thường, vui là khi một ước vọng
của ta được toại nguyện; khi ta thành công trong một nỗ lực
hoặc một dự tính; khi quyền lợi của ta bị tước đoạt mà nay
được phục hồi; và vui nhất là khi ta được gặp lại những
người thân yêu sau một thời gian xa vắng. Tắt một lời, ta
vui khi lòng ta đang trống mà được lấp đầy.

2. Niềm Vui, Theo Nghĩa Thánh Kinh, Chính Trị Là Trạng


Thái Của Con Người Ðược Thiên Chúa Ðổ Ðầy Thánh

94
Thần. Bài sách Isaia hôm nay (Is 61,1-2a.10-11) phác họa
cho ta hình ảnh Ðấng Thiên Sai được Thánh Thần xức cho
dầu hoan lạc: "Thánh Thần Chúa ngự xuống trên tôi... Ngài
sai tôi công bố năm hồng ân của Thiên Chúa".

Năm hồng ân trong Cựu Ước - mà Năm Thánh là điệp ảnh


- quả là một sáng kiến độc đáo Thiên Chúa đề ra cho Dân
Ngài. Nó là khoảng thời gian đặc biệt nhắc cho mọi người
nhớ rằng: tất cả những gì mình có đều là do Thiên Chúa
ban, và mọi người phải nghĩ đến quyền lợi của kẻ khác: bởi
vì mọi người đều có quyền sống tự do và hưởng dùng tài
nguyên trên mặt đất. Năm hồng ân làm nổi bật, nguyên tắc
công bằng và quyền bình đẳng của mọi người trước mặt
Thiên Chúa (Lêvi 25,1-55).

Mở đầu cuộc đời công khai, Ðức Yêsu đã đọc cho mọi
người nghe đoạn sách Isaia trên đây trong hội đường
Nadarét. Và Ngài kết luận: "Hôm nay, đoạn sách thánh ấy
đã thực sự ứng nghiệm cho anh em" (Lc 4,16-21). Và như
thế, Ngài nhận lấy sứ mạng "loan báo Tin Mừng cho những
người nghèo khổ, băng bó vết thương cho những tấm lòng
tan nát, công bố ân xá cho những kẻ bị tù đày, trả tự do cho
những người bị áp bức" (Is 61,1-2; cf Lc 4,18-19).

Ðó là những quyền căn bản của con người: quyền được


sống xứng đáng với nhân phẩm của mình và được tôn
trọng, quyền được hưởng niềm vui làm người tự do và bình
đẳng. Nhưng hơn thế nữa, sứ mạng cứu thế của Ðức Yêsu
Kitô còn nhằm biến đổi mọi người trở thành con cái Thiên
Chúa. Ðiều quan trọng hơn cả trong Tin Mừng Ngài mang
đến cho chúng ta là Thiên Chúa muốn sống giữa loài người
liên đới với nhau như một cộng đoàn hợp nhất, thánh thiện
và hòa bình. Sứ điệp đó thúc đẩy chúng ta nỗ lực xây dựng

95
Nước Trời trong một xã hội công bình và huynh đệ, ở đó
mọi thành phần đều được Thần Khí thánh hóa và quy tụ
quanh Ðức Yêsu Kitô, để cùng tuyên xưng Thiên Chúa là
Cha (Gal 3,16; Rm 8,14-17). Bài sách Isaia loan báo Thiên
Chúa sẽ khoác cho dân Ngài một áo choàng công chính và
cứu độ (Is 61,10) mà thánh Phaolô họa lại bằng lời nguyện
cầu "xin Thiên Chúa bình an thánh hóa anh em" (1Thes
5,23). Niềm vui Ðức Yêsu Kitô mang tới cho ta, chính là
niềm vui của người tự do được làm con Thiên Chúa.

3. Sứ Ðiệp Tin Mừng Là Thế - Sứ Ðiệp Ðấng Thiên Sai Là


Thế Nhưng người Kitô hữu chúng ta phải làm gì để nhận
được niềm vui đó? Thánh Phaolô trả lời: "Anh em đừng dập
tắt tác động của Thánh Linh" (1Thes 5,19) vì chính Thánh
Thần làm nảy sinh mọi sự tốt đẹp, mọi hoa quả nhân đức
"bác ái, hoan lạc, bình an, cao thượng, tận tâm, nhân từ, tín
thác, hiền lành, tự chủ" (Gal 5,22-23), và "đâu có Thánh
Thần, đấy có tự do" (2Co 3,7). Ðặc điểm của thời đại Ðấng
Thiên Sai là Thiên Chúa phủ đầy Thần Khí trên nhân loại,
làm cho mọi tâm hồn chan chứa niềm vui: niềm vui được
Thiên Chúa viếng thăm, được Ngài chúc phúc và ban ơn
cứu độ.

Nhưng hạng người được Thiên Chúa ưu tiên viếng thăm là


những người nghèo (xem Lc 2,24). Họ được, Ngài chúc
lành (Lc 6,20; Mt 5,3) và Tin Mừng cũng được loan báo
trước tiên cho họ (Lc 4,18). Họ được Thiên Chúa ban đầy
hồng ân, vì lòng họ sẵn sàng và khiêm tốn đón nhận.
Những người tiếp xúc với Ðức Yêsu thuở Ngài còn thơ ấu;
cũng như khi Ngài hoạt động công khai đều là những con
người nghèo hèn bé mọn của Yavê: Yacaria, Isave, Maria,
Giuse, đám mục đồng, Simêon, Anna, Gioan Tiền hô, nhóm
môn đệ và đoàn dân nghèo theo Ngài để đi giảng. Ðó là

96
một xã hội nghèo của Ngài và từ đó phải trở thành Giáo hội
của người nghèo; một Giáo hội nhẹ lòng với của cải trần
gian, ít bận tâm về những điều vật chất, để được thanh
thoát và mở rộng tâm hồn đón nhận tác động của Thần Khí
Thiên Chúa biến đổi họ thành những con người tự do.

Hai tâm hồn tiêu biểu nhất trong mùa Vọng là Trinh Nữ
Maria và Gioan Tẩy giả. Họ đều nghèo nhưng cả hai đều
tràn đầy Thánh Thần và vì thế, lòng các ngài chan chứa
niềm vui. Riêng niềm vui của Ðấng Tiền hô thật là sung
mãn: bởi đã nghe tiếng Chúa Cứu Thế, được làm người
dọn đường cho Ngài, để chỉ Ngài cho thiên hạ thấy, rồi vui
vẻ rút lui vào bóng tối; chấp nhận nhỏ dần đi để Ngài được
lớn lên (Gioan 3,29-30).

Người Kitô hữu cũng phải mang đầy niềm vui như Gioan
Tiền hô, một niềm vui thâm thúy của con người ý thức trách
nhiệm, trung thành chu toàn sứ mạng, đúng như ơn gọi
Thiên Chúa đã dành cho.

Mà ơn gọi và sứ mạng đều phát xuất từ Thiên Chúa.


Nhưng để sống đến cùng những đòi hỏi của ơn gọi mình,
người Kitô hữu cũng phải như Ðức Trinh Nữ Maria kết hiệp
mật thiết với Ðấng Cứu Thế. Bởi vậy, khi kêu gọi ta vui lên,
thánh Phaolô cũng nói thêm: "Anh em hãy cầu nguyện
không ngừng" (1Thes 5,16).

Ðó là điều kiện cần thiết mang lại niềm vui sâu xa cho tâm
hồn con người tràn đầy Thánh Linh Thiên Chúa. Và ai có
những lần đã thực sự cầu nguyện, thì cũng đã cảm nghiệm
được niềm vui thiêng liêng, niềm vui của người Kitô hữu.

III. BÀI GIẢNG

97
Thấy Gioan xuất hiện, dân Dothái ngày xưa đã hân hoan
rồi. Nhưng khi nghe Gioan tuyên bố: sắp có Ðấng cao trọng
hơn ông đến, họ còn vui mừng hơn nữa. Vì thế, Chúa nhật
thứ ba mùa Vọng là Chúa nhật hân hoan vui mừng.

Chúng ta hãy vui mừng, không phải chỉ vì đang được nghe
lại tiếng kêu của Yoan. Ngày xưa dân Dothái đã hân hoan
khi thấy Gioan xuất hiện. Tên ông đã gợi lên niềm tin rồi, vì
Gioan có nghĩa là "Thiên Chúa đoái thương". Ngài không
còn ngoảnh mặt đi nữa, nhưng đã bắt đầu nhìn lại Dân
Ngài, để ra tay cứu độ. Và quả thật, đang có nhiều hy vọng
vươn lên. Người ta tuôn đến nghe Gioan giảng; người ta
chen nhau lội xuống nước, thú nhận tội mình, để được ông
rửa cho. Gioan này thật là vị tiên tri vĩ đại. Chúa gửi người
đến cho dân, để sửa soạn gì đây. Dân Chúa cảm thấy phấn
khởi vì sự hiện diện của Gioan Tẩy giả, với phong trào đạo
đức mà ông đang khơi động.

Ngày nay chúng ta cũng có thể phần nào vui lên như thế. Ở
trong Giáo hội toàn cầu cũng như ở nơi Giáo hội Việt Nam
đang nổi lên biết bao phong trào đạo đức. Người ta đi lễ
nhiều hơn trước, rước lễ đông hơn trước, say sưa học giáo
lý và dường như thấy rõ niềm tin lúc này là nguồn an ủi sâu
xa hơn khi nào khác. Ở nhiều nơi, người ta còn được
chứng kiến nhiều buổi cầu nguyện Thánh Linh nữa. Các
phong trào đạo đức đó như đang làm cho bộ mặt Giáo hội
sáng ngời lên, khiến nhiều người có thể hân hoan nghĩ
rằng: tất cả những gì đang xảy ra có thể là cơ hội thanh tẩy
Giáo hội và giúp Giáo hội vươn lên trong sự công chính và
thánh thiện thật.

Nhưng cũng như dân Dothái ngày xưa, chúng ta đừng chỉ
vui với chừng ấy. Ngày xưa khi thấy Yoan xuất hiện, dân

98
Chúa như đã muốn vui luôn trong ánh sáng của người.
Nhưng Phúc Âm hôm nay cho ta thấy: Yoan bảo dân chúng
phải nhìn xa hơn nữa. Ông chỉ rửa trong nước thôi; sắp có
Ðấng đến sau để rửa dân trong Thánh Thần. Chính Ngài
mới là Ðấng Kitô Cứu Thế và ông không đáng cởi dây giày
cho Ngài... Chúng ta ngày nay cũng phải cẩn thận, đừng
dừng lại ở những hiện tượng lạc quan như trên đã nói. Phải
đi sâu hơn, xa hơn. Phải vượt qua mọi hình thức, cho dù
rất đạo đức, để tìm gặp chính Chúa Kitô. Nhiều người trong
ta có lẽ còn giống nhóm Biệt phái và Dothái. Các nhóm này,
ngày xưa, chỉ muốn dừng lại ở Yoan, ngưỡng mộ ông và
coi ông như Cứu Thế. Nhiều Kitô hữu ngày nay cũng
thường chỉ muốn dừng lại ở những cái thấy được, ở các
buổi phụng vụ sốt sắng và các buổi cầu nguyện sầm uất.
Học giáo lý để thuộc chứa không để sống! Rước lễ để sốt
sắng trong nhà thờ chứ không để thêm sức sống đạo ở
giữa đời! Hôm nay, phụng vụ của Giáo hội thúc giục ta phải
đi xa hơn, vượt qua những hành vi và tổ chức đạo đức, để
gặp Chúa Kitô và sống với Ngài.

Chúa Kitô, theo bài đọc I hôm nay, là sứ giả của Thiên
Chúa sai xuống trần gian. Ngài được xức dầu Thánh Thần,
rồi được sai đem Tin Mừng cho người nghèo khó; và công
bố khắp nơi năm hồng ân của Thiên Chúa... Ngày nay,
Chúa cũng đang muốn tìm được những sứ giả như vậy ở
giữa chúng ta. Ngài muốn cho cả Giáo hội của Ngài được
xức dầu hoan lạc để luôn luôn công bố cho mọi người biết
Tin Mừng Chúa đến cứu độ trần gian. Ngài muốn cứu mọi
người từ tận căn, tận rễ, từ những người đang nghèo khổ,
bất cứ về phương diện nào, để đời sống trở thành như năm
hồng ân của Thiên Chúa.

99
Như vậy, tinh thần của ngày Chúa nhật hôm nay, đòi ta
phải lột bỏ mọi vẻ mặt sầu bi, thiểu não. Phải đuổi xa mọi
tâm tư hắc ám và buồn nản. Phải giải tỏa mọi nỗi lòng đau
khổ và tội lỗi. Xưng tội từ hôm nay để tham dự vào mầu
nhiệm Giáng sinh không phải là quá sớm đâu. Phải như
mặc lấy áo phần rỗi và công chính để hoan hỷ đem tin vui
đến cho mọi người.

Và tin vui của Ðức Kitô là gì?


Như lời sách Isaia viết: Ngài muốn "đem hân hoan đến cho
người nghèo, băng bó những tâm hồn đang đau thương,
báo tin ân xá cho những kẻ lưu đày". Ngài muốn nhờ ta bây
giờ làm những công việc ấy, để khắp nơi nổi lên một bầu
khí hân hoan như được hồng ân của Chúa viếng thăm.
Thánh Phaolô trong bài thư hôm nay cũng vạch ra cho ta
con đường thực tế để sống đạo theo tinh thần nói trên.
Ngài bảo ta trước hết phải lạc quan: "Anh em hãy vui mừng
luôn". Rồi hãy có tinh thần cầu nguyện để nhìn thấy thánh ý
Chúa trong mọi việc. Ðừng dập tắt Thánh Thần của Chúa,
đừng làm ngơ trước tiếng gọi của Chúa hằng vang lên
trong mọi sự xảy đến hằng ngày cho ta, hãy duyệt lại tất cả:
bỏ cái xấu đi, và giữ lấy cùng phát triển mọi điều tốt gặp
được.

Như vậy chúng ta sẽ đi vào đường lối của Ðức Kitô, sẽ


sống như Ngài trong cuộc đời trần gian: Ngài đã mặc lấy
thân phận y hệt như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Ngài đã
chấp nhận mọi hoàn cảnh xảy ra, gạt bỏ điều xấu, xây
dựng điều lành. Ngài cứ nhìn vào những người nghèo khó
và khổ sở ở đời để tìm cách kéo gỡ họ ra khỏi thân phận
đau thương. Chính vì vậy Ngài đã trở thành Cứu thế và ban
ơn Cứu độ.

100
Giờ đây trên bàn thờ Ngài muốn cử hành mầu nhiệm cứu
độ đó ở trước mắt chúng ta, để kêu gọi chúng ta đi vào,
dâng mình kết hợp với Ngài, hầu Ngài có thể ngự vào lòng
ta để tiếp tục làm những hành vi cứu độ trong đời sống và
qua đời sống của ta. Ta hãy nhiệt tâm đi vào mầu nhiệm
thánh lễ này.

Ðức Yêsu Là Người Thực


Tôi dám nói rằng: Nếu tôi không nhận biết Chúa Kitô thì đối
với tôi, "Thượng đế" sẽ là một danh từ vô nghĩa. Nếu không
có ơn rất đặc biệt tôi sẽ không thể mường tượng một hữu
thể vô hạn. Thiên Chúa của các triết gia và những nhà bác
học sẽ không giữ vai trò nào trong đời sống luân lý của tôi.
Thiên Chúa đã phải hạ mình xuống trong nhân loại, và
trong một giờ khắc rõ rệt của lịch sử, tại một địa điểm xác
định trên địa cầu, một người được tạo nên bằng huyết
nhục, đã phải tuyên bố mấy lời và làm một vài cử chỉ thì tôi
mới quỳ gối thờ lạy. Nếu Chúa Kitô đã không phán: "Lạy
Cha chúng con..." thì không bao giờ tự mình tôi có ý niệm
về tình nghĩa tử này. Lời kêu cầu ấy đã không khi nào tự
đáy lòng tôi thốt ra trên môi. Tôi chỉ tin cái gì tôi đụng chạm
và nom thấy, cái gì sát nhập vào bản thể tôi. Và chính vì
thế, tôi đã tin Chúa Kitô. Tất cả những khuynh hướng muốn
giảm bớt thân phận con người nơi Chúa Kitô sẽ đi ngược
với một ý hướng sâu thẳm nhất của tôi. Có lẽ vì thế mà tôi
vẫn không thích nhìn dung nhan Chúa Kitô Vua và Ðấng
Thiên Sai toàn thắng bằng hình ảnh khiêm tốn và tiều tụy
của Con Người mà qua việc bẻ bánh trong quán trọ làng
Emmau các lữ khách đã nhận ra. Người là người anh mang
đầy thương tích và là Thiên Chúa của chúng ta.
Francois Mauriac Vie De Jésus

Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

101
BÀI ĐỌC THÊM 1
GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

NGÔI LỜI NHẬP THỂ VÀ ƠN CỨU ĐỘ


Phải hiểu cứu độ như thế nào?
Về Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh, chúng ta ca ngợi tình
yêu vô biên của Thiên Chúa thì hay lắm. Nhưng tôi tự hỏi:
Ngôi Lời Thiên Chúa đã xuống thế hơn 2000 năm rồi mà
thế giới có vẻ gì là đã được cứu độ đâu? Hình như càng trở
nên tồi tệ hơn thì có! Vậy, ơn cứu độ của Thiên Chúa ở
đâu? (V.L. - VN)

Ông V.L. mến,


Quả thật, tôi muốn đồng ý với ông ngay, nhất là sau nhiều
biến cố đau thương của thế giới (động đất, sóng thần…)!
Thắc mắc của ông là dịp tốt để tôi tự vấn. Vâng, tôi cũng
vẫn cứ tự hỏi: Ơn cứu độ của Thiên Chúa ở đâu nào? Nếu
quả thật có ơn cứu độ của Thiên Chúa toàn năng, thì tại
sao thế giới càng ngày có vẻ càng đi xuống như thế? Tôi
nhớ đến lời ca của Đức Maria trong Kinh Ngợi Khen
(Magnificat):
“Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,
dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bê những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
người giàu có, lại đuổi về tay trắng”(Lc 1,51-53).

102
Đẹp thật! Nhưng làm sao dung hòa với những gì chúng ta
đang thấy chung quanh chúng ta, đó là đau khổ, bất công,
bạo quyền? Và thế là phát sinh một vấn nạn mang tính
lưỡng nghi: Hoặc là Thiên Chúa muốn mà không thể loại
trừ sự dữ, mà như thế thì Người không toàn năng! Hoặc
Người có thể loại trừ sự dữ nhưng Người lại không muốn,
mà như vậy Người không phải là thánh! Cuối cùng, người
ta có thể đi đến chỗ nghi ngờ chính sự hiện diện của Thiên
Chúa.

Ngẫm nghĩ mãi rồi tôi nhận thấy là, để hiểu ơn cứu độ, tôi
cần phải nhận ra hai mặt trái của cuộc sống: 1) những
chuyện chướng tai gai mắt của lịch sử nhân loại; 2) khuynh
hướng tự nhiên của cá nhân chuồi vào ích kỷ. Hai phương
diện này liên hệ với nhau: Đa số các thảm trạng của nhân
loại phát sinh do người ta chọn một trong hai phương diện
này. Chẳng hạn đâu có phải là không tránh được chuyện
chia hành tinh chúng ta ra làm hai thế giới giàu và nghèo?
Hành tinh của chúng ta hẳn là đã khác nếu mọi người đều
dứt khoát chọn hướng tốt.

Như thế, tôi hiểu trách nhiệm của tôi đối với cuộc sống của
cá nhân tôi và đối với thế giới của chúng ta. Thiên Chúa đã
tạo dựng chúng ta không cần chúng ta, nhưng Người
không thể cứu chúng ta mà không có chúng ta. Người
muốn tôi cộng tác với Người để cứu lấy bản thân tôi và anh
chị em tôi. Ơn cứu độ Đức Kitô mang lại không phải là một
“bữa cỗ” dọn sẵn tôi chỉ việc đến mà hưởng! Đức Kitô
không phải là một ông bụt tốt lành chờ tôi “thỉnh” là hiện ra
mà dùng cây đũa thần vung lên để giải quyết cho tôi mọi
sự! Nghĩ tới đây lại thấy bực mình: Hóa ra là Đức Kitô
muốn còn “hành” tôi như thế? Nhưng suy cho cùng, tôi hiểu

103
là chẳng những Người không “hành” tôi, mà còn “tôn” tôi
nữa; Người tôn trọng tự do của tôi và sự trưởng thành của
tôi trong chọn lựa thôi. Các nhà thần học thì nói: công trình
cứu độ do Chúa Giêsu thực hiện đã thực sự đạt kết quả mỹ
mãn, đấy là “ơn cứu độ khách quan”; nhưng nếu muốn
thực sự hưởng ơn cứu độ ấy, còn phải mở lòng ra mà đón
lấy ơn cứu độ ấy, nghĩa là tin vào tình yêu Thiên Chúa, đón
nhận Đức Giêsu là Đấng Cứu thế, và đấy là “ơn cứu độ chủ
quan”. Và những bi kịch đau khổ vẫn xảy ra, bởi vì không
phải mọi người đã đạt được “ơn cứu độ chủ quan”. Tôi
hiểu, một đàng ơn cứu độ là một quà tặng Thiên Chúa ban
không phải vì tôi xứng đáng, bởi vì nếu Thiên Chúa không
cứu độ tôi, chẳng bao giờ tôi có thể nghĩ ra là Thiên Chúa
có thể cứu độ tôi; nhưng đàng khác Người lại muốn tôi
cộng tác với Người trong mức độ có thể để cùng với Người
tạo ra kết quả cho tôi và cho anh chị em tôi.

Đến đây tôi nghĩ tới chuyện anh mù Giêrikhô: anh nhất định
kêu tới Đức Giêsu dù người ta ngăn cản, và anh ta bày tỏ
một niềm tin vào bản thân Đức Giêsu còn chính xác hơn
những người vẫn đang đi theo Người. Hoặc bài Tin Mừng
kể phép lạ hóa bánh ra nhiều: phần đóng góp của các tông
đồ không bao nhiêu, nhưng các ngài thật sự đã góp phần
với Đức Giêsu để giải quyết một vấn đề rất lớn. Hay là
đoạn Tin Mừng kể chuyện các người bạn vô danh thòng
dây thả một anh tê liệt từ trên mái nhà xuống trước mặt
Đức Giêsu: họ đã thực sự góp phần cứu chữa người bạn
của họ. Tất cả chúng ta đều bị tê liệt hoặc mù lòa câm điếc
nhiều kiểu, và ơn cứu độ có nghĩa là tình yêu của Thiên
Chúa, nổi rõ nơi Đức Giêsu, đến gặp chúng ta và chữa lành
chúng ta. Người hoàn toàn tự do trong việc chọn lựa cách
thức: cứu chữa trực tiếp hay gián tiếp. Bởi vì hôm nay đang
có khắp nơi những người được Đức Giêsu dùng làm trung

104
gian để chữa lành người khác. Nói cho cùng, qua Đức
Giêsu, qua những người trung gian, chúng ta được tái tạo
lại đúng như Thiên Chúa muốn, đó là “những con người tự
do để có thể yêu thương”. Chỉ có điều chúng ta là những
học sinh quá chậm hiểu, nên cần phải có nhiều thời gian để
nhận ra đường lối làm việc này của Thiên Chúa! Đàng
khác, bi kịch vẫn xảy ra bởi vì vẫn còn vô số người không
chấp nhận một Thiên Chúa như thế.

Rất mong là những chia sẻ này có thể góp thêm chút ánh
sáng cho ông. Chúng ta cầu nguyện cho nhau.

Thân ái.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

ÔNG GIÀ NOEL LÀ AI?


Mùa Giáng Sinh là Mùa của "Ông Già Noel". Vậy "Ông Già Noel" là ai?

Được biết nhân vật lịch sử lâu đời này có thật.


Người Pháp gọi là: Le Père Noel (ông Cha, linh
mục Noel), người Anh gọi trực tiếp là SANTA
CLAUS (Thánh Nicôla) Thánh giám mục, mừng
lễ ngày 6 tháng 12 mỗi năm, trước lễ Giáng Sinh gần hai
chục ngày.

Người Pháp thân mật gọi Ngài là “Le Père Noel” (ông cha
Noel) vì ngài liên hệ nhiều đến lễ Noel, nhất là với trẻ em,
đến nỗi sau khi Ngài qua đời đã lâu rồi, mà hình ảnh Ngài
còn được lưu truyền cho hậu thế, đầu tiên là ở Châu Âu, rồi
tới toàn thế giới qua bóng dáng một cụ già đẹp lão, râu tóc
bạc phơ, mặc áo choàng đỏ, đội mũ chóp đỏ, lưng vác một
giỏ lớn đây đồ chơi, bánh kẹo.
105
Người ta còn bày đặt để thi vị hóa, để mua vui cho trẻ em,
bằng cách “bắt ông cha Noel đêm 24-12 phải chui qua lò
sưởi vào phòng ngủ của các em, bỏ đồ chơi, bánh kẹo vào
những chiếc giày các em để bên lò sưởi, hay bỏ vào những
chiếc vớ (bít tất) mà các em treo ở chân giường”. Đúng ra
là cha mẹ các em bỏ vào đó để khuyên dụ các em phải
ngoan thì “Cha Noel” mới cho quà! Một kiểu giáo dục!

Song tới Việt Nam, bà con không hiểu rõ nguồn gốc, thấy
hình cụ già râu tóc bạc phơ, gọi là Ông già cho tiện.

Sau đây xin sơ lược vài nét chính về cuộc đời “Cha Noel”.
Cậu Nicolas, con trai duy nhất một gia đình qúy tộc giàu có
ở Bắc Âu, từ nhỏ đã sống rất nhân hậu, đạo đức, quyết
định đi tu, nhưng gia đình neo đơn, cậu phải ở lại nhà để
phụng dưỡng cha mẹ già.

Một hôm đi ngang qua một gia đình lối xóm, Nicolas nghe
thấy tiếng đàn bà con gái khóc. Cậu ngạc nhiên vì không hề
nghe nói có ai đau ốm trong gia đình này? Tới gần, Nicolas
nghe thấy cô con gái lớn, gia đình chỉ có hai con gái, vừa
khóc vừa than thở rằng: vị hôn phu của cô không chịu làm
đám cưới vì gia đình cô nghèo không có của hồi môn (số
tiền cô dâu mang theo về nhà chồng). Nicolas lẳng lặng về
nhà lấy một túi tiền vàng (thời xưa chưa có tiền giấy) đem
sang. Cậu ném “choang” một tiếng vào cánh cửa đóng, rồi
nấp sau bụi cây chờ xem kết quả.

Người cha gia đình ra mở cửa:

106
- Ai gọi cửa đó? Không có ai sao? Ồ túi tiền vàng của ai
liệng vào đây? Lạy Chúa, ai liệng tiền vào nhà tôi thế này?
Của ai đây?......
Không có ai lên tiếng. Ông đem túi tiền vào nhà mừng rỡ
nói:
- Thôi đừng khóc nữa, Chúa ban cho rồi đây!
Thế rồi một tuần lễ sau, đám cưới cô chị được cử hành vui
vẻ. Một thời gian sau, Nicolas cũng kín đáo giúp tiền gia
đình này để đám cưới cô em được tốt đẹp. Nicolas còn
giúp đỡ nhiều gia đình nghèo khó gặp hoạn nạn hay bệnh
tật quanh vùng.

Sau khi cha mẹ đã qua đời, Nicolas vào chủng viện, rồi
được thụ phong linh mục. Tài sản cha mẹ để lại, cha
Nicolas dùng để cứu giúp những gia đình nghèo khó, bệnh
tật, gặp hoạn nạn. Cha cũng đặc biệt lưu tâm tới những trẻ
em nghèo. Nhất là vào dịp lễ Giáng Sinh, suốt trong tháng
12 mỗi năm, cha có thói quen đem bánh quà, đồ chơi, tự
tay phân phát cho trẻ em nghèo quanh vùng, cũng là để
nhắc nhở mọi người là mùa Giáng Sinh đã tới. Từ đó,
người ta gọi là Le Père Noel, “ông Cha Noel”.

Sau này được tấn phong lên hàng Giám mục, và dù đã lớn
tuổi, Ngài vẫn giữ thói quen thương yêu, giúp đỡ các trẻ em
nghèo, hoặc gặp tai nạn.

Có một buổi sáng trời giá lạnh, Đức cha Nicolas bước vào
một quán ăn nhỏ bên đường cách đô thị chừng 15km. Chủ
quán nhận ra Đức giám mục liền chào Ngài. Đức cha hỏi:
“Quán có gì ăn không?” Chủ quán thưa: “Dạ, có thịt, trứng
và bánh mì, nhưng hết mất rượu vang. Xin Đức cha vui
lòng ngồi nghỉ chờ con ít phút, con vào trong làng mua
rượu”.

107
Chủ quán đi rồi, Đức cha Nicolas xuống bếp, mở nắp khạp
thịt, vỗ vào hông khạp và gọi:
- Dậy đi, các con!
-
Thế là có ba bé trai lùng nhùng từ đống thịt tươi mới ướp
muối, liền lại, sống lại và bước ra. Ngài chỉ chỗ cho ba đứa
trẻ lấy quần áo mặc vào, rồi lên nhà trên ngồi vào bàn ăn
chờ. Thì ra đó là ba bé trai nhà nghèo, chiều hôm trước đi
mót lúa ngoài cánh đồng, bị đói lạnh, đã vào quán xin ăn, bị
chủ quán giết chết, chặt ra bỏ vào khạp ướp muối để sẽ
nấu món ăn bán cho khách. Thánh nhân biết được nên đã
tới cứu các cháu.

Lát sau chủ quán về tới, giật mình trông thấy ba đứa bé
anh đã giết chết, ngồi cạnh Đức giám mục. Anh sợ hãi quỳ
xuống trước mặt Ngài thú tội:
- Con nghèo quá nên đã làm bậy, xin Đức Cha tha tội
cho con!
Ngài giải tội cho anh, lại còn cho anh một túi tiền để làm
vốn và khuyên anh từ nay không được làm điều ác. Sau đó
Ngài bảo anh dọn bánh mì, chiên trứng, bốn cha con ăn
xong, Ngài dẫn ba đứa bé đi theo về trả lại cho gia đình và
cấp dưỡng cho chúng được ăn học.

Những truyện về vị thánh giám mục này còn nhiều, nhưng


điều chủ yếu muốn nói đến là Ngài rất gần gũi với lễ Giáng
sinh, hay giúp đỡ dân nghèo, đặc biệt là bạn của các thiếu
nhi. Dù khi còn ở gia đình, khi đã đi tu, khi làm linh mục hay
khi đã thành giám mục, khi còn trẻ hay khi đã râu dài tóc
bạc, mỗi mùa Giáng Sinh về Ngài Nicolas lại mang trên
lưng một bao lớn bánh mì đầy ắp, đem tới từng nhà chia
cho trẻ em nghèo để chúng mừng lễ Giáng sinh. Trẻ em
Pháp reo lên: « Le Père Noel est là!” (Cha Noel kia rồi!).

108
Pháp có bài ca “Petit Papa Noel”, còn Anh và Hoa Kỳ thì
“Santa Claus is Coming to Town” (Thánh Nicolas đang tới
đô thị) và “Mama Sita, I am looking for Santa Claus, It’s
Christmas Day” (Má Sita ơi, con đang chờ Bố Nicolas, Lễ
Giáng Sinh tới rồi).
***
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, cuộc đời cha thánh Nicolas đã
thắp sáng lên một ngọn đuốc tình yêu trong thế gian, đặc
biệt là trong những tháng ngày đêm đông lạnh lẽo này. Xin
cho con biết bắt chước cha thánh Nicolas, khi không thể
làm một ngọn đuốc sáng rực thì xin là một đốm lửa nhỏ
trong ánh tối mập mờ của thế gian. Khi không thể dâng hiến
trọn vẹn một gia tài cho Chúa và tha nhân thì cũng xin dạy
con biết cho đi những món quà bé nhỏ, đơn sơ nhưng gói
trọn niềm yêu mến. Những món quà trong ngày kỷ niệm
sinh nhật Chúa không chỉ đến với những người thân thương
trong gia đình mà trải dài đến với những anh em nghèo đói
hơn đang sống quanh mình.

Chúa biết tình yêu con nhỏ bé, tâm hồn đầy những tính
toán, khả năng vật chất hạn hẹp, khi không thể làm và sống
như cha thánh Nicolas, thì xin cho mỗi người chúng con là
một “Little Santa Claus”, một ông già Noel nho nhỏ. Baby
Giêsu ơi, Ngài sinh ra mang niềm vui cho cả nhân loại,
cuộc đời cha thánh Nicolas mang niềm vui cho bao người,
đặc biệt là trẻ em, xin cho con mang niềm vui đến cho một
người xa lạ, vâng chỉ một người thôi, trong mùa Giáng Sinh
này, để lễ kỷ niệm ngày Sinh nhật Chúa năm nay có một ý
nghĩa đặc biệt hơn trong cuộc sống con.

LTCT

109
BÀI ĐỌC THÊM 2
GIÁO LÝ VỀ THÁNH PHAOLÔ
THỤ TẠO MỚI VÀ CON NGƯỜI MỚI
Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý mới thứ mười sáu của ĐTC Bênêđictô XVI về
Thánh Phaolô trong buổi Triều Yết Chung ngày 10-12-2008 tại Sảnh Đường
Phaolô VI.
Khi tin vào Chúa Kitô và lãnh nhận bí tích Rửa tội, tín hữu trở thành chi thể
của Thân Mình Mầu Nhiệm Chúa là Giáo Hội, trở thành thụ tạo mới, có cuộc
sống mới kết hiệp với Chúa, và được dưỡng nuôi bằng các bí tích.

Anh chị em thân mến,


giáo huấn của thánh Phaolô giới thiệu với chúng ta một
giáo lý phong phú về ”thụ tạo mới” và ”con người mới” mà
chúng ta tất cả đều được mợi gọi trở thành, đặc biệt qua
các bí tích.

Như đã biết, việc lạm dụng sự tự do khiến cho con người


chống lại sự thật và ý muốn của Thiên Chúa, và làm ô
nhiễm các thực tại nhân trần, đặc biệt là các tương quan
nền tảng với Thiên Chúa, giữa người nam và người nữ,
giữa con người và thiên nhiên. Chúa Giêsu Kitô giúp chúng
ta thắng vượt được tình trạng ô nhiễm đó. Với Chúa lịch sử
con người có một khởi đầu mới. Với Người, là Đấng đến từ
Thiên Chúa, bắt đầu một lịch sử mới được làm thành bởi
tiếng xin vâng của Người đối với Thiên Chúa Cha, không
phải bởi sự kiêu căng của một thoát ly giả tạo, mà bởi tình
yêu và sự thật.

Như thế, Rửa Tội là bí tích của sự hiệp thông vào cái chết
110
và sự sống lại của Chúa Kitô. Chúng ta chết đi cho tội lỗi,
và chúng ta sống lại với Chúa Kitô cho một cuộc sống mới
được thánh hóa và nên công chính, và chúng ta ”mặc lấy”
Chúa Kitô. Bí tích Rửa Tội là bước khởi đầu và là mầm
giống của cuộc sống mới. Nó tháp nhập chúng ta vào Thân
Mình Mầu Nhiệm của Chúa Kitô là Giáo Hội.
Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha đưa ra câu hỏi: Với bí
tích Rửa Tội Chúa Giêsu bước vào cuộc sống của tôi,
nhưng Người biến đổi nó như thế nào đây? Câu trả lời căn
bản của thánh Phaolo là Chúa Giêsu biến đổi tôi qua Thánh
Thần, là Đấng đã tạo dựng nhân loại mới trong ngày lễ Ngũ
Tuần. Chúa Thánh Thần là Đấng thực sự tạo dựng ra một
sự hiệp nhất mới, thắng vượt các chia rẽ bằng cách dùng
hai yếu tố: đó là loan báo Lời Chúa và các Bí Tích, đặc biệt
là bí tích Rửa Tội và bí tích Thánh Thể.

Trong mối dây liên hệ mà thánh Phaolo nhận ra giữa bí tích


Rửa Tội và Chúa Thánh Thần, thánh Phaolô hé mở cho
chúng ta thấy ý nghĩa của điều theo sau là bí tích Thêm
Sức. Tín hữu được rửa tội, con người mới sống vì Thần
Khí.

Lòng tin không phải là hoa trái suy tư của chúng ta, mà là
ơn Thiên Chúa ban. Lòng tin không đến từ việc đọc, nhưng
từ việc lắng nghe Lời Chúa. Nó không phải chỉ là một điều
nội tại, mà là một tương quan. Nó giả thiết một cuộc gặp
gỡ, nó giả thiết sự hiện hữu của một người khác, loan báo
và tạo ra sự hiệp thông. Không ai có thể tự biến mình trở
thành Kitô hữu.

Chỉ có Chúa Kitô mới có thể thành lập Giáo Hội mà thôi. Và
chúng ta nhận được đức tin từ Giáo Hội. Kitô giáo không
phải là một cái gì thuần túy thiêng liêng, vì nó bao hàm một

111
thân thể. Trở thành tín hữu Kitô thì hơn là một cuộc giải
phẫu mỹ thuật, thêm vào vài vẻ đẹp cho một cuộc sống đã
ít nhiều đầy đủ. Nó là một khởi đầu mới, và một cuộc tái
sinh, là cái chết và sự sống lại.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha suy tư về bí tích


Thánh Thể, được chính Chúa Giêsu thành lập trong Bữa
Tiệc Ly. Lời hứa Giao Ước Mới hiện thực trong hy tế tình
yêu của Chúa Giêsu Kitô. Nhưng đâu là ý nghĩa sâu xa của
bí tích Thán Thể? Đức Thánh Cha trả lời:

Cừ hành Thánh Thể có nghĩa là Chúa Kitô trao ban chính


Ngài cho chúng ta, trao ban tình yêu của Ngài để làm cho
chúng ta trở nên đồng hình dạng với Ngài và như thế để
tạo dựng một thế giới mới.

Chúa Kitô kết hiệp với từng người trong chúng ta, nhưng
cũng kết hiệp với những người sống gần chúng ta nữa, và
như thế Ngài hiệp nhất chúng ta tất cả với Ngài. Vì thế cử
hành bí tích Thánh Thể mà không có tình liên đới với tha
nhân, thì là một làm dụng bí tích Thánh Thể. Từ suy tư đó
chúng ta có thể tiếp nhận ý nghĩa giáo lý của thánh Phaolô
về Giáo Hội như Thân Mình của Chúa Kitô.

Thật thế Giáo Hội không phải là một nghiệp hội hay một tổ
chức như kiểu Nhà Nước. Giáo Hội là một thân thể, một cơ
phận chứ không phải phải là một tổ chức.

Từ sự kết hiệp giữa tín hữu với Chúa Kitô trong bí tích
Thánh Thể, Đức Thánh Cha cũng hướng tư tưởng tới hôn
nhân Kitô. Hôn nhân sẽ trung thực và sống động trong sự
phát triển yêu thương nhân bản, nếu nó luôn gắn liền với
sự hữu hiệu của Lời Chúa và ý nghĩa của bí tích Rửa Tội.

112
Chiều kích thần học này của hôn nhân trong giáo huấn của
thánh Phaolô, bao gồm sự trao đổi tình yêu có chiều kích
hàng dọc là tùng phục nhau theo gương mẫu tình yêu của
Chúa Kitô đối với Giáo Hội.

= ĐTC Bênêđictô XVI


Chuyển ngữ Linh Tiến Khải

113