You are on page 1of 109

CN IV MÙA VỌNG B

Mc. 1, 26 - 38
21-12-2008
Ơn gọi của Đức Maria............. ......Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 02
Khi lời Thiên Chúa Hứa....... ........Lm. PX Vũ Phan Long, ofm 15
Chuẩn bị gần cho việc Chúa đến..Lm Carolô Hồ Bặc Xái 17
Quyền năng của Thiên Chúa sẽ....Lm Mark Link, SJ 27
CN IV. Mùa Vọng B.........................Lm Augustine, SJ 32
Trở nên dụng cụ của Chúa .. .......Lm Giuse Đinh Lập Liễm 37
Chúa Nhật của Mẹ..........................Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR 45
Trời đất giao hòa............................Lm Anphong Trần Đức Phương 49
Đấng đầy ơn phước.......................Lm Giuse Nguyễn Hữu An 53
Sứ điệp lời Chúa.............................Lm. An Phong, OP 59
Con đường hòa bình... ..................Lm Giuse Đỗ Vân Lực, OP 61
Thiên Chúa tìm cho mình một.......Lm Giuse Nguyễn Cao Luật, OP 65
Mầu nhiệm truyền tin..................Lm Giacob Phạm Văn Phượng, OP 70
Mừng vui lên...................................Manna 73
Mầu nhiệm nhập thể..................Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm 76
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC .............................................................................92
Gia phả của Đức Giêsu.......... ...Lm. PX Vũ Phan Long, ofm ..............92
Mùa Vọng và Giáng sinh............Nguyễn Quý Đạt.................................95
Giáo Huấn của ĐGH. Benedicto XVI................................................... 105

1
ƠN GỌI CỦA ĐỨC MARIA
Luca 1,26-38
Mọi ơn gọi đến từ lòng nhân từ và sủng ái của Thiên Chúa và có kèm theo sự
trợ giúp hữu hiệu của Ngài.
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

I. NGỮ CẢNH
Câu truyện thứ hai của TM Lc trong bài tường thuật về thời
thơ ấu song song với câu truyện thứ nhất: cũng như cuộc
chào đời lạ lùng của Gioan được loan báo cho cha là
Dacaria (1,5-25), cuộc chào đời lạ lùng của Đức Giêsu sẽ
được loan báo cho mẹ Người là Đức Maria (1,26-38). Cũng
giống như trong lời loan báo cuộc chào đời của Gioan, ở
đây cũng có một cái khung gồm năm yếu tố thuộc về thể
văn loan báo các cuộc chào đời trong Cựu Ước (xem các
cuộc chào đời của Ítmaên, Isaác, Samson, Samuên):
a) thiên thần đi vào (1,28),
b) Đức Maria bối rối (1,29),
c) sứ điệp của trời cao (1,30-33),
d) vấn nạn của Đức Maria (1,34bc),
e) thiên thần trấn an và cho dấu chỉ: bà Êlisabét có thai
(1,35b-37).

II. BỐ CỤC
Bản văn có thể chia thành ba phần:
1. Khung cảnh và các nhân vật (1,26-27);
2. Cuộc đối thoại giữa thiên thần Gabriel và Đức Maria
(1,28-37):
a) Chặng 1 (cc. 28-33),
b) Câu hỏi trung tâm (c. 34),
c) Chặng 2 (cc. 35-37);
3. Sự chấp thuận của Đức Maria (1,38).

2
III. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
- Gabriel (26): Tác giả Lc nhận ra rằng “sứ thần của Chúa”
là thiên thần thuộc lời sấm của Đaniel 9 về bảy mươi tuần;
ngài đã đến với Đanien “vào lúc dâng lễ vật ban chiều” (Đn
9,21; x. 8,16). Cùng với Micaen (Đn 10,13; 12,1) và
Raphaen (Tb 3,17), Gabriel là một trong ba thiên thần được
nêu tên rõ ràng trong Cựu Ước. Tên Gabrý-’êl có nghĩa là
“Thiên Chúa là anh hùng / chiến sĩ của tôi”.

- Nadarét (26): Nadarét không được nhắc đến cả trong Cựu


Ước lẫn trong các tác phẩm của Gioxép hoặc các tác phẩm
chú giải của các kinh sư. Ta biết đến thôn làng này nhờ một
mảnh bản văn khắc bằng tiếng Híp-ri tìm ra năm 1962 ở
Xêdarê bờ biển, trong đó liệt kê hai mươi bốn nhóm tư tế
(x. 1,5) và các làng hoặc thành phố nơi các nhóm ấy cư trú.
Nhóm thứ mười tám là nhóm Happozzez được ghi là cư trú
tại Nsrt, “Nazareth”. Bản văn khắc này thuộc về cuối thế kỷ
III hoặc đầu thế kỷ IV sau CG. Ở đây tên Hy-lạp được ghi là
Nazareth, nhưng ở Lc 4,16, tên được ghi la Nazara (cũng
như ở Mt 4,13).

- thành hôn (27): Thuật ngữ “thành hôn” hay “đính hôn” ở
đây là dạng perfect participle passive emnêsteumenên của
động từ mnêsteuô, “đính hôn”, “betroth”. Dạng ngữ pháp
này có nghĩa là việc đính hôn đã xảy ra và vẫn còn tồn tại.
Giáo sư Fitzmyer (chuyên về truyền thống Luca) đã dịch
emnêsteumenên là “engaged to a man”; Bản dịch Đại kết
(TOB) dịch là “accordée en mariage à un homme”; Bản dịch
của École de Jérusalem (BJ) dịch là “fiancée à un homme”.
Dường như toàn câu văn Luca lấy từ bản LXX của Đnl
22,23 (parthenos memnêsteumenê andri, “khi một cô gái
còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông”; x. Mt 1,18).

3
Ở bên Paléttina, việc kết hôn của người con gái diễn ra
thành hai giai đoạn:
(1) Lễ “cam kết” (Híp-ri êrusin = La-tinh sponsalia), hay
là việc trao đổi về hình thức sự ưng thuạn kết hôn
trước mặt những người chứng (x. Ml 2,14) và trả
khoản môhar, “giá cô dâu” (một khoản tiền trả cho cha
mẹ cô gái; x. St 34,12; Xh 22,16; 1 Sm 18,25);
(2) Chính lễ “thành hôn” (Híp-ri nissuin) hoặc là lễ
“mang (rước)” cô gái về nhà chàng trai (x. Mt 1,18;
25,1-13).

Lễ cam kết đã cho chàng rể có những quyền pháp lý trên


cô gái, và cô này đã có thể được gọi là “vợ” (Hy-lạp gynê, x.
Mt 1,20.24) của anh. Việc cam kết chỉ bị phá hủy khi anh ta
ly dị cô. Do đó bất cứ hành vi nào của cô vi phạm các
quyền làm chồng của anh đều bị coi là ngoại tình. Sau lễ
nghi cam kết, người con gái thường vẫn ở tại gia đình mình
khoảng một năm trước khi được mang về nhà chồng.

Như vậy, vào lúc được truyền tin tại Nadarét, Maria đã cam
kết thành hôn với Giuse rồi, có nghĩa là đã kết hôn đúng
pháp lý với Giuse, đã thật sự là “vợ” của ông; cô chỉ chưa
được rước về nhà Giuse thôi. Với lại, nếu đọc Lc 2,5,
chúng ta thấy: Dù lúc đó Maria đã về chung sống với Giuse
rồi, tác giả Luca vẫn gọi Maria là emnêsteumenê: Ở đây,
Fitzmyer cứ dịch sát là “his fiancée”; TOB dịch thẳng ra là
“épouse”; còn BJ cũng dịch là “sa fiancée”. Dù sao, dựa
vào bản Luca Hy-lạp, có thể hiểu hứa hôn cũng là thành
hôn. Bản Nova Vulgata đã dịch là desponsatam, “hứa hôn”,
nhưng đến Lc 2,5, bản văn đã dịch và thêm từ ngữ uxor để
giải thích từ desponsata thành một câu như sau: “cum
Maria desponsata sibi, uxore praegnante”, “cùng với Maria
đã đính hôn với ông, vợ đang có thai”. Như thế Bản Nova

4
Vulgata vừa giữ từ ngữ có nghĩa “đính hôn”, vừa giải thích
theo nghĩa truyền thống Híp-ri: “đính hôn” đây có nghĩa là
“vợ” về pháp lý.

- Giuse (27): Hầu chắc đây là dạng gọi tắt của tên Yôsýp-
yah, “Ước gì Đức Chúa thêm cho” (các đứa con khác ngoài
đứa con vừa chào đời) (x. Er 8,10; St 30,24).

- Maria (27): Đây là tên của chị Môsê (Híp-ri Miryam, Xh


15,20). Bản LXX thường viết là Mariam, cũng như Lc ở
đây, nhưng cách đọc tốt hơn, là Maria, được chứng thực
trong các bản văn ngoài Kinh Thánh (x. Lc 2,19). Miryam
(và Mariam) là một tên Sê-mít, có nguồn gốc Canaan, có
liên hệ với danh từ mrym (Ugarít và Híp-ri) nghĩa là “độ cao,
đỉnh cao”.

- Mừng vui lên (28): Chaire (đọc là khai-rê) là kiểu chào


thông thường trong văn chương Hy-lạp và được cả người
Sê-mít dùng trong Tân Ước (x. Mt 26,49; 28,9). Nhưng theo
nhiều nhà chú giải, kiểu chào Sê-mít quen thuộc hơn, là
eirênê (Lc 10,5; 24,36; Ga 20,19.21.26), dịch từ tiếng Híp-ri
shalôm hay tiếng A-ram shelâm. Dạng mệnh lệnh chaire
(do động từ chairein), “Mừng vui lên” xuất hiện bốn lần
trong Bản LXX (Xp 3,14; Ge 2,21; Dcr 9,9; Ac 4,21). Ba ví
dụ đầu là một lời sấm ngỏ với Israel hoặc Giêrusalem để
nói về cuộc tái thiết Dân Thiên Chúa: “Thiếu nữ Sion”, tức
Dân Chúa, được mời gọi vui lên, vì được Đức Chúa đến
viếng thăm. Rất có thể Lc đang quy chiếu về Xp 3,14-17, và
như thế ám chỉ Đức Maria là “thiếu nữ Sion”, cũng với cùng
một lý do: “Đức Chúa ở cùng bà”.

- Hỡi đấng đầy ân sủng (28): Công thức này chính là một
tên riêng thiên thần đặt cho Đức Maria (x. Tl 6,12), trong

5
tiếng Hy-lạp là kecharitômenê (pf. pass. ptc). Từ ngữ này
cho thấy Đức Maria giống như một bình chứa sự sủng ái
của Thiên Chúa; do đó nên dịch là “đấng [đã và vẫn còn
đang] được [Thiên Chúa] sủng ái” (vì “được sủng ái” nên
cũng “đầy ân sủng” như là kết quả của sự sủng ái: Bản Vg
dịch là gratia plena). Câu này sẽ được giải thích bởi câu 30,
“vì bà được đẹp lòng Thiên Chúa” (NTT: “người đã đắc
sủng nơi Thiên Chúa”). Xem thêm St 6,8; 18,3. Trong Tân
Ước, từ charis trước tiên có nghĩa là lòng sủng ái của Thiên
Chúa tỏ ra nơi hành vi thi ân giáng phúc nhưng-không.

- Đức Chúa ở cùng bà (28): Công thức này được dùng


thường xuyên trong Cựu Ước, nhưng dưới dạng lời chào
thì chỉ có hai lần (R 2,4; Tl 6,12). R 2,4 là một lời cầu chúc;
Tl 6,12 là một tuyên bố. Do Lc 1,28 tương tự Tl 6,12, có thể
hiểu đây là một tuyên bố.

- Người sẽ nên cao cả (32): x. St 16,12.

- Đấng Tối Cao (32): Có thể danh hiệu này liên hệ đến danh
hiệu Híp-ri ‘Elyôn hoặc danh hiệu A-ram ‘Illây, “Đấng Cao
cả, Đấng được tôn dương”.

- tôi không biết đến việc vợ chồng (34): dịch sát là “vì tôi
không biết một người nam (hoặc: một người chồng, Hl.
andra)”. Động từ ginôskein, “biết”, thường được dùng như
một uyển ngữ để chỉ quan hệ vợ chồng (St 19,8; Tl 11,39;
x. Mt 1,25).

- Thánh Thần (35): Sự song đối giữa “Thánh Thần” và


“quyền năng Đấng Tối Cao” khiến ta hiểu là hai công thức
này giải thích lẫn nhau: Thần Khí được hiểu theo nghĩa

6
Cựu Ước là quyền lực sáng tạo và năng động của Thiên
Chúa hiện diện nơi các con người.

- ngự xuống (35): eperchesthai. Câu văn có nghia là con trẻ


sẽ sinh ra sẽ là một “quà tặng” của Thiên Chúa theo nghĩa
viên mãn.

- sẽ rợp bóng (35): Động từ episkiazein được dùng trong


Xh 40,35 cho đám mây vinh quang Thiên Chúa tràn đầy
Lều Tạm trong sa mạc.

- không có gì là không thể làm được (37): Câu này nhắc


đến St 18,14 (LXX) liên hệ đến Sara, vợ son sẻ của
Abraham.

- xin Người thực hiện cho tôi như lời thiên sứ nói (38): Lc
dùng thể opt. genoito, diễn tả một một nguyện ước có thể
đạt được.

Các điểm gặp nhau giữa Lc 1 và 2 Sm 7 (bản văn NTT):


2 Sm 7 Lc 1
c. 9: “một danh lớn” c. 32: “Ngài sẽ làm lớn”
c. 13: “ngai vương quyền c. 32: “ngai Đavít cha Ngài”
nó”
c. 14: “nó sẽ là con Ta” c. 32: “Con Đấng Tối cao”
c. 16: “nhà ngươi, vương c. 33: “vua trên nhà Yacob
quyền của ngươi” cho đến đời đời”

IV. Ý NGHĨA CỦA BẢN VĂN

* Khung cảnh và các nhân vật (26-27)


Tác giả Luca cho thấy vẫn là thiên thần Gabriel loan báo cuộc
chào đời của Đức Giêsu. Khung cảnh thời gian là “tháng thứ sáu”

7
rõ ràng phản ánh bút pháp của Lc, vì nhằm nối kết truyện này với
phần kết của truyện Gioan Tẩy Giả (1,24b-25). Ông Dacaria đã
được loan báo về cuộc chào đời và nhiệm vụ của con ông là
Gioan. Nay đến lượt Đức Maria được loan báo về cuộc chào đời
và định mệnh của con ngài là Đức Giêsu. Đức Maria được giới
thiệu là “trinh nữ” hai lần, còn Giuse được gọi là vị hôn phu chứ
không phải là chồng (như Mt 1,18-20) thuộc nhà Đavít.

* Cuộc đối thoại giữa thiên thần Gabriel và Đức Maria


(28-37)
a) Liên hệ đến Thánh Mẫu học
Đức Maria không những được biết là con của mình sẽ chào
đời, mà còn được Thiên Chúa kêu gọi và được làm cho có
khả năng trở thành mẹ của người con ấy. Mẹ được tháp
vào trong chuỗi những người được gọi trứ danh, đã nhận
được từ nơi Thiên Chúa một nhiệm vụ đặc biệt nhằm đưa
lại sự thiện hảo của Dân Thiên Chúa. Trong lời chào của
thiên thần “Mừng vui lên, hỡi Đấng được sủng ái, Thiên
Chúa ở cùng bà” (1,28), khung cảnh của ơn gọi của Mẹ
được xác định, đó là: niềm vui, ân sủng và sự trợ giúp của
Thiên Chúa. Lời đầu tiên của thiên thần theo sự thường
được dịch ra thành một lời chào chung chung: “Kính chào
bà!”. Nhưng luôn luôn khi xuất hiện trong bối cảnh là những
bước khởi đầu của Đức Giêsu, vị sứ thần của Chúa đưa lại
niềm vui lớn lao: cho Dacaria (1,14) và các mục đồng
(2,10). Tất cả có đó để cho thấy rằng nét tiêu biểu của sứ
điệp trung tâm và quan trọng hơn của ngài là niềm vui; do
đó lời đầu tiên của ngài có nghĩa chính xác là Chaire, “Hãy
vui lên!”. Điều đầu tiên Đức Maria nhận được từ thiên sứ
của Thiên Chúa là: “Bà có mọi lý do để vui lên. Điều tôi có
nhiệm vụ đến nói cho bà thì liên hệ đến bản tính thâm sâu
nhất của bà. Hãy vui lên!”. Công thức này sẽ được nhắc lại
dưới dạng phủ định: “Xin đừng sợ”.

8
Đức Maria được mô tả là “Đấng đầy ân sủng. Đấng được
sủng ái”, được chọn làm Mẹ của Đấng được chào là Đấng
Cứu Độ, Đấng Kitô, Đức Chúa (2,11). Yếu tố này của mẫu
tính của Đức Maria sẽ lại xuất hiện trong TM III (Lc 8,19-21;
11,27-28) và trong sách Cv (Cv 1,14). Đức Maria không trả
lời ngay với niềm vui chan hòa. Mẹ bị đánh động, Mẹ suy
nghĩ, xin một giải thích, rồi chấp nhận nhiệm vụ với niềm
tin. Chỉ trong cuộc gặp gỡ với bà Êlisabét, niềm vui của
Đức Maria mới bung mở ra, trong bài thánh ca ngợi khen
(1,46-55).

Câu nói thứ hai của thiên thần là “bà được sủng ái”, cho
hiểu lý do của niềm vui này: “Bà được sủng ái, nghĩa là
Thiên Chúa đã ban cho bà cách vĩnh viễn ân sủng của
Ngài, sự sủng ái của Ngài, sự bằng lòng của Ngài. Tình yêu
đầy nhân ái của Ngài được ngỏ với bà”. Thiên thần nói tiếp:
“Vì bà đẹp lòng Thiên Chúa” (1,30); câu này diễn tả ý nghĩa
của cụm từ “bà đầy ân sủng”. Đặc điểm này nơi Đức Maria
nổi bật đến nỗi thiên thần đã chào Mẹ không bằng tên riêng
“Maria”, mà bằng “Bà-được-sủng-ái” như một tên riêng mới.
Quan hệ của Thiên Chúa với Mẹ được diễn tả ra như thế.
Nền tảng ơn gọi của Đức Maria và của mọi niềm vui được
xác định như thế. Hầu như có thể nói “Maria” là tên Mẹ đã
nhận được từ cha mẹ; còn “Bà-đầy-ân-sủng/được-sủng-ái”
là tên đã được Thiên Chúa ban cho Mẹ.

Thiên thần lại nói: “Đức Chúa ở cùng bà”, nhắm tới sự giúp
đỡ của Thiên Chúa. Đây không phải là một sự hiện diện
tổng quát (và mơ hồ) của Thiên Chúa, nhưng là sự trợ giúp
thực sự, hữu hiệu. Lời đảm bảo này chỉ được ban cho
những vĩ nhân được kêu gọi trong lịch sử dân Thiên Chúa
(Giacóp, Môsê, Giôsuê, Ghít-ôn, Đavít). Thiên Chúa không
chỉ giới hạn vào việc kêu gọi, rồi bỏ mặc người ta, nhưng

9
đồng hành với họ và làm cho họ có khả năng chu toàn
nhiệm vụ. Ngài đảm bảo là Ngài hiện diện và trợ giúp họ
thường xuyên. “Đức Chúa ở cùng bà” sẽ được chứng thực
bằng cuộc chào đời của con trẻ.

Đức Maria đã phản ứng lại lời chào của thiên thần vừa trên
bình diện cảm xúc vừa trên bình diện lý trí: bà ngạc nhiên
(“rất bối rối”) và suy nghĩ (“tự hỏi”). Mẹ mở ra với sứ điệp
này và cố gắng hiểu sâu xa hơn. Thiên thần liền trình bày
nhiệm vụ của Đức Maria: “Này đây, bà sẽ thụ thai, sinh hạ
một con trai và đặt tên là Giêsu”. Trên nền tảng là khả năng
tự nhiên của Mẹ là phụ nữ, Đức Maria được gọi đưa lại sự
sống cho Đức Giêsu, Mẹ phải đón nhận cuộc sống con
người của Mẹ vào lòng. Đức Maria cũng phải cho Người
một cái tên, rồi trước và hơn những người khác, Mẹ phải
dành hết thì giờ và trọn bản thân mà chăm sóc Người cả về
thân xác lẫn tinh thần trong nhiều năm.

Khi hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến
việc vợ chồng?” (c. 34), Đức Maria xin thêm một giải thích
nữa. Mẹ đón nhận các lời của thiên thần trọn vẹn, không
đòi bổ sung cũng không góp vào những suy tư riêng. Mẹ
tuyên bố về tình trạng của Mẹ là không có khả năng chu
toàn nhiệm vụ được ký thác (x. Gr 1,6tt). Câu hỏi với hàm ý
là Đức Maria thiếu khả năng là một bản lề trong cuộc đối
thoại của Mẹ với thiên thần, đã đưa đến một mạc khải rõ
ràng hơn: thiên thần đã loan báo sự chào đời của Đấng
Mêsia, bây giờ ngài phải loan báo về thể thức trinh khiết
của cuộc chào đời ấy. Thiên thần cho biết sự trợ giúp
quyền năng của Thiên Chúa: chính quyền lực tác sinh,
sáng tạo của Thiên Chúa sẽ làm cho Đức Maria có khả
năng phục vụ cuộc sống của Đức Giêsu.

10
b) Liên hệ đến Kitô học
Lời loan báo chính thức bắt đầu với lời chào của thiên thần
Gabriel. Lời này gồm hai tuyên bố về đặc tính lạ thường
của con trẻ ngài sẽ cho chào đời và về sự hiện diện đặc
biệt của Thiên Chúa trong cuộc đời con trẻ.

Cũng như nỗi bất hạnh của bà Êlisabét đã được cất đi do


sự can thiệp của Thiên Chúa nơi một người con trai sẽ trở
thành “nhân viên” của YHWH, một ngôn sứ trước khi Ngài
đến, thì tình trạng đồng trinh của Đức Maria sẽ được ảnh
hưởng của Thiên Chúa tận dụng để Mẹ mang thai một
người con trai, người này sẽ là thừa kế vua Đavít và là Con
Thiên Chúa. Người sẽ là “Cao Cả” (một danh hiệu dành
riêng cho YHWH trong Bản LXX), sẽ được chào là Con
Đấng Tối Cao, và sẽ ngự trên ngai vàng Đavít để trị vì tới
muôn đời. Đây là tầng ý nghĩa thứ nhất (cc. 32-33). Ở tầng
ý nghĩa thứ hai (c. 35), Người được xác định là Đấng
Thánh, Con Thiên Chúa. Nếu sự thành thai của Gioan đòi
hỏi một phép lạ, sự thành thai của Đức Giêsu, được trình
bày song song, cần có một phép lạ lớn hơn, đó là sự thụ
thai do một trinh nữ.

Sự thành thai Đức Giêsu xảy đến do Chúa Thánh Thần


xuống trên Đức Maria và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ
rợp bóng trên Mẹ (1,35); kết quả là Đức Giêsu sẽ là Con
Thiên Chúa. Các động từ eperchesthai và episkiazein đều
có nghĩa bóng, diễn tả sự can thiệp huyền bí của Thánh
Thần và quyền năng Thiên Chúa đưa tới kết quả là vai trò
của Đức Giêsu trong dòng tộc Đavít và tư cách Con Thiên
Chúa của Người.

Trong cả hai tuyên bố cho Đức Maria, Đức Giêsu được xác
định là thuộc dòng dõi Đavít và vai trò của Người là Đấng

11
Mêsia theo lời sấm của Nathan trong 2 Sm 7 (so sánh 2 Sm
7,9.13-14.16 với Lc 1,32-33). Tuy nhiên, bởi vì không có
chỗ nào trong nền văn chương Do-thái tiền Kitô giáo ghi
rằng Đấng Mêsia được mong đợi có tên “Con Thiên Chúa”
cách minh nhiên, chúng ta hiểu rằng danh hiệu “Con Thiên
Chúa” không được hiểu theo nghĩa thiên sai. Như vậy, nếu
Đức Giêsu là Đấng Mêsia thuộc dòng tộc Đavít (x. cc. 32-
33), Người không chỉ là “Con Thiên Chúa” theo nghĩa thiên
sai; không chỉ là Đấng Mêsia nhà Đavít, Người còn là Con
Thiên Chúa nữa.

Ở tầng thứ hai, một cấu trúc song song được vận dụng để
nói rằng Mẹ sẽ thụ thai nhờ can thiệp của Thiên Chúa, và
do đó, con của Mẹ sẽ là Con Thiên Chúa: “Thánh Thần”
đến trên Mẹ và “quyền năng Đấng Tối Cao” rợp bóng trên
Mẹ là những công thức song song để nói về can thiệp của
Thiên Chúa.

* Sự chấp thuận của Đức Maria (38)


Đối với Lc, Đức Maria là kiểu mẫu cho người tín hữu, được
loan báo là có phúc. Và bởi vì Mẹ đã được sủng ái, Mẹ sẽ
được tuyên bố là có phúc bởi mọi thế hệ (1,48). Trong Cv
1,14, Mẹ ngồi giữa các tín hữu để chờ đợi Thánh Thần mà
Đức Giêsu đã hứa. Một điểm quan trọng hơn nữa, đó là
Đức Maria là “nữ tỳ của Chúa” (1,38). Ở đây Lc báo trước
cách ngài sẽ mô tả Đức Maria trong Tin Mừng, đặc biệt ở
8,19-21: tại đây, Đức Maria sẽ là người “nghe lời Thiên
Chúa và đem ra thực hành”. Còn ở 1,38, Đức Maria tỏ ra
như là người cộng tác với chương trình cứu độ của Thiên
Chúa. Khi cho thiên thần gọi Đức Maria là “đầy ân sủng”,
Thiên Chúa đã cho Mẹ biết đâu là tương quan của Người
với Mẹ. Nay tự nhận mình là “nữ tỳ của Chúa”, Đức Maria
diễn tả đâu là tương quan của Mẹ với Thiên Chúa. Mẹ nhìn

12
nhận mình được gọi phục vụ Thiên Chúa. Mẹ muốn lắng
nghe Chúa và đi theo ý muốn của Ngài. Trong toàn bộ Kinh
Thánh, không có một phụ nữ nào, ngoại trừ Đức Maria,
được gọi là “nữ tỳ của Chúa”.

+ Kết luận
Đức Maria được ký thác một nhiệm vụ đặc biệt. Hẳn là
chúng ta phải nhìn nhận ơn gọi của Mẹ là một ơn gọi đặc
biệt và vui mừng với Mẹ. Nhưng xuyên qua nhiệm vụ của
Mẹ, chúng ta có thể ghi nhận các đặc tính tổng quát của
mọi ơn gọi phát xuất từ Thiên Chúa. Ơn gọi đến từ lòng
nhân từ và sủng ái của Thiên Chúa và có kèm theo sự trợ
giúp hữu hiệu của Ngài. Con người phải dấn thân trọn vẹn
và tận dụng hết thì giờ để phục vụ Đức Giêsu. Khi đó, ơn
gọi sẽ đưa lại niềm vui, niềm vui phát xuất từ việc phục vụ
ấy.

Nhưng điểm còn quan trọng hơn nữa, đó là giáo huấn của
tác giả Lc về Đức Giêsu: Người là Đấng Mêsia và là Con
Thiên Chúa. Danh hiệu này, không phải là Đức Giêsu sẽ
chinh phục được, nhưng thuộc về Người theo quyền ngay
khi Người đến trần gian.

V. GỢI Ý SUY NIỆM

1. Để có thể thực sự hiểu Đức Maria đầy ân sủng và Thiên


Chúa bày tỏ lòng thương yêu Mẹ có nghĩa là gì, ta cần phải
trước tiên hiểu Thiên Chúa là ai. Đọc Tv 8, chúng ta nhận
ra sự ngỡ ngàng kinh ngạc của tác giả khi đứng trước công
trình của Thiên Chúa và sự cao cả uy hùng của Ngài được
bày tỏ ra trong đó: “Con người là ai mà Chúa cần nhớ đến,
Phàm nhân là gì mà Chúa phải chăm lo?”. Mỗi ơn gọi có
đặc điểm là người được gọi càng lúc càng để cho tiếng gọi

13
nắm bắt lấy mình sâu xa hơn. Họ mở cả bản thân ra với
tiếng gọi và tìm cách hiểu hết ý nghĩa của nó.

2. Sứ mạng của Đức Maria nối dài và kết thúc sứ mạng của
Israel. Đức Maria là “thiếu nữ Sion” sẽ mang Đấng Mêsia
trong lòng. Mẹ là “nữ tỳ của Chúa” để đảm nhận và làm trọn
ơn gọi của dân Thiên Chúa, là tôi tớ của Thiên Chúa, cũng
như ơn gọi của những tôi tớ trứ danh của Thiên Chúa trong
Cựu Ước (Abraham, Giacóp, Môsê, Đavít, Salômôn, Isaia
và Người Tôi Tớ của Đức Chúa ở Is 40–55).

3. Khi nghe loan báo Gioan Tẩy Giả sẽ chào đời, ông
Dacaria đã yêu cầu một dấu chỉ chứng tỏ sứ điệp đáng tin.
Còn Đức Maria thì tin ngay sứ điệp, không đòi hỏi dấu chỉ.
Câu hỏi của Mẹ không phải là dấu chứng tỏ một sự hoài
nghi, nhưng là một lời xin ánh sáng để soi sáng đức tin của
Mẹ. Chính những giải thích sau đó của thiên thần Gabriel
xác nhận điều này. Thánh Anselmô đã nói: Tin là lý trí đi tìm
sự hiểu biết. Nhưng rồi thiên thần đã cho một dấu chỉ: Bà
Êlisabét có thai được 6 tháng rồi.

4. Là nữ tỳ của Chúa, Đức Maria gắn bó với chương trình


của Thiên Chúa và diễn tả ao ước được thấy chương trình
đó được thể hiện. Mẹ đón nhận ơn gọi của mình không mù
quáng cũng không theo cách chẳng đặng đừng, nhưng với
ý thức sáng suốt về nhiệm vụ của mình và tự do quyết định
đi theo ý muốn của Thiên Chúa. “Trong các công trình của
Ngài, Thiên Chúa luôn muốn sử dụng các dụng cụ … Thiên
Chúa, Đấng đã ban cho chúng ta có ý chí tự do, muốn rằng
chúng ta phục vụ Ngài cách tự do trong tư cách là những
dụng cụ, bằng việc ý chí của ta ưng thuận ý muốn của
Ngài, giống như cách của Mẹ rất thánh khi Mẹ nói: «Tôi đây

14
là nữ tỳ của Chúa, xin Người thực hiện cho tôi như lời thiên
sứ nói»” (Thánh Maximilianô Kolbe)

5. Lời đầu tiên được ngỏ với Maria trong Tân Ước là một
lời mời gọi vui tươi: “Mừng vui lên!”. Một lời chào như thế
được liên kết với biến cố Đấng Cứu Thế ngự đến. Với
Maria là người đầu tiên được loan báo một niềm vui sau đó
sẽ được loan báo cho toàn dân; Mẹ tham dự vào đó theo
một cách thức và trong một mức độ phi thường. Nơi Mẹ,
niềm vui của Israel cũ được tập trung và được viên mãn;
nơi Mẹ, niềm hạnh phúc thời đại thiên sai dứt khoát nổ tung
ra. Niềm vui của Đức Trinh Nữ Maria đặc biệt là niềm vui
của “phần dư tồn” Israel (Is 10,20t), là những người nghèo
đang chờ đợi ơn cứu độ của Thiên Chúa và trải nghiệm
lòng trung thành của Ngài (Đức Gioan-Phaolô II).

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

KHI LỜI THIÊN CHÚA HỨA


ĐÃ ĐẾN LÚC ĐƯỢC THỰC HIỆN
2 Sm 7,1-5.8b-11.16; Rm 16,25-27; Lc 1,26-38
Lm PX Vũ Phan Long, ofm

Lời thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma trong Thánh Lễ hôm
nay không chỉ là lời chứng hùng hồn cho sứ điệp ngài rao
giảng, mà còn là một lời vinh tụng ca chan hòa tình yêu dân
lên Thiên Chúa. Lời ca gồm tóm tất cả Lịch sử cứu độ. Lời
ca đưa ta đi vào tận chiều sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa,
đồng thời vén mở cho thấy “mầu nhiệm vốn được giữ kín từ
ngàn xưa, nhưng nay lại được biểu lộ như lời các ngôn sứ
trong Sách Thánh … và nhờ Đức Giêsu Kitô” (Rm 16,25-
26.28).

15
* “Dòng dõi người, Ta thiết lập cho đến ngàn đời” (Tv
88,5; x. 2 Sm 7,16)
Vua Đavít lo lắng về triều đại và dân tộc mình, vì vua phải
cai trị một vương quốc không thống nhất: vua được xức
dầu lần đầu tại miền Nam (2 Sm 2,1-4) và lần sau tại miền
Bắc (2 Sm 5,1-3) và tại Giêrusalem (2 Sm 5,6-10).

Ngôn sứ Nathan đã trả lời cho mối bận tâm của nhà vua:
Thiên Chúa luôn bảo trợ ông (2 Sm 7,8-9) và miêu duệ ông
(c. 12).

Lời loan báo của Nathan chỉ là một sứ điệp tức thời đáp lại
nỗi lo âu của Đavít, và đã trở thành lời hứa: Triều đại Đavít
sẽ trường tồn (c. 16). Nhà vua muốn xây một cung điện để
tôn vinh Hòm Bia, nhưng Đức Chúa, bằng kiểu chơi chữ
(“nhà” vừa có nghĩa là “một công trình xây dựng bằng gạch
đá” vừa có nghĩa là “miêu duệ; con cháu”), đã ngăn cản
(“Ngươi mà xây nhà cho Ta sao?”) và hứa sẽ làm cho nhà
Đavít được trường tồn (“Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng
lên”) (cc. 1-3.11b).

* “Và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,33)


Nay đã đến lúc lời Thiên Chúa hứa với vua Đavít được
thực hiện.

Thiên thần Gabriel đã đến để báo tin Con Chúa nhập thể
cho Trinh Nữ Maria. Câu truyện Truyền tin chìm ngập trong
bầu khí cánh chung với các câu trích Cựu Ước làm nền (x.
Xp 3,16; Dcr 9,9) ( Lc 1,27-28).

Những danh xưng của Đấng Mêsia (cc. 31-32) làm sống lại
các lời hứa với các tổ phụ và qua môi miệng các ngôn sứ:
• Tên “Giêsu”: danh xưng này nhắc lại lời hứa Nathan
(Lc 1,31; x. 2 Sm 7,11),
16
• Người sẽ nên cao trọng và được gọi là “Con Đấng
Tối Cao” (Lc 1,32; x. 2 Sm 7,14): đây là tước hiệu
của một nhân vật vĩ đại (x. Tv 2,7; 28,1; 81,6; 88,7),
• Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít,
tổ tiên Người (Lc 1,32; x. 2 Sm 7,16; Is 9,9),
• Sứ thần còn đi xa hơn lời sấm Nathan, vì bao trùm cả
nhà Giacóp, tức là Đấng Mêsia sẽ hợp nhất Giuđa và
Israel lại để thiết lập một “triều đại vô cùng vô tận” (Lc
1,33; x. Ed 37,15-28; Mk 5,4).

* Thái độ của những người nhận lời hứa


Vua Đavít trung thành và tin tưởng (x. Tv 88,27); Đức Maria
khiêm nhượng và sẵn sàng (Lc 1,38).

Vua Đavít đã cai quản một triều đại có Thiên Chúa ở cùng;
Đức Maria trở thành Đền thờ để Thiên Chúa cư ngụ giữa
loài người.

Mỗi tín hữu cũng phải là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên
Chúa giữa trần gian, nhờ kết hợp mật thiết với Người, đặc
biệt nhờ sống Lễ Tế Tạ Ơn (Thánh Lễ) chuyên cần.

Lm PX Vũ Phan Long, ofm

CHUẨN BỊ GẦN CHO VIỆC CHÚA ĐẾN


Lm. Carolô Hồ Bặc Xái
I. DẪN VÀO THÁNH LỄ
Càng gần đến lễ Giáng sinh, lời cầu chúc mà chúng ta vẫn
nghe ở đầu Thánh lễ "Chúa ở cùng anh chị em" càng thêm
ý nghĩa. Ðây chính là lời ngôn sứ Natan nói với vua Ðavít
trong bài đọc I hôm nay, và cũng là lời thiên sứ Gabriel nói
với Ðức Mẹ trong bài Tin Mừng. Chúng ta hãy dọn tâm hồn
cho xứng đáng để Chúa thực sự ở cùng chúng ta.
17
II. GỢI Ý SÁM HỐI
• Ðã bao dịp lễ Giáng sinh chúng ta chỉ lo chuẩn bị bề
ngoài mà không lo chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng.
• Ðã bao dịp lễ Giáng sinh chúng ta chỉ lo cho bản thân
và gia đình mình mà không quan tâm đến những
người khác.
• Ðã bao dịp lễ Giáng sinh người công giáo chỉ biết
mừng lễ với nhau mà không chia xẻ niềm vui cho anh
em lương dân.

III. LỜI CHÚA


1. Bài đọc I: 2 Sm 7, 1-5. 8b-11. 16
Sau khi vua Ðavít đã chiến thắng mọi quân thù và đã yên vị
trong Hoàng cung, ông muốn xây cho Chúa một ngôi nhà.
Ông đem dự định ấy ra hỏi ngôn sứ Natan. Natan thỉnh ý
Chúa xong, trở lại trả lời cho Vua Ðavít:
Thiên Chúa không cần ở trong những ngôi nhà vật chất cho
dù có sang trọng và vững chắc bao nhiêu đi nữa.
Ngược lại, Thiên Chúa muốn xây "nhà" cho Ðavít, nghĩa là
củng cố triều đại của ông cho bền vững đến muôn đời.

2. Ðáp ca: Tv 88
Tv này ca ngợi Thiên Chúa đã trung thành giữ lời Ngài đã
hứa với Ðavít là sẽ cho "nhà" (triều đại) của ông bền vững
muôn đời.

3. Bài đọc II: Rm 16, 25-27


Thánh Phaolô suy gẫm về mầu nhiệm cứu độ: đó là điều
được Thiên Chúa dấu kín từ đời đời nhưng nay nhờ Ðức
Giêsu mà được tỏ bày cho muôn dân.
Thật đúng như lời ngôn sứ Natan đã nói với vua Ðavít và
thiên sứ Gabriel nói với Ðức Mẹ: triều đại của Ðức Giêsu
mở rộng đến vô biên

18
4. Tin Mừng: Lc 1, 26-38
Nếu nhìn lại lịch sử bằng cái nhìn của loài người thì xem ra
Lời Thiên Chúa hứa với Ðavít (một triều đại trường tồn) đã
không được thực hiện, bởi vì từ khi nước Do thái bị đế
quốc Babylon thôn tính thì không còn vua thuộc dòng dõi
Ðavít nữa.

Nhưng Thiên Chúa có cách hành động vượt ngoài dự đoán


của loài người: Ðức Giêsu là dòng dõi Ðavít chính là vị Vua
sẽ làm cho triều đại Ðavít vững bền mãi mãi. Qua biến cố
truyền tin, Ðức Giêsu bắt đầu nhập thể trong lòng Ðức
Trinh nữ Maria. Thiên sứ Gabriel đã nói cho Ðức Mẹ biết về
tương lai của hài nhi: "Thiên Chúa sẽ ban cho Ngài ngai
báu Ðavít tổ phụ Ngài... và triều đại Ngài sẽ vô tận".

IV. GỢI Ý GIẢNG


* 1. Loài người muốn xây nhà cho Chúa
Bài đọc I hôm nay thuật rằng vua Ðavít muốn xây cho Chúa
một ngôi nhà nhưng Ngài từ chối. Tin Mừng theo Thánh
Luca cũng thuật rằng khi tới lúc Ðức Giêsu sắp sinh ra,
Thánh Giuse và Ðức Mẹ không tìm được chỗ trong các
quán trọ nên Ðức Mẹ phải sinh Ðức Giêsu trong hang đá.
Thiên Chúa không cần đến những ngôi nhà của loài người
chúng ta!

Ngôi nhà mà Thiên Chúa muốn chính là một triều đại bền
vững muôn đời, triều đại bắt đầu với Ðavít và tiếp nối bởi
những kẻ thực lòng kính mến tôn thờ Ngài. Ngôi nhà mà
Thiên Chúa muốn là những tâm hồn như Ðức Maria, luôn
khiêm tốn vâng theo thánh ý Chúa.

Ðể chuẩn bị Lễ Giáng sinh, chúng ta cũng "cất nhà" cho


Chúa. Ðó là những hang đá, máng cỏ theo kiểu truyền

19
thống; những mô hình cách điệu, những bức họa theo kiểu
hiện đại; những trang trí lộng lẫy huy hoàng v. v. Nhưng
chúng ta phải biết rằng Chúa không thích những ngôi nhà
đó cho bằng những đền thờ được xây dựng trong chính
tâm hồn chúng ta và tâm hồn những người chung quanh
chúng ta.

* 2. Thiên Chúa xây nhà cho loài người


Vua Ðavít có kế hoạch xây một Ðền thờ huy hoàng cho
Chúa bằng tất cả những vật liệu quý giá nhất mà ông có thể
có được. Ðức Maria cũng có một hướng sống mà Người
cho là đẹp lòng Chúa nhất: "Tôi không biết đến người
nam".

Thiên Chúa không từ chối ý tốt đó: Ngài nói với Ðavít "Ðiều
gì ngươi nghĩ trong lòng thì cứ thực hiện". Nhưng Ngài giúp
vua Ðavít và Ðức Maria thực hiện theo một cách thức vượt
ngoài dự tưởng của các ngài: Natan nói với Ðavít "Thiên
Chúa ở cùng bệ hạ"; Thiên sứ Gabriel cũng nói với Maria
"Thiên Chúa ở cùng cô". Ngôi nhà mà Thiên Chúa cùng xây
dựng với loài người chính là tâm hồn con người.

Nhưng do đâu mà tâm hồn vua Ðavít được Chúa chọn làm
nhà? Do lòng sám hối sâu xa về tội đã phạm. Và do đâu mà
tâm hồn Ðức Maria trở thành nhà của Chúa? Do lòng
khiêm tốn và tuyệt đối tin tưởng vào Chúa: "Này tôi là tôi tớ
Chúa, xin hãy thành sự nơi tôi như lời thiên sứ truyền".

* 3. Ðón nhận Chúa


Hai gương mặt nổi bật hôm nay là Vua Ðavít và Ðức Maria.
Cả hai giống nhau ở điểm là muốn làm cho Chúa những gì
tốt đẹp nhất, nhưng cuối cùng điều tốt đẹp ấy không phải là

20
do hai vị làm cho Chúa mà là đón nhận việc Chúa làm cho
mình.

Chuyện của hai vị gợi cho chúng ta một số ý tưởng:


Thiên Chúa quý chuộng thiện chí của con người. Vì thiện
chí nên vua Ðavít và Ðức Maria được Thiên Chúa chọn.
Nhưng Thiên Chúa có chương trình của Ngài. Chương
trình này vượt quá dự tính của con người. Nhờ vâng lời,
con người được tham dự vào chương trình của Thiên Chúa
và thiện chí của con người được Thiên Chúa nâng lên đến
tầm mức kết quả không ngờ.

Chúng ta hãy chuẩn bị đón nhận Chúa bằng cách:


• Trình bày cho Chúa những thiện chí của mình.
• Khiêm tốn thưa với Ngài "Này con là tôi tớ của Chúa"
• Xin vâng theo kế hoạch của Ngài, cho dù có bất ngờ
hay vượt quá dự tưởng của mình.

* 4. Chiếc đũa thần và Cô bé Lọ lem


Câu chuyện được thánh Luca kể trong đoạn Tin Mừng này
có phần giống chuyện cổ tích về Cô bé Lọ Lem. Cô Bé Lọ
Lem Cinderella nghèo nàn xấu xí bỗng dưng trở thành
nàng công chúa cực kỳ xinh đẹp chỉ bằng một cái phất nhẹ
chiếc đũa thần của một Bà tiên.

Chúng ta hãy đọc kỹ những mô tả của Thánh Luca về tình


trạng "đã là", "đang là" và "sẽ là" của Maria:
- Tình trạng đã và đang là của Maria thì rất tầm
thường: một thôn nữ sinh sống ở làng Nadarét vô
danh rất ít người biết đến, mang một cái tên khá phổ
biến là Maria (nguyên trong Tin Mừng thôi đã có ít là
3 người phụ nữ khác cũng mang tên Maria như thế).
Lý lịch của nhân vật thứ nhất trong câu chuyện của

21
Luca chỉ có thế, không như lý lịch của nhân vật thứ
hai là Giuse dù sao cũng còn được ghi kèm là "thuộc
dòng dõi Ðavít".

- Nhưng tình trạng sẽ là của Maria thì khác hẳn: Maria


"sẽ thụ thai sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu".
Ðứa con đó "sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con
Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho
Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. Người sẽ
trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ
vô cùng vô tận". Cô thôn nữ tầm thường Maria sẽ là
mẹ của Ðấng Cứu Tinh thiên hạ.

Chiếc đũa thần chính là quyền năng của Thiên Chúa: "Ðối
với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được". Mà
giây phút chiếc đũa thần vung lên chính là lúc Maria thốt lên
lời Fiat. Trong Kinh Truyền tin, chúng ta vẫn đọc "Phút ấy
Ngôi Thứ Hai xuống thế làm người". Trước tiếng Fiat, Maria
là Cô Bé Lọ Lem, sau tiếng Fiat, Maria trở thành Mẹ Ðấng
Cứu Thế. Tiếng Fiat nhiệm mầu giống câu thần chú "Vừng
ơi mở ra" vậy!

Nhưng Fiat là gì? Fiat không hẳn là "Xin vâng", vì "xin vâng"
hàm ý là Maria sẽ đi làm theo ý Thiên Chúa, phần chủ động
vẫn là phía con người. Mà nếu như để con người làm thì
con người có làm được gì đáng kể đâu. Bàn tay yếu ớt của
Cô Bé Lọ Lem làm sao nhặt lựa cho hết mấy thúng hạt đậu.
Cô thôn nữ Maria làng Nadarét làm gì được để cứu độ cả
thế giới loài người. Ðúng hơn, Fiat là "Xin Chúa cứ làm cho
tôi", chính Chúa làm chứ không phải Maria làm, phần của
Maria chỉ là để cho Chúa làm, bằng chiếc đũa thần quyền
năng của Ngài. Và khi chiếc đũa thần ấy vung lên, Maria

22
cảm nghiệm "Chúa đã làm cho tôi bao điều cao cả" (Ðáp
ca).

Tuy nhiên, chúng ta đừng tưởng Maria hoàn toàn thụ động,
chỉ ở yên để Chúa làm, vậy thôi. Quả thật, phần cộng tác
của Mẹ không nhỏ chút nào: Người muốn một tương lai êm
ả, nhưng Chúa làm cho tương lai ấy hoàn toàn đổi hướng
với biết bao xáo trộn. Thử tưởng tượng một thiếu nữ mang
thai trước khi về nhà chồng. Biết bao rắc rối và khổ tâm đối.
Biết bao khó xử đối với gia đình, với họ nhà chồng và nhất
là với người chồng sắp cưới. Ðể Chúa làm có nghĩa là
mình không làm chủ đời mình nữa nhưng giao trọn dòng
đời cho Ngài định hướng, miễn sao mọi sự đi đúng chương
trình của Ngài. Dù sao, Maria vẫn tin rằng Chúa sẽ hướng
đời Mẹ đến chỗ tốt đẹp: "Phận nữ tì hèn mọn, Ngài đoái
thương nhìn tới. Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc"
(Ðáp ca).

Chúng ta cũng là những cô bé lọ lem. Thiên Chúa có chiếc


đũa thần kỳ diệu "không có gì mà Thiên Chúa không làm
được". Làm thế nào để Thiên Chúa vung chiếc đũa thần ấy
lên cho đời ta được biến đổi? Chúng ta hãy noi gương Ðức
Mẹ thưa lên lời Fiat: "Xin Chúa cứ làm cho con"

* 5. Xin vâng
Một linh mục nổi tiếng là thánh thiện và nhiệt thành có kể lại
kinh nghiệm khi được mời dự tiệc tại một nhà giáo dân khá
giả trong giáo xứ như sau:
Trong suốt bữa tiệc thịnh soạn hôm đó, giữa tiếng cười nói
của thực khách, có một điều làm tôi thắc mắc đó là tiếng
nước chảy đâu đó trong nhà. Vì là lần đầu tiên được mời,
tôi không dám lên tiếng, chỉ mong sao có người nhà nhận
ra tiếng nước chảy đó.

23
Sau cùng, không thể cầm lòng được, tôi hỏi một người giúp
việc. Với nụ cười lịch sự, người này giải thích. Cách đây
khoảng 40 năm, khi người ta đào móng xây nhà và dựng
nông trại, tình cờ họ đã khám phá ra mạch nước ngầm. Thế
là họ xây một căn phòng ngay bên mạch nước, kể từ đó họ
xây những căn phòng khác ở chung quanh.

Mạch nước ngay trong nhà mình, tư tưởng đó xâm chiếm


tâm trí tôi suốt quảng đường về, và tôi đoán ra được đâu là
bí quyết hạnh phúc của gia đình giáo dân ngoan đạo và tốt
lành đó.
*
Câu chuyện trên đây gợi lại trong tâm trí chúng ta lời sứ
thần chào Ðức Trinh Nữ: "Kính Mừng Maria đầy ơn phúc"
(Lc. 1, 28). Vâng, mẹ chính là mạch suối tràn đầy thánh ân,
mạch suối trong lành, tươi mát, mạch suối không bao giờ
cạn của Thiên Chúa.

Ðể chuẩn bị cho Ngôi Hai xuống thế làm người, Thiên Chúa
đã dọn sẵn cung lòng Ðức Maria trinh khiết vẹn tuyền, xứng
đáng cho Con Thiên Chúa ngự đến. Thiên Chúa đã ưu đãi
và ban ơn đặc biệt cho Mẹ qua lời sứ thần: "Maria đừng sợ,
vì đã được ơn nghĩa với Chúa" (Lc. 1, 3). Và để bảo đảm
cho sự can thiệp đặc biệt này, sứ thần loan báo thêm:
"Chúa Thánh Thần sẽ đến với Trinh Nữ, và uy quyền Ðấng
Tối Cao sẽ bao trùm Trinh Nữ" (Lc. 1, 35). Như vậy, việc
sinh con này hoàn toàn do Thiên Chúa, xác thịt không tham
dự vào.

Cuối cùng, thiên thần đã kết thúc sứ điệp Truyền Tin bằng
một lời bảo đảm tuyệt diệu: "Vì không việc gì mà Thiên
Chúa không làm được" (Lc. 1, 38).

24
Và Ðức Maria, với tâm tình đầy tin tưởng, vâng phục và
phó thác, liền thưa: "Xin hãy thể hiện nơi tôi theo như ngài
nói" (Lc. 1, 38). Một câu tuy ngắn gọn nhưng đã thay đổi
hoàn toàn bộ mặt thế giới. Một câu đã khai mở kỷ nguyên
cứu rỗi. Một câu đã đem lại cho muôn loài niềm hy vọng và
bình an.

Với "Uy quyền Ðấng Tối Cao", một thế giới tuyệt vọng trong
vòng kiềm tỏa của tội lỗi, đã hy vọng được ơn giải thoát.
Với "Uy quyền Ðấng Tối Cao", một cung lòng trinh nữ
không sinh con, đã được dâng hiến để hạ sinh Ðấng Cứu
Thế. Với "Uy quyền Ðấng Tối Cao", một nhân loại đang
sống dưới ách nô lệ của Satan, đã được tự do làm con cái
Chúa.

Lời thưa "Xin Vâng" của Mẹ không chỉ thốt lên một lần để
thay tất cả, nhưng là tiếng "xin vâng" liên lỉ trọn kiếp người.
Từ tiếng "xin vâng" đầy phó thác và tuân phục vào ngày
Truyền Tin đến lời "xin vâng" trọn vẹn tin yêu và chấp nhận
dưới chân thập giá.
zzz
Lạy Mẹ Maria, việc Mẹ thụ thai cách lạ lùng là dấu hiệu báo
trước sứ mạng cao cả của Hài Nhi. Xin cho chúng con biết
vâng phục và phó thác cho chương trình nhiệm mầu của
Chúa. Nhất là xin Mẹ cho chúng con biết cộng tác với ơn
Chúa để hoàn thành sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho
mỗi người chúng con. Amen. (Thiên Phúc, "Như Thầy đã
yêu")

* 6. "Xin Chúa cứ làm nơi con"


"Ðối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Câu này chẳng gây thắc mắc gì đối với những việc Thiên
Chúa đã làm trong vũ trụ và trong lịch sử: Thiên Chúa đã

25
làm ra trời đất muôn vật bao la vô vàn vô số; Thiên Chúa
đã làm bao phép lạ từ xưa tới nay v. v.

Nhưng tôi có thể áp dụng câu này vào chính bản thân tôi
không? Nói cách khác, Thiên Chúa có thể làm được bất cứ
điều gì nơi bản thân tôi không?

Rất nhiều khuynh hướng xấu đã đâm rễ rất sâu trong con
người tôi. Dù đã cố gắng rất nhiều nhưng tôi đã không
bứng rễ chúng được. Thiên Chúa có bứng được không?
Tôi là một kẻ tội lỗi. Thiên Chúa có thể làm cho tôi thành
một vị thánh không?

Tôi là một người rất ít khả năng. Thiên Chúa có thể dùng tôi
để thực hiện những dự định lớn lao của Ngài không?
Dù còn bối rối và chưa hiểu như Ðức Maria ngày xưa,
nhưng thôi, tôi hãy bắt chước Mẹ mà thưa lại "Xin hãy thể
hiện nơi con".

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI


Chủ tế: Anh chị em thân mến, lễ Giáng Sinh đã gần kề, hôm
nay Hội thánh nêu bật Ðức Maria là mẫu gương cho những
người tiếp đón Ðức Giêsu. Chúng ta hãy dâng lên Chúa
những ý nguyện sau đây:
1. Ðức Maria đã rộng lòng đón tiếp Ðức Giêsu xuống
thế cứu độ loài người / Chúng ta hãy cầu nguyện cho
mỗi thành phần trong Hội thánh biết noi gương Ðức
Maria / đón tiếp Ðức Giêsu vào cuộc sống của mình.
2. Ðức Maria đã tìm hiểu ý muốn của Thiên Chúa rồi
sẵn sàng vâng theo / Chúng ta hãy cầu nguyện cho
những người lãnh đạo các quốc gia biết tìm hiểu
chương trình cứu độ của Ðức Giêsu / để dẹp bỏ mọi
thành kiến và nghi kỵ đói với đạo Chúa.

26
3. Ðức Maria đã tin rằng đối với Thiên Chúa không có
gì là không thể làm được / Chúng ta hãy cầu nguyện
cho những người là nạn nhân của chia rẽ, bất công,
hận thù, nghèo đói không rơi vào thất vọng / nhưng tìm
được hy vọng nơi Chúa là Ðấng có thể làm được tất
cả.
4. Ðức Maria đã cộng tác với Chúa Thánh Thần để
Ðức Giêsu nhập thể cứu độ / Chúng ta hãy cầu
nguyện cho anh chị em trong cộng đoàn họ đạo chúng
ta / biết cộng tác với Chúa Thánh Thần để Ðức Giêsu
luôn được chúng ta tiếp đón trong cuộc đời.

Chủ tế: Lạy Chúa, xin sai Thánh Thần Chúa đến với mỗi
người chúng con, giúp chúng con biết đón nhận Ðức Giêsu,
để đem Ðức Giêsu đến cho mọi người chung quanh chúng
con. Chúng con cầu xin nhờ Ðức Kitô. . .
Lm. Carolô Hồ Bặc Xái

QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA


SẼ BAO TRÙM TRÊN BẠN
Chủ đề: "Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta dưới hình thức mới
nhất- nơi con người Đức Giêsu – làm cho tất cả mọi sự đều trở nên có thể
thực hiện được"
Lm. Mark Link, S.J.

Thánh Inhaxiô Loyola chào đời tại Tây Ban Nha một năm
trước khi Kha Luân Bố tìm ra Mỹ Châu. Ngài chưa được 16
tuổi thì cha mẹ ngài đã mất hết. Vì thế, cho tới khi trưởng
thành, Inhaxiô vẫn sống vô kỷ luật và ngông cuồng bướng
bỉnh. Một ngày kia, Inhxiô cải thiện đời sống và từ bỏ tội lỗi
mình. Ngài thành tâm thống hối sâu xa và trở lại với Chúa.
Ngài viết nhật ký kể lại những kinh nghiệm của mình. Về
sau ngài xuất bản cuốn nhật ký đó như một cẩm nang chỉ

27
dẫn cho người khác con đường tìm gặp Đức Giêsu của họ.
Nhật ký đó gọi là tập "Linh Thao".

Một trong những bài "linh thao" ấy dạy về cách suy gẫm bài
Tin Mừng hôm nay. Cách đó gồm ba bước:
• Bước đầu tiên là tưởng tượng xem thế giới thời
trước Đức Giêsu ra sao. Chẳng hạn như dân chúng
thì khô khan hờ hững đối với Thiên Chúa. Sự xấu
tràn lan như một ung thư khổng lồ. Thế giới rơi vào
một tình thế vô vọng.
• Bước thứ hai là tưởng tượng Thiên sứ Gabriel từ trời
xuống báo tin cho Maria rằng nàng được Thiên Chúa
chọn làm mẹ Đức Giêsu. Chúng ta hãy tưởng tượng
rằng chính chúng ta cùng với Thiên sứ từ trời bay
xuống. Chúng ta nhìn xuống trái đất xa thật xa. Nó
chỉ là một chấm sáng bé tí trong vũ trụ đầy sao. Khi
chúng ta bay tới gần hơn, chúng ta thấy một đốm
trên mặt địa cầu gọi là Đất Thánh. Khi tới gần hơn
nữa, chúng ta thấy làng Nazarét. Cuối cùng, chúng ta
gặp Maria trong căn nhà. Nàng đang im lặng qùi gối
cầu nguyện.
• Bước thứ ba là lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên
Sứ và Maria. Chúng ta đặc biệt chú ý tới hai câu: câu
thứ nhất là lời của Thiên sứ nói với Đức Maria:
"Quyền năng của Đấng tối cao sẽ bao trùm lên cô: vì
thế Đấng Thánh con của cô sinh ra sẽ được gọi là
Con Thiên Chúa" (Lc. 1, 35). Tiếng quan trọng ở
trong câu đó là "bao trùm lên" hay "bao phủ lên". Lều
tạm nơi dân Do Thái để hòm Giao Ước. Câu xh. 40,
34 nói rằng bao lâu đám mây còn bao phủ lều tạm thì
"lều tạm có Thiên Chúa hiện diện".

28
Việc Luca chọn và dùng từ "bao trùm lên" vốn ít được dùng
tới trong Kinh Thánh ấy không phải là ngẫu nhiên. Nó có ý
nghĩa thâm sâu. Luca so sánh thân thế Đức Maria với lều
tạm nơi đặt hòm giao ước của Thiên Chúa. Ông so sánh
cung lòng Đức Maria nơi Đức Giêsu sẽ tới cư ngụ với hòm
giao ước nơi đặt hai phiến đá có ghi 10 điều răn của Thiên
Chúa. Như vậy nghĩa là khi quyền năng của Thiên Chúa
bao trùm lên Đức Maria, thì có "Thiên Chúa hiện diện" trong
Ngài. Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Maria
thì vô cùng phong phú hơn sự hiện diện của ngài trong "lều
tạm". Sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria chính là
sự hiện của Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.

Chúng ta nên nhớ rằng Thiên Chúa có thể hiện diện nơi
chúng ta bằng nhiều cách khác nhau, y như người ta có thể
hiện diện với nhau bằng nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn
một đứa con đang trọ học ở trường vẫn có thể hiện diện đối
vối mẹ nó qua bức ảnh chụp của nó trên bàn của bà, hay
một cách thân mật hơn qua lá thư nó viết mà bà cầm trong
tay. Khi đứa con về nhà, nó sẽ hiện diện một cách thân mật
và hiện thực nhất có thể đối với mẹ nó, một sự hiện diện
bằng xương bằng thịt.

Cũng tương tự như vậy, Thiên Chúa hiện diện với chúng ta
bằng nhiều cách khác nhau. Trước hết Ngài hiện hiện với
chúng ta qua vạn vật mà Ngài sáng tạo. Nơi vạn vật Thiên
Chúa có đặt một cái gì đó thuộc về bản thân Ngài cũng
giống như nhạc sĩ đặt một cái gì đó thuộc về bản thân ông
trong dòng nhạc của bài ca ông sáng tác. Kế đó, Thiên
Chúa hiện diện đối với chúng ta qua lời của Thánh Kinh. Tư
tưởng của Thiên Chúa hiện diện với chúng ta trong Thánh
Kinh, y hệt như tư tưởng của người nhạc sĩ hiện diện với
chúng ta trong bài ca của ông. Sau cùng, Thiên Chúa hiện

29
diện với chúng ta trong Đức Giêsu. Thiên Chúa đã trở nên
hiện diện với chúng ta bằng xương bằng thịt, y như nhạc sĩ
có thể hiện diện có thể hiện diện đối với chúng ta bằng
xương bằng thịt của ông. Điều này khiến chúng ta trở về
với câu đầu tiên mà chúng ta phải đặc biệt lưu ý trong bài
Tin Mừng hôm nay. Đó là lời của Thiên sứ nói với Đức
Maria rằng quyền năng của Thiên Chúa sẽ bao trùm nên
nàng. Khi quyền năng Thiên Chúa bao trùm lên Maria, thì
Thiên Chúa trở thành hiện diện đối với chúng ta bằng cách
thức thân thiện nhất có thể tưởng tượng được. Ngài đã trở
thành hiện diện đối với chúng ta qua sự hiện diện bằng
xương bằng thịt của Đức Giêsu.

Điều này dẫn chúng ta trở về với câu thứ hai mà chúng ta
phải lưu tâm tới trong bài Tin Mừng hôm nay. Câu này
được nói tiếp theo câu trước nói về quyền năng của Thiên
Chúa bao trùm lên Maria. Trong câu này, Thiên sứ nói: "xin
báo cho cô biết rằng bà Isave, chị họ của cô, đã thụ thai
một cậu con trai trong tuổi gìa. Ai cũng nghĩ bà sẽ không
con, thế mà bây giờ bà đã có thai được sáu tháng, vì không
có gì là không thể làm được đối với Thiên Chúa". Trong câu
này, mệnh đề quan trọng là "đối với Thiên Chúa thì không
có gì không thể làm được". Tin Mừng hôm nay làm nổi bật
môt cách tuyệt diệu biết bao ý tưởng "không có gì là không
thể làm được đối với Thiên Chúa".

Trước khi quyền năng của Thiên Chúa bao trùm lên Maria,
thì thế giới đang sống trong tình trạng vô vọng. Tội lỗi và
bạo lực lan tràn khắp nơi. Trước khi quyền năng Thiên
Chúa bao trùm lên Maria, không có ai hy vọng nàng sẽ sinh
con cả, vì nàng là một trinh nữ. Trước khi quyền năng
Thiên Chúa bao trùm lên Isave, bà không còn có thể hy
vọng sinh con được nữa, vì bà đã gìa không còn khả năng

30
sinh sản. Và cuối cùng, trước khi quyền năng Thiên Chúa
bao trùm lên Maria, nhân loại không có hy vọng được cứu
rỗi, vì nhân loại đang sống trong vòng nô lệ Satan.

Quyền năng Thiên Chúa bao trùm lên Maria đã thay đổi tất
cả. Điều đó ý nghĩa gì đối với chính chúng ta hôm nay?
Điều đó có ý nghĩa là:
Thế giới chúng ta có thể đang hỗn độn. Gia đình chúng ta
có thể đang xáo trộn. Cuộc sống chúng ta có thể đang hỗn
loạn. Nhưng vẫn còn có hy vọng, vì quyền năng của Thiên
Chúa đã nhập vào thế giới này qua con người Đức Giêsu.
Đó là những gì chúng ta đang chuẩn bị cử hành đón mừng
trong những ngày cuối cùng trước Giáng Sinh. Đó là những
gì đem lại cho chúng ta niềm vui ngoài sức tưởng tượng,
niềm hy vọng không dám ước mơ.

Để kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện. Chúng ta hãy cầu


nguyện bằng những lời mà Đức Maria đã dùng để cầu
nguyện khi Ngài đến thăm chị họ Isave của Ngài. Xin anh
chị em cùng cầu nguyện với tôi trong thinh lặng:

"Linh hồn tôi tán dương Thiên Chúa,


Lòng trí tôi mừng rỡ trong Thiên Chúa cứu chuộc tôi…

Ngài đã giữ lời hứa với Tổ phụ chúng ta …


Ngài đã nhớ tỏ lòng từ bi với Abraham
Và với tất cả dòng dõi của ông tới muôn đời"(Lc. 1, 46 –47.54 –55)

Lm. Mark Link, S.J.

31
CHÚA NHẬT 4 MÙA VỌNG - B
Lm. Augustine, SJ

Ðức Maria được hỏi ý


Trong những ngày cuối cùng của mùa vọng, Hội Thánh cho
chúng ta nghe lại đoạn Tin Mừng quen thuộc về việc sứ
thần Gáp-ri-en đến truyền tin cho Ðức Mẹ. Chúng ta
thường nghĩ rằng chắc thánh Luca đã nghe Ðức Mẹ kể lại
nguyên văn cuộc đối thoại giữa Ðức Mẹ với sứ thần Gáp-ri-
en, rồi sau đó viết lại. Thật ra, có thể thánh Luca chỉ muốn
trình bày một kinh nghiệm nội tâm của Ðức Mẹ, kinh
nghiệm này chỉ có một mình Ðức Mẹ thấu biết.

Khi Thiên Chúa muốn Con của Ngài xuống thế làm người,
để cứu độ nhân loại, Ngài đã muốn người Con ấy là người
trăm phần trăm. Chính vì thế Thiên Chúa đã chuần bị cho
Con của Ngài một người mẹ trần thế. Người mẹ ấy là Ðức
Maria, người làng Nadarét, vùng Galilê, nước Pa-lét-tin. Cô
Maria là người được Thiên Chúa tuyển chọn giữa muôn
vàn phụ nữ trên địa cầu. Ngài chọn Cô chẳng phải vì Cô
thánh thiện hơn người khác. Ngài chọn Cô từ khi Cô còn
trong bụng mẹ, và Ngài đổ trên Cô tràn trề ân sủng: "Hỡi
Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng Cô" (Lc 1,28). Ðược
tràn trề ân sủng có nghĩa là được Thiên Chúa mến thương,
được đẹp lòng Thiên Chúa (c.30). Thiên Chúa đã chuẩn bị
rất kỹ cho Cô Maria. Ngài đã tạo dựng Cô như một thụ tạo
tuyệt vời, độc nhất vô nhị, chỉ vì Ngài muốn Cô xứng đáng
trở nên người cưu mang chính Con Một của Ngài. Maria là
một kiệt tác của Thiên Chúa, dù bề ngoài Cô chỉ là một thôn
nữ của một ngôi làng nhỏ bé vô danh, cách đây 20 thế kỷ.

Nhưng Thiên Chúa không ép buộc Cô Maria làm mẹ của


Con Một Ngài, dù Ngài đã chuẩn bị Cô một cách đặc biệt
32
để đón nhận trọng trách cao cả đó. Ngài tôn trọng tự do của
Cô, tự do mà chính Ngài đã ban cho Cô trong tư cách là
người. Ngài không có quyền đặt Cô trước một sự-đã-rồi.
Ngài muốn hỏi ý Cô, và chờ Cô ngỏ lời ưng thuận. Không
có sự ưng thuận này, Thiên Chúa không thực hiện được
công trình cứu độ nhân loại. Ai dám ngờ rằng Thiên Chúa
vẫn cần đến con người? Ngài đã cần Ðức Maria để làm
người cộng tác với Ngài. Ngài vẫn cần đến tôi, đến từng
người chúng ta, hôm nay. Mỗi người chúng ta đều được
giao phó một trách nhiệm. Không phải là "không có mợ thì
chợ vẫn đông". Sự khước từ của chúng ta kéo theo bao đổ
vỡ mà chúng ta không lường được.

Bài Tin Mừng trên đây cho thấy chính Thiên Chúa hỏi ý Cô
Maria qua trung gian một sứ thần do Ngài sai đến. Trong
Cựu Ước, ta cũng thấy sứ thần của Ðức Chúa (hay chính
Ðức Chúa) hiện ra để loan báo sự chào đời của một số
nhân vật, như Ít-ma-en (Sáng thế 16,7-13), I-xa-ác (Sáng
thế 17,1-21;18,1-15) và Sam-son (Thủ lãnh 13,3-20). Thánh
Luca đã viết đoạn Tin Mừng hôm nay dựa trên cái khung
của các đoạn văn Cựu Ước trên đây. Ðể loan báo sự chào
đời của một trẻ thơ, thường thường có 5 yếu tố trong bài
trình thuật: a- một sứ thần (hay Ðức Chúa) xuất hiện cho
người cha hay người mẹ; b- người được sứ thần hiện ra
cảm thấy sợ hãi, bối rối; c- nội dung sứ điệp từ trời; d- lời
vặn hỏi hay lời xin một dấu chỉ của người được sứ thần
hiện ra; e- sứ thần trấn an và cho dấu chỉ. Trong bài Tin
Mừng trên đây của Luca, ta cũng thấy có 5 yếu tố như vậy:
a- sứ thần xuất hiện (1,28); b- sự bối rối của Cô Maria
(1,29); c- sứ điệp của Chúa (1,30-33); d- lời vặn hỏi của Cô
Maria (1,34); e- sứ thần trấn an và cho dấu chỉ: Bà
Eâlisabét mang thai trong lúc tuổi già (1,35-37).

33
Một số nhà chú giải Kinh Thánh gần đây cho rằng không
nên hiểu đoạn Tin Mừng trên đây theo nghĩa đen. Ðiều
quan trọng không phải là có một sứ thần thực sự đã hiện ra
trò chuyện với Ðức Maria, và mẫu đối thoại trên đã được
thánh Luca ghi lại nguyên văn. Ðiều quan trọng là chắc
chắn Ðức Maria đã được Thiên Chúa mời gọi, hỏi ý, và Mẹ
đã đáp lời. Từ lúc ấy Con Thiên Chúa trở nên người phàm
trong bụng Mẹ. Mẹ đã trở nên người cưu mang Con Thiên
Chúa.

Khuôn mặt Ðức Giêsu


Chúng ta thường gọi đoạn Tin Mừng trên đây dưới tựa đề
là "Thiên thần truyền tin cho Ðức Mẹ". Nhưng thiên thần và
Ðức Mẹ đều không phải là nhân vật chính. Nhân vật chính
là Ðức Giêsu. Ðoạn Tin Mừng này nhằm giới thiệu cho
chúng ta căn tính của Ðức Giêsu. Ðó là đích nhắm chủ yếu
của thánh Luca. Qua lời của sứ thần mà chúng ta biết
Giêsu là ai. Lời của sứ thần Gáp-ri-en gồm hai giai đoạn.

Giai đoạn 1 từ câu 30-33. Sứ thần loan báo Ðức Maria sẽ


thụ thai, sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Ở đây Ðức
Giêsu đã được sứ thần gọi là Con Ðấng Tối Cao. Chúng ta
không nên hiểu cụm từ này theo nghĩa như ta vẫn hiểu bây
giờ. Trong Cựu Ước, các thiên thần (Tv 29,1), những người
Do thái đạo đức (Kn 2,13) và nhất là Ðấng Mêsia (Tv 2,7)
cũng được gọi là Con Thiên Chúa hay Con Ðấng Tối Cao.
Chính trong Tin Mừng Luca, chúng ta cũng gặp câu: "Hãy
yêu kẻ thù và anh em sẽ là Con Ðấng Tối Cao" (6,35). Vậy
ở đây chúng ta chỉ nên hiểu Con Ðấng Tối Cao theo nghĩa
là Ðấng Mêsia. Quả thật, cho đến hết câu 33, chúng ta thấy
lộ ra khuôn mặt của Ðấng Mêsia: "Ðức Chúa là Thiên Chúa
sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người.
Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại

34
Người sẽ vô cùng vô tận." Ðây chính là lời Ðức Chúa phán
với Ðavít qua miệng ngôn sứ Na-than (2S 7, 12-13) về vị
vua sẽ kế nghiệp Ðavít. Như thế Ðức Maria được mời gọi
làm Mẹ Ðấng Mêsia.

Giai đoạn 2 từ câu 34-37. Trong giai đoạn này, Ðức Giêsu
được gọi là Ðấng Thánh, là Con Thiên Chúa. Ðức Maria
thụ thai Ðấng Thánh bằng cách nào? "Thánh Thần sẽ ngự
trên bà và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà."
Như thế Ðức Maria sẽ nhận được một sự can thiệp diệu kỳ
của Thiên Chúa, Mẹ sẽ đón lấy quyền năng sáng tạo của
Thánh Thần, vì thế Ðấng Mẹ sinh ra sẽ được gọi là Con
Thiên Chúa. Chúng ta phải hiểu cụm từ "Con Thiên Chúa"
ở đây theo nghĩa hết sức đặc biệt, có một không hai, bởi lẽ
Người Con này được sinh bởi quyền năng Thánh Thần,
chứ không phải bởi một người cha nhân loại. "Tôi không
biết đến việc vợ chồng" có nghĩa: "Tôi vẫn còn là một trinh
nữ." Nếu việc thụ thai Gioan Tẩy Giả đòi hỏi một phép lạ,
thì việc thụ thai Ðức Giêsu đòi hỏi một phép lạ lớn hơn
nhiều, đó là Ngài được thụ thai bởi một trinh nữ. Ðức Giêsu
không phải chỉ là Ðấng Mêsia mà dân Do thái hằng mong
đợi. Ngài còn là Ðấng cao cả, thánh thiện hơn nhiều. Ngài
là "Con Thiên Chúa" theo nghĩa viên mãn chưa từng có.

Xin vâng
Chúng ta không rõ đích xác giây phút Ðức Maria được
Thiên Chúa ngỏ lời. Lúc đó Mẹ chỉ là một thiếu nữ mới lớn,
và đã đính hôn với Giuse. Có thể Mẹ đã mong ước một
cuộc hôn nhân bình thường với người mình yêu. Nhưng
qua cầu nguyện, dần dần Mẹ thấy Thiên Chúa mời mình đi
vào một con đường rất lạ; dần dần Mẹ thấy mình được
Ngài tuyển chọn để cộng tác với Ngài trong công cuộc cứu
độ nhân loại. Nghe lời Thiên Chúa mời gọi, đã có lúc Mẹ

35
cảm thấy hết sức bối rối (x. câu 29), và sợ hãi (c.30). Có lúc
Mẹ không hiểu rõ cách thức Thiên Chúa thực hiện kế
hoạch của Ngài nơi con người Mẹ, nên Mẹ đã hỏi để tìm
thêm ánh sáng, để hiểu rõ hơn nhằm cộng tác hiệu quả
hơn (c.34). Cũng có lúc Thiên Chúa đã cho Mẹ những dấu
chỉ để làm Mẹ kiên vững hơn trong đức tin, và xác tín mạnh
mẽ hơn rằng đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể
làm được (cc. 36-37).

Trước khi nói lời Xin Vâng, Mẹ đã trải qua một hành trình
đức tin. Xin Vâng không có nghĩa là thấy rõ con đường
trước mặt Chúa muốn mình đi. Xin Vâng là mềm mại,
buông mình cho Thiên Chúa dẫn đi, yên tâm không phải vì
mình làm chủ được tương lai, nhưng vì tương lai của mình
nằm trong tay Chúa. Xin Vâng không phải vì mọi sự đều
sáng sủa và trơn tru, nhưng Xin Vâng ngay giữa đêm tối
tăm gập gềnh. Xin Vâng là để cho Chúa sử dụng con người
mình, là chấp nhận để cho những dự tính và ước mơ của
mình bị tan vỡ. Nếu Ðức Maria chấp nhận ý Thiên Chúa,
chấp nhận cưu mang Con Thiên Chúa ngay khi chưa về
chung sống với Giuse, thì Mẹ cũng phải chấp nhận những
hậu quả xảy ra sau đó. Có thể đã có những hiểu lầm suýt
gây tan vỡ, nhưng quan trọng hơn cả là từ sau lời Xin Vâng
đầu tiên, Ðức Maria hiểu rằng tình yêu giữa mình và thánh
Giuse đã đổi khác. Mẹ được mời gọi để dâng hiến trọn vẹn
con người mình - cả hồn lẫn xác - cho Thiên Chúa, cho kế
hoạch cứu độ của Ngài, cho Ðức Giêsu Con Mẹ.

Sau tiếng Xin Vâng đầu tiên, Ngôi Hai Thiên Chúa đã trở
thành một bào thai nhỏ xíu trong lòng Mẹ. Mầu nhiệm nhập
thể đã bắt đầu ngay từ giây phút này. Chúng ta cần nhìn
ngắm Con Thiên Chúa lớn lên từ từ như bao thai nhi khác.
Cần hơn 9 tháng để có thể mở mắt chào đời, cất tiếng khóc

36
oe oe. Mỗi thai nhi đều mang khuôn mặt của Ðức Giêsu
Con Thiên Chúa. Làm hại thai nhi là xúc phạm đến chính
Thiên Chúa.

Một số câu hỏi gợi ý


1. Nhờ tiếng Xin Vâng của Ðức Maria mà Con Thiên
Chúa đi vào thế giới loài người. Bạn có nghĩ rằng
nhờ tiếng Xin Vâng của bạn, Chúa Giêsu mới đi vào
được mọi ngõ ngách của cuộc sống hôm nay không?
2. Trên thế giới, vẫn có những người tự tử vì không
thấy được cuộc sống có ý nghĩa. Theo bạn, việc Con
Thiên Chúa chấp nhận làm người nghèo khổ, khổ
đau, thất bại, có giúp bạn vượt qua được những
khủng hoảng trong cuộc sống không?

Lm. Augustine, SJ

TRỞ NÊN DỤNG CỤ CỦA CHÚA


Lm Giuse Đinh lập Liễm
I. ĐỨC MARIA ĐƯỢC THIÊN CHÚA CHỌN.

1. Con người Đức Maria.


Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và vĩ đại, nhiều khi đã
dùng những phương tiện nhỏ bé, yếu đuối, hèn mọn mà
làm những việc vĩ đại. Công cuộc cứu chuộc loài người là
một công cuộc hết sức lớn lao mà Thiên Chúa đã dùng một
phương tiện nhỏ bé thấp hèn để thực hiện, đó là Trinh Nữ
Maria.

Đây là một Trinh nữ khiêm tốn, bình dân, sống trong một
làng nghèo nàn xứ Gallilêa gọi là Nazareth với khoảng 20
nóc nhà và 150 nhân danh. Xét theo tiêu chuẩn thông
37
thường của người đời, nghĩa là xét theo tài năng, thông
minh, học vấn, sắc đẹp, địa vị xã hội... chắc hẳn Maria
không có gì đặc biệt hơn những thiếu nữ khác cùng trang
lứa với mình. Trên đời chắc còn những thiếu nữ đặc biệt
hơn Maria nhiều. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, Maria là
người “đầy ơn phúc”, được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng
Cứu thế để cộng tác với Ngài trong công cuộc lớn lao vô
tiền khoáng hậu này.

Thiên Chúa chọn Maria không vì lý do nào khác ngoài ý


muốn riêng và theo sự tự do của Ngài (x.Rm 9,12) và cũng
“vì bà đẹp lòng Thiên Chúa”. Và Ngài đã thành công trong
việc chọn Maria, trong khi có những người khác được Ngài
chọn đã làm “hỏng việc” của Ngài, hay đã làm Ngài không
hài lòng, chẳng hạn trường hợp vua Saul (x. 1Sm 9,17 ; 13,
13,40), hay tông đồ Giuđa (Mt 26,47-50)

2. Đức Maria được hỏi ý kiến.


Thánh Augustinô viết :”Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, Ngài
không cần ta. Nhưng khi cứu độ ta, Ngài không thể thiếu
ta”. Thiên Chúa chủ động về phía Ngài, nhưng khi cứu độ,
Ngài cần đến sự cộng tác của ta. Trong công cuộc cứu độ
này, Thiên Chúa muốn Maria cộng tác. Đó là lời mời gọi mà
sứ thần đã trao gửi nơi Maria theo chương trình của Thiên
Chúa, Mẹ phải tạo điều kiện cho Ngài làm người trong thân
phận của Con Ngài.

Ngài không áp đặt điều gì : Ngài chỉ đề nghị. Chính vì thế,


Thiên Chúa đã sai sứ thần Gabriel đến hỏi ý kiến Maria về
việc làm Mẹ Chúa Cứu thế mà vẫn còn đồng trinh : “Maria
sẽ thụ thai một con trai và đặt tên là Giêsu”. Đứa con đó
“sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao. Đức
Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu vua Đavít,

38
tôi tớ Người. Ngài sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và
triều đại Người sẽ vô cùng vô tận”. Maria thấy mình tầm
thường mà được Thiên Chúa ban cho vinh dự ấy, làm Mẹ
Con Thiên Chúa mà vẫn còn đồng trinh. Làm Mẹ mà vẫn
còn đồng trinh ! Điều ấy làm cho Maria thắc mắc. Nhưng
sứ thần đã trấn an Maria :”Không có điều gì mà Thiên Chúa
không làm được”. Tin tưởng vào quyền năng Thiên Chúa,
Maria đã khiêm tốn thưa với sứ thần :”Này tôi là tôi tá
Chúa, xin vâng như lời thiên thần truyền”. Maria đã đáp trả
bằng lời mời gọi của Thiên Chúa một cách quyết đáp và
khiêm tốn. Sau tiếng “Xin Vâng” này, Maria đã trở thành Mẹ
Đấng Cứu Thế.

II. TIẾNG XIN VÂNG CỦA CHÚNG TA.

1. Xin Vâng nơi Mẹ và nơi ta.


Từ khi thưa “Xin Vâng” Đức Maria đã hoàn toàn tận hiến
đời mình để thực hiện thánh ý Chúa. Nơi Đức Maria cũng
như nơi chúng ta, một trong những yếu tố quan trọng nhất
để Thiên Chúa có thể thành công nơi ta, đó là biết xóa bỏ
bản ngã mình trước Thiên Chúa, xóa bỏ ý riêng mình trước
thánh ý Chúa, xóa bỏ dự định hay kế hoạch của mình
trước dự định hay kế hoạch của Thiên Chúa. Đó chính là
tinh thần tự hủy mà Đức Giêsu là gương mẫu hoàn hảo
nhất, và kế đó là Đức Maria.

Theo gương Đức Maria, khi được Thiên Chúa chọn, ta hãy
toàn tâm toàn ý cho việc của Ngài. Nếu Thiên Chúa chọn ta
là để ta thực hiện công việc của Ngài chứ không phải việc
của ta, để ta làm theo thánh ý Ngài chứ không phải ý ta.
Nên nếu ta được chọn, ta hãy để Ngài hoàn toàn làm chủ
công việc của Ngài mà trong đó ta chỉ là công cụ của Ngài
dùng mà thôi. Công cụ thì không hiện hữu cho mình mà

39
cho công việc hay ý muốn của người xử dụng. Công cụ tốt
là công cụ hoàn toàn làm đúng ý người xử dụng. Vậy, ta
hãy toàn tâm toàn ý cho công việc và mục đích của Ngài,
đừng nghĩ gì đến công việc hay mục đích của ta. Nếu
công việc hay mục đích của Ngài thành tựu thì công việc
hay mục đích của ta cũng sẽ tự động thành tựu tốt đẹp, có
khi gấp trăm lần ta tự lo cho công việc hay mục đích của
mình.

Người được chọn thường gặp nhiều thử thách, đau khổ. Đó
là cách mà Thiên Chúa vẫn đối xử với những ai Ngài đặc
biệt yêu thương và tuyển chọn để tinh luyện người ấy xứng
đáng với ơn gọi. Hãy coi những thử thách mà Đức Giêsu
và Đức Maria - là những người được Thiên Chúa đặc biệt
ưu đãi – phải chịu trong cuộc đời các Ngài thì rõ.

Đây là kế hoạch của Ngài dành cho những người được


Ngài chọn :”Những ai Thiên Chúa đã tiền định thì Người
cũng kêu gọi ; những ai Người đã kêu gọi thì Người cũng
làm cho nên công chính ; những ai Người đã làm cho nên
công chính thì Người cũng cho hưởng phúc vinh
quang”(Rm 8,30).. Cách thức “làm cho nên công chính “
của Ngài chính là thử thách, cho trải qua đau khổ :
”Đức Giêsu trải qua gian khổ mà trở thành vị lãnh đạo
thập toàn”(Dt 2,10) ,
“Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi
hành chức vụ”(1Tm 3,10) ,
“Những thử thách đó nhằm tinh luyện đức tin của anh
em là thứ quí hơn vàng gấp bội”(1Pr 1,7).

Bù lại, vinh quang của những người được Thiên Chúa yêu
mến và tuyển chọn cũng rất lớn lao :”Những đau khổ chúng

40
ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên
Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta”(Rm 8,18).

2. Chúa mời gọi ta cộng tác với Ngài.


Thiên Chúa không chỉ thực hiện kế hoạch yêu thương cứu
độ của Ngài nơi chúng ta và cho chúng ta, màø còn mời
gọi chúng ta cộng tác với Ngài, tham gia vào việc thực hiện
kế hoạch yêu thương và cứu độ của Ngài, nơi chúng ta và
nơi những người có liên hệ với chúng ta nữa. Đó chính là
niềm vinh hạnh và cũng là trách nhiệm nặng nề nơi chúng
ta. Vậy mỗi lần chúng ta làm bất cứ việc gì đó để kế hoạch
yêu thương và cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện nơi
tâm hồn và cuộc sống của mình là chúng ta đáp lại lời mời
gọi của Thiên Chúa.

Cũng thế, mỗi lần chúng ta làm một việc gì đó giúp người
khác hiểu biết, yêu mến Thiên Chúa hoặc giúp người khác
yêu thương phục vụ tha nhân là chúng ta cộng tác với Ngài
trong việc thực hiện kế hoạch yêu thương cứu độ của
Ngài. Công việc ấy thật bề bộn và cấp bách ; vì một đàng
chung quanh chúng ta còn rất nhiều người chưa biết Chúa,
chưa đón nhận Tin Mừng, chưa đón nhận bí tích Thánh tẩy
; đàng khác, nơi những người đã biết và đón nhận Chúa
cũng còn rất nhiều người chưa hiểu biết cho sâu sắc, chưa
biết sống gắn bó mật thiết với Chúa. Đó là cánh đồng
truyền giáo mênh mông đang chờ đợi chúng ta.

Ngày nay Chúa vẫn còn muốn đầu thai trong lòng Đức
Maria và chúng ta. Dĩ nhiên Ngài không còn đầu thai nữa
như xưa ở trong lòng trinh nữ Maria, nhưng Ngài vẫn còn
muốn đầu thai cách mầu nhiệm trong bí tích bàn thờ này,
để được đầu thai trong tâm hồn chúng ta qua việc rước lễ,
để đầu thai nữa trong nếp sống hằng ngày của chúng ta,

41
hầu ai thấy đời sống tốt đẹp của chúng ta, cũng nhận ra
vinh quang của Chúa mà ca tụng Ngài. Mầu nhiệm đầu thai
qua Bí tích Thánh Thể đã làm cho chúng ta trở nên cao qúi
trong việc cộng tác với Ngài.

Nhưng còn một cách nữa Chúa vẫn dùng để đầu thai nơi ta
giữa thời buổi này, chính là Lời Chúa khi đến với ta trong
sức mạnh của Thánh Thần. Lời Chúa mà ta nghe và đọc
trong Thánh kinh có thể trổ sinh trong lòng ta một cuộc
sống mới, thánh thiện và tốt đẹp, Ta sẽ trở thành con cái
Chúa một cách trung thực hơn và dần dần dòng dõi những
người con Chúa trở thành một thực tại có thể cảm nghiệm
được. Ngay đến những biến cố xẩy ra hằng ngày cũng có
thể mang theo nhiều ân sủng, khiến ai đón nhận như thánh
ý Chúa, sẽ làm cho nước Ngài được lan rộng ; và như vậy,
Thiên Chúa lại nhập thể ở giữa chúng ta.

3. Hãy trở nên dụng cụ của Chúa.


Khi nói đến dụng cụ là nói đến một đồ vật để con người xử
dụng theo ý mình. Dụng cụ chỉ biết phục tùng theo ý muốn
người xử dụng. Không bao giờ dụng cụ có thể nói với
người xử dụng tại sao lại dùng vào việc nọ việc kia, mà chỉ
biết hoàn toàn vâng theo người xử dụng, có khi người xử
dụng phế thải cả dụng cụ , thì chính dụng cụ ấy cũng không
có quyền phản đối.

Chúng ta là dụng cụ của Chúa, một thứ dụng cụ bất toàn


hoặc vô dụng, cũng như người đầy tớ nghèo hèn (x. Lc
17,7-10) không thể tự mình làm được việc gì như Chúa
phán :”Sine me nihil potestis facere”, nhưng sẽ trở nên hữu
dụng dưới bàn tay khôn khéo của Chúa.

42
Chúng ta cũng có thể tìm được hình ảnh này ngay trong
văn chương bình dân của nước ta, trong ca dao tục ngữ,
một hình ảnh rất quen thuộc đối với người dân quê :
Ai làm cho cải tôi ngồng,
Cho dưa tôi khú, cho chồng tôi chê.
Chồng chê thì mặc chồng chê,
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ. (Ca dao)

Ở miền quê, ai mà không biết ăn dưa cải chua ? Đây là


món ăn quen thuộc trong bữa ăn của người bình dân, một
món ăn hợp với khẩu vị, nhất là khi ăn với thịt mỡ. Món dưa
cải chua ngon là phải có màu vàng, dòn và thơm. Nhưng
một khi dưa bị “khú” thì không ăn được nữa. Dưa khú có
màu đen xám, không chua và nhạt , đôi khi có hương vị
ung ủng. Người ta không ăn dưa khú, chỉ còn cách bỏ đi.
Tuy thế, người dân quê lại biết biến “dưa khú” đó thành một
món ăn khác, ăn vào vẫn ngon miệng, đó là nấu với cá trê.
Vì thế, người ta mới mách bảo kinh nghiệm cho người khác
trong việc nấu ăn :”dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ”.

Chúng ta hãy trở nên dụng cụ ngoan ngoãn của Chúa để


lúc nào cũng chỉ biết “Xin Vâng”. Theo gương Mẹ Maria,
trước khi nói lời Xin Vâng, Mẹ đã trải qua một hành trình
đức tin. Xin Vâng không có nghĩa là thấy rõ con đường
trước mặt mà Chúa muốn mình đi. Xin Vâng là mềm mại,
buông mình cho Thiên Chúa dẫn đi, yên tâm không phải
mình làm chủ tương lai, nhưng vì tương lai của mình nằm
trong tay Chúa. Xin Vâng không phải vì mọi sự đều sáng
sủa và trơn tru, nhưng Xin Vâng ngay giữa đêm tối gập
ghềnh, là chấp nhận để cho những dự tính và ước mơ của
mình bị tan vỡ.

43
Truyện : thánh Gioan Vianney.
Thánh Gioan Vianney, lúc còn là một chủng sinh, học hành
rất chậm chạp, tưởng chừng như ngài không có đủ khả
năng để tiến tới chức Linh mục. Ngày kia, thừa lệnh Giám
mục giáo phận, một vị giáo sư thần học, đã đến khảo sát
Vianney, tội nghiệp Vianney đã không thưa được câu nào.
Không giữ được bình tĩnh, vị giáo sư đã đập bàn quát lớn :
- Vianney, anh dốt như lừa. Với một con lừa như anh,
Giáo hội sẽ làm được gì ?
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời :
- Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng có một cái
hàm của một con lừa, để đánh bại được ba ngàn
quân Philitinh, vậy với cả một con lừa này, Thiên
Chúa không làm được gì sao ? (Cử hành Phụng vụ Chúa
nhật, tr 42)

Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy Thiên Chúa tự do chọn


lựa mỗi người vào chương trình của Ngài. Ngài chọn chúng
ta không vì tài năng, đức độ của chúng ta , Ngài quyền
năng đến độ có thể biến đổi những con người hèn mọn
thành những bậc siêu phàm. Điều quan trọng là chính sự
đáp trả quảng đại của chúng ta đối với chương trình của
Ngài. Thiên Chúa luôn làm được phép lạ, nếu con người
biết cộng tác với Ngài, ngay cả bằng với sự dốt nát, ngu dại
của mình.

Ngày xưa Thiên Chúa đã nhập thể nơi cung lòng Trinh nữ
Maria, ngày nay Thiên Chúa vẫn còn muốn nhập thể nơi
chúng ta, hãy trở nên dụng cụ ngoan ngoãn cho Chúa nhập
thể. Ngài dùng Lời Thánh kinh và Bánh Thánh Thể để đi
vào trong tâm hồn ta, biến ta nên con người sống như
Chúa : và như vậy, Ngài đang muốn nhập thể để tiếp nối
cuộc đời của Ngài ở nơi ta. Ngài dùng mọi biến cố xẩy đến
hằng ngày, kêu gọi ta đón nhận như thánh ý Ngài gửi đến,
44
để ta hợp tác thi hành trong tinh thần xã hội Kitô giáo, hầu
ơn Ngài có thể tràn lan trong thế gian, khiến Chúa ở trong
mọi sự và mầu nhiệm nhập thể được kiện toàn.

Điều cần hơn hết là chúng ta phải tin vững vàng rằng :
Thiên Chúa muốn sinh ra làm người. Ngài muốn sống giữa
trần gian. Ngài kêu gọi ta nhìn vào cuộc sống và muốn
nhập thế với Ngài. Ta hãy sẵn sàng đem tinh thần Phúc âm
vào thế giới để đáp lại lời mời gọi của Chúa.

Lạy Chúa, này con đây, với tất cả những yếu hèn, khiếm
khuyết của con, nhưng con tin rằng trong bàn tay nhào nặn
của Chúa, tất cả đều có giá trị. Xin cho con luôn biết cởi
mở đón nhận ơn Chúa, và phó thác cho chương trình của
Chúa, như Mẹ Maria đã thưa lời “Xin Vâng”, đáp trả lại tình
yêu của Chúa và phó thác hoàn toàn cho chương trình của
Ngài. Amen.

Lm Giuse Đinh lập Liễm

CHÚA NHẬT CỦA MẸ


Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

Chúa nhật thứ IV Mùa Vọng là Chúa nhật cuối cùng dọn
mừng đón Chúa giáng sinh. Thực tế mà nói, Chúa nhật này
phải gọi là Chúa nhật của Đức Mẹ. Bởi vì, năm nào cũng
vậy, Giáo Hội luôn dành riêng Chúa nhật thứ IV Mùa Vọng
để nói đến vai trò hết sức quan trọng của Đức Mẹ. Nếu
không có Đức Mẹ, không có lời xin vâng của Mẹ theo ý
nhiệm mầu của Thiên Chúa. Chắc chắn, lịch sử cứu độ đã
bước vào một khúc ngoặt khác.Hôm nay, gần đến lễ Giáng
Sinh, Giáo Hội khẩn khoản kêu mời nhân loại, con người
hướng về mầu nhiệm yêu thương của Thiên Chúa. Mầu
45
nhiệm đã được các ngôn sứ loan báo từ bao ngàn năm và
cuối cùng được thực hiện nơi chính cung lòng trinh khiết
của Đức trinh nữ Maria, một người nữ tử Sion, một cô thiếu
nữ hiền lành, đạo đức và hết mực thánh thiện :” Trinh nữ
Maria đã cưu mang Con Thiên Chúa bởi phép Chúa Thánh
Thần “ và Mầu nhiệm cứu độ đã đến trần gian nơi Hài Đồng
Giêsu…

MARIA LÀ AI ? :
Ở đây dựa theo Giáo lý Công Giáo chúng ta phác họa vài
nét cơ bản về Mẹ Maria để qua đó chúng ta hiểu Mẹ là ai ?
Đức Maria là Mẹ Đấng Cứu Thế, người đã sinh ra Chúa
Giêsu. Đức Mẹ Maria thuộc dòng dõi vua Đavít, thân sinh
người là ông thánh Gioankim và thân mẫu người là bà
thánh Anna. Theo như truyền thống kể lại thì hai ông bà đã
già chỉ có Maria là người con duy nhất. Maria sinh ra và lớn
lên tại làng Nagiarét, trong xứ Galilêa ở mạn Bắc nước
Palestina. Khi Maria đến tuổi thành hôn thì kết hôn với một
người tên là Giuse cũng thuộc chi họ vua Đavít, làm nghề
thợ mộc ở Nagiarét. Chính trong thời kỳ Maria đính hôn với
Giuse, trước khi về chung sống với nhau, thì thiên thần
Gabriel đã được Thiên Chúa sai đến truyền tin cho Maria
cho cô biết là cô sẽ thụ thai và sinh ra Đấng Cứu Thế. Và
tuy đã đính hôn nhưng Maria đã khấn giữ mình đồng trinh,
nên thưa lại cùng vị Thiên sứ rằng : “ Việc đó làm sao thực
hiện được vì tôi không biết đến người nam ?“. Nhưng Thiên
sứ đã giải thích cho Maria biết là cô đã thụ thai bởi phép
Chúa Thánh Thần chứ không theo thói thường nhân loại,
nên sinh con mà cô vẫn còn đồng trinh. Lúc ấy Maria mới
thưa lại cùng Thiên sứ :” Này tôi là nữ tỳ Chúa, xin vâng
như lời Thiên Thần truyền”.Chính lúc ấy Ngôi Hai đã xuống
đầu thai trong lòng trinh nữ Maria.

46
MẸ MARIA ĐƯỢC ƠN CAO VỜI :
Mẹ Maria hoàn toàn được đắc sủng với Thiên Chúa . Vì
được tuyển chọn, Mẹ Maria đã được những ơn huệ cao quí
mà bất cứ người nào trên trần gian này cũng không có
được. Bởi vì là người được Thiên Chúa cất nhắc làm Mẹ
Đấng Cứu Thế, nên ngay khi Mẹ Maria được cưu mang
trong cung lòng bà Thánh Anna, Thiên Chúa đã gìn giữ Mẹ
khỏi mọi tì ố, bợn nhơ của tội lỗi. Đây là mầu nhiệm:”Thiên
Chúa ban cho Mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội “. Chính vì thế,
Thiên Chúa luôn gìn giữ sự thánh thiêng của Mẹ, gìn giữ
Mẹ không vương bất cứ một chút bợn nhơ của tội lỗi trong
suốt cuộc đời của Mẹ. Trong những tháng cưu mang Chúa
Giêsu, Thiên Chúa luôn tuôn đổ hồng ân đặc biệt xuống
trên Mẹ để Mẹ nhận ra rằng Chúa Giêsu đang sống trong
Mẹ. Mầu nhiệm này thật lạ lùng đến nỗi thánh sử Luca đã
nhận xét về Mẹ Maria sau cuộc phục sinh của Chúa Giêsu
rằng :”Mẹ Maria đã ghi nhớ tất cả ,và suy đi nghĩ lại trong
lòng “ ( Lc 2, 19).

Có thể nói đây là biến cố hết sức kỳ diệu Chúa đã làm cho
Mẹ Maria và qua Mẹ Maria, Chúa cũng làm cho nhân loại
qua chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa đã ban cho
Mẹ những đặc ân cao quí nhất, Mẹ đã đem Chúa Giêsu
cho nhân loại và nhân loại đã lãnh nhận ơn cứu rỗi nơi
Chúa Giêsu. Đó là mầu nhiệm tuyệt vời Thiên Chúa đã trao
ban cho Mẹ Maria và trao ban cho con người, cho thế giới,
cho loài người.

Sự cưu mang Chúa Giêsu và sinh ra Chúa Giêsu bởi cung


lòng Đức Trinh Nữ Maria là một ân sủng lạ lùng Thiên Chúa
đã làm cho nhân loại, cho thế giới, cho từng người chúng
ta.

47
LỜI XIN VÂNG CỦA MẸ LÀ LỜI XIN VÂNG TRỌN CẢ
CUỘC ĐỜI :
Mẹ Maria không chỉ nói lời xin vâng một lần với Thiên
Chúa, nhưng lời xin vâng của Mẹ là lời xin vâng bao trùm
trọn cả kiếp người của Mẹ. Mẹ đã nói lời xin vâng làm theo
ý Thiên Chúa ngày truyền tin, nhưng lời xin vâng của Mẹ đã
đi theo suốt đời của Mẹ và điều vô cùng ý nghĩa và là của
lễ sống động nhất, đó là Mẹ đã chấp nhận đứng dưới chân
Thập Giá để dâng Con của Mẹ cho Đức Chúa Cha.

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ :


Cuộc đời của người môn đệ Chúa, của tất cả chúng ta sẽ
vô cùng ý nghĩa nếu biết sống trọn theo ý Chúa bằng việc
giữ Đạo và sống Đạo. Chúng ta sống phải như thánh
Phaolô : “ Tôi coi mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời
là được biết Đức Kitô “ hoặc “ Tôi sống nhưng không phải
tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi “.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ tăng thêm đức tin cho chúng con để
chúng con luôn biết nói lời xin vâng như Mẹ trong suốt cuộc
lữ hành trần thế của chúng con. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :
1. Chúa nhật thứ IV Mùa Vọng là Chúa nhật gì?
2. Tại sao Mẹ Maria lại nói lời xin vâng ?
3. Lời xin vâng của Mẹ có liên quan gì tới chúng ta ?
4. Chúng ta phải có tâm tình nào khi đón mừng đại lễ
Giáng Sinh ?

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, CSsR

48
TRỜI ĐẤT GIAO HÒA
Lm. Anphong Trần Đức Phương

Paul Claudel (1868 – 1955) là một văn hào người Pháp rất
nổi tiếng. Khi lớn lên, ông sống như một người vô thần,
mặc dù cha mẹ và gia đình là người Công Giáo. Trong khi
đang theo học về ngành ngoại giao ở Paris, vào một buổi
chiều ngày lễ Giáng Sinh năm 1886, lúc ông 18 tuổi, nhân
đi qua Nhà thờ Notre Dame, Paris, ông có ý tò mò đi vào
Nhà thờ để xem cảnh Giáng Sinh. Lúc đó vào giờ hát Kinh
Chiều, và ca đoàn đang hát bài Chúc Tụng (Magnificat).
Tiếng hát rất thánh thiện và thanh thóat đã làm cho chàng
thanh niên Claudel cảm thấy một bầu khí thật thiêng liêng
bao trùm anh và như có một sức mạnh siêu nhiên nào đó
làm anh như bị chiếm hút trong ngây ngất. Sau này, ông ghi
lại: “Ngay trong khoảng khắc đó, trái tim tôi bị xúc động và
tôi tin!” Đó là cảm nghiệm siêu nhiên đầu đời của anh, và
giây phút thiêng liêng đó cứ ám ảnh tâm trí anh, làm anh
quyết định tìm hiểu về Chúa qua Kinh Thánh, và sau một
quá trình khá lâu dài tìm hiểu, ông đã “nắm bắt được Thiên
Chúa” và “trở lại” cuộc sống Đức Tin Công Giáo suốt đời
một cách tích cực.

Từng là một sinh viên rất xuất sắc, khi ra trường, ông đã
được bổ nhiệm vào nhiều chức vụ quan trọng của ngành
ngoại giao Pháp ở nhiều nơi khác nhau, kể cả ở Trung
Hoa, ở Nam Mỹ. Ông đã từng là Đại Sứ Pháp tại Nhật Bản
(1922-1928), ở Hoa Kỳ (1928-1933), và ở Bỉ từ năm 1933
cho đến khi về hưu (năm 1936). Cuộc đời của Paul Claudel
hầu hết đều ở hải ngọai. Nhưng dù đi đâu và ở chức vụ
nào, ông vẫn giữ được một Đức Tin Công Giáo rất sống
động, trong sáng và hạnh phúc. Chính Niềm Tin đó đã cho
ông nguồn cảm hứng để sáng tác nhiều tác phẩm văn
49
chương nổi tiếng phản ảnh đời sống đạo đức của ông.
Trong số các tác phẩm lừng danh của ông (như Cinq
Grandes Odes, Tête d’Or, Le Soulier de Satan,…) có bản “
Truyền Tin” (L’annonce faite à Marie,The Annunciation of
Mary), ông viết trong hai năm 1910-1911 và ra mắt năm
1912. Vừa là một nhà ngoại giao xuất sắc, lại là một học
giả, một thi sĩ và nhà văn danh tiếng, ông được mời vào
Hàn Lâm Viện Pháp.

Giờ phút “Truyền Tin” là một giờ phút uy linh huyền nhiệm
của việc Ngôi Lời Thiên Chúa xuống thai trong lòng Trinh
nữ Maria. Giờ phút thiêng liêng “Trời Đất Giao Hòa.” Thiên
Chúa mặc lấy thân xác con người và ở cùng con người.
Đây là giờ phút vô cùng quan trọng của lịch sử Ơn Cứu Độ.
Vì thế, để tưởng nhớ giờ phút linh thiêng đó, hàng ngày,
các tín hữu luôn dành ba khoảng khắc quan trọng của một
ngày là sáng, trưa và chiều để nguyện Kinh Truyền Tin. Ở
những nơi có Thánh đường, vào những giờ phút đó, chúng
ta thường nghe có những tiếng chuông gọi là chuông
‘Truyền Tin’, ‘Chuông Nguyện’ (cũng gọi là chuông ‘nhật
một’, vì kéo từng tiếng ba lần, sau mới đổ hồi). Cũng có
nhiều thi phẩm và nhạc phẩm diễn tả giây phút huyền
nhiệm đó, giây phút Thiên Chúa đến với con người để nối
kết và hòa giải.Thi Sĩ Hàn Mạc Tử cũng có Bài thơ cảm
động về “Truyền tin”; nhạc sĩ Hoàng Diệp với bản Thánh Ca
“Theo Tiếng Thiên Thần Xưa Kính Chào”…

Tất nhiên Lễ Giáng Sinh vẫn là Đại Lễ được long trọng


mừng ở khắp nơi, để kỷ niệm Chúa Hài Nhi sinh ra đem
niềm vui Ơn Cứu Độ đến cho mọi người có tâm hồn thành
tâm, thiện chí. Tuy nhiên giờ phút Truyền Tin cũng thật sự
rất quan trọng. Khi Thiên Thần Chúa đến báo tin việc Mẹ
Maria được Thiên Chúa chọn để cưu mang và sinh ra Đấng

50
Cứu Thế, sau khi đã hiểu rõ ý Chúa, và việc Chúa Cứu Thế
xuống thai trong lòng Mẹ là do tác động của Chúa Thánh
Thần,và Mẹ vẫn đồng trinh trọn đời, Đức Mẹ thưa ‘Xin
Vâng’. Chính giây phút đó “Trời và Đất giao hòa: Thiên
Chúa xuống thế làm người và ở cùng chúng ta.” Mầu
Nhiệm đó đã tác động mạnh vào tâm hồn Paul Claudel để
ông viết nên tác phẩm trứ danh “Truyền Tin.” Hàng năm,
giáo Hội long trọng mừng Lễ này vào ngày 25 tháng 3.

Trong Chúa Nhật IV Mùa Vọng, năm B, chúng ta được


nghe bài Phúc Âm rất cảm động diễn tả về giây phút thánh
thiêng đó (Luca 1,26-38). Bài Phúc Âm này cùng với Bài
Đọc I trích trong sách Tiên Tri Samuel (7,1-5; 8-12; 14-16)
và Bài Đọc II trích trong thơ Rôma (16, 25-27) đều giúp
chúng ta những tư tưởng thánh thiện, thiêng liêng để chúng
ta chuẩn bị tâm hồn xứng đáng mừng kỷ niệm Thiên Chúa
đã xuống thế làm người từ hơn hai ngàn năm trước.

Lịch sử Ơn Cứu Độ kéo dài cách nhiệm mầu trong Thánh


Kinh Cựu Ước đã được thực hiện trong ngày “Thiên Chúa
làm người ở giữa chúng ta!” Nhưng Ngài không sinh ra
trong cảnh giầu sang, trong nhà lầu gác tía; trái lại, Ngài đã
sinh ra trong cảnh hèn mọn cùng cực, trong hang đá bò
lừa; Mẹ Maria và Thánh Giuse cũng chỉ là những người
nghèo khó, bình dân, đơn sơ. Ngài đến không phải để
“thống trị, để được người ta hầu hạ, nhưng Ngài đến để
phục vụ và hầu hạ mọi người (Matthêu 20,28). Ngài đến để
đem cả cuộc đời phục vụ những người nghèo khó, bệnh
tật, những lớp người thấp hèn nhất. Ngài đến để chia sẻ
thân phận đau khổ của mọi người và rao giảng Tin Mừng
tình thương và ơn cứu độ. Ngài đến để kêu gọi mọi người,
kể cả những người lỡ yếu đuối sa ngã, biết nhận ra: Thiên
Chúa là Cha yêu thương của mọi người; Thiên Chúa không

51
xa rời con người nhưng luôn gần gũi mọi người, kể cả
những người tội lỗi ( Matthêu 18,12…), để giúp mọi người
canh tân đời sống, sống xứng đáng những con người đã
được Chúa dựng nên “theo hình ảnh của Chúa!”

Chỉ còn mấy ngày nữa, là chúng ta lại được cùng toàn thể
Giáo Hội và thế giới mừng Đại Lễ Giáng Sinh. Chúng ta lại
được nghe lời Thiên Thần hát mừng năm xưa:
“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
Bình an dưới thế cho người thiện tâm!” (Luca 2,14)

Xin Chúa đến với Thế Giới, đến với mọi người chúng ta,
đến với gia đình chúng ta, giúp chúng ta xây dựng sự hòa
hợp yêu thương ngay trong tâm hồn chúng ta, trong gia
đình chúng ta, và chung tay xây dựng Hòa Bình và sự
Công chính trên thế giới. Xin cho chúng ta được sống
những cảm nghiệm thiêng liêng đã tác động Paul Claudel,
cũng như bao tâm hồn thành tâm, thiện chí khác, để chúng
ta biết nhìn vào máng cỏ nghèo hèn, học bài học sống khó
nghèo, khiêm tốn, sống yêu thương hòa hợp và phục vụ
mọi người, nhất là những người nghèo khó, già yếu, bệnh
tật.

Xin cùng hiệp lời cầu nguyện chung để ơn sủng Giáng Sinh
giúp đổi mới con người chúng ta, gia đình chúng ta, thế giới
chúng ta; giúp chúng ta luôn sống đức tin một cách tích
cực, sống động, vui tươi, hạnh phúc, và đem tình yêu của
Chúa đến cho mọi người chúng ta gặp gỡ hàng ngày trong
mọi hoàn cảnh.
Xin chúc mừng Giáng Sinh 2008 và Năm Mới 2009.

Lm. Anphong Trần Đức Phương

52
ĐẤNG ĐẦY ƠN PHƯỚC
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Giáo Hội đang hướng về mầu nhiệm vĩ đại nhất trong lịch
sử nhân loại, Mầu Nhiệm Nhập Thể. Ngôi Hai làm người để
cứu chuộc nhân loại, thiết lập Nước Trời. Công trình cứu
độ đựơc khởi đầu cách âm thầm, giản dị tại một làng quê
nghèo, với một thôn nữ bình thường chẳng mấy người biết
tới.

Sứ Thần cung kính thưa với người nữ ấy rằng: “Mừng vui


lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!" (Lc
1,28). "Ðấng đầy ơn phước" là tên gọi đẹp nhất của Mẹ
Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ
cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ
là Ðấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn,
được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa
Giêsu, "tình thương nhập thể của Thiên Chúa" (Thông điệp
Thiên Chúa là tình yêu, số 12).

Sau khi đã tuyển chọn và trang điểm cho người nữ ấy với


muôn vẻ đẹp và ơn phước, Thiên Chúa đã sai Sứ thần
Gabriel đến báo tin và thỉnh ý ngài tại làng quê Nazareth.

Sứ thần cung kính bái chào vì thấy Đức Mẹ cao trọng và


trong sạch hơn các thiên thần. Tước hiệu Bà đầy ơn phước
xác nhận lòng Đức Mẹ không có chổ dành cho tội lỗi vì luôn
được đầy tràn ơn phước của Thiên Chúa. Thiên Chúa ở
cùng Bà: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó bóng tối của tội lỗi
không thể có mặt. Mẹ luôn sống trong ân sủng và tình yêu
của Thiên Chúa. Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ vì Mẹ
là người duy nhất không vướng mắc tội tổ tông.

53
Sứ điệp Truyền tin chính là: Đức Mẹ được Thiên Chúa
tuyển chọn, ngài đáp tiếng “xin vâng” cách tự do và từ đó
Đức Mẹ trở nên thầy dạy tuyệt vời cho nhân loại.

Đức Mẹ đựơc Thiên Chúa tuyển chọn.


Nếu tôi có quyền chọn người mẹ sinh ra tôi, tất nhiên tôi sẽ
chọn một người nữ hết sức xinh đẹp và thánh đức. Xinh
đẹp đến nổi làm cho tất cả các phụ nữ khác đều phải ghen
tuông sửng sốt. Thánh đức đến nổi làm cho mọi người đều
phải cảm phục, ngợi khen. Ai cũng ước mong như thế.

Trong một lớp giáo lý, cô giáo hỏi các em học sinh: Em mơ
ước điều gì cho mẹ của các em? Các em đua nhau trả lời:

• Em muốn cho mẹ em là người đẹp nhất trên thế giới nầy.


• Em mơ ước mẹ em có một sức khoẻ thật dồi dào.
• Em cầu mong cho mẹ em giàu sang, có thật nhiều tiền
bạc.
• Em chỉ ước mong cho mẹ em là một bà mẹ hiền lành, đạo
đức và nhân hậu.

Chỉ là ước mơ vì không ai có quyền chọn người mẹ sinh ra


mình. Nhưng đối với Thiên Chúa thì khác hẳn, Ngài đã sinh
ra bởi một người nữ được tuyển chọn. Đây là trường hợp
độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người. Đức Maria đã
được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để cộng tác
với Ngài trong công trình cứu độ. Ngài chọn Maria vì Ngài
muốn chọn, theo sự tự do của Ngài (x. Rm 9,12.16), và
cũng “vì bà đẹp lòng Thiên Chúa”.

Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ
mình Đức Mẹ được diễm phúc mà thôi. Chúa chọn Đức

54
Mẹ, đó là do ân huệ nhưng không của Chúa, và cũng bởi
Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.

Nhờ lòng khiêm nhường nên Đức Mẹ đựơc quyền năng


Thiên Chúa bao phủ. Sứ thần nói với Đức Mẹ: “Quyền
năng của Đấng tối cao sẽ bao trùm lên bà, vì thế Đấng
Thánh con của bà sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa”
(Lc1,35). Tiếng quan trọng ở trong câu đó là “bao trùm lên”
hay “bao phủ lên”. Lều tạm nơi dân Do Thái để hòm Giao
Ước. Câu (Xh 40,34) nói rằng bao lâu đám mây còn bao
phủ lều tạm thì “lều tạm có Thiên Chúa hiện diện”.

Việc Luca chọn và dùng từ “bao trùm lên” có ý nghĩa thâm


sâu. Luca so sánh thân thế Đức Maria với lều tạm nơi đặt
Hòm Giao Ước của Thiên Chúa. Luca so sánh cung lòng
Đức Maria nơi Đức Giêsu sẽ tới cư ngụ với Hòm Giao Ước
nơi đặt hai phiến đá có ghi 10 điều răn của Thiên Chúa.
Như vậy nghĩa là khi quyền năng của Thiên Chúa bao trùm
lên Đức Maria, thì có “Thiên Chúa hiện diện” trong Mẹ.
Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Maria thì vô
cùng phong phú hơn sự hiện diện của Ngài trong “lều tạm”.
Sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria chính là sự
hiện của Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.Quyền năng
Chúa Thánh Thần bao trùm, cùng với máu thịt của mình,
Đức Maria đã tạo nên hình hài Đức Giêsu.Đức Giêsu mặc
lấy thân xác con người nhờ máu thịt Mẹ và Ngài vẫn là
Thiên Chúa được Chúa Cha sinh ra từ muôn thuở. Cả hai
bài đọc giúp chúng ta hiểu thêm về mầu nhiệm ấy. Bài đọc
1 trong (2 Sm 7,1-16): Thiên Chúa từ chối ngôi đền vật chất
mà Đavit muốn xây cho Ngài; nhưng traí lại Thiên Chúa
hứa cho Đavit một ngôi nhà thiên thu là dòng dõi Đavit.Lời
hứa này được thực hiện nơi Đức Maria, Đấng trở nên Hòm
Bia Thiên Chúa,nơi đây Con Thiên Chúa đến với loài

55
người. Đó chính là mạc khải của mầu nhiệm được giữ kín
từ muôn thuở nay được bày tỏ ra mà Thánh Phaolô đề cập
đến trong bài đọc 2 (Rm16,25-27).

Đức Maria đã tự do đáp tiếng “Xin vâng”.


Thiên Chúa không chọn lựa cách độc đoán. Ngài tôn trọng
tự do của người đựơc chọn. Ngài sai Sứ Thần đến và
muốn Đức Mẹ hoàn toàn ưng thuận theo suy nghĩ và sự tự
do của mình. Thiên Chúa “bật mí” cái bí mật từ ngàn đời.
Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nổi muốn trở
thành một con người giữa nhân loại. Và Thiên Chúa đã
chọn Mẹ Maria là để Ngài sai Con Một Ngài đến giữa nhân
loại, thực hiện chương trình cứu độ. Giây phút Đức Mẹ tự
do đáp lời “Xin vâng” là khởi đầu bình mình ơn cứu độ cho
thế nhân. Nếu như Nguyên Tổ bị con rắn cám rỗ bằng lời
nghi nan, lừa lọc dối trá, gây cuộc nổi loạn và Adam và Evà
đã sa ngã, đau khổ sự chết tràn vào thế gian; thì Sứ thần
Gabriel đề nghị một sự tự do ưng thuận. Đức Maria thưa
“Xin vâng”, lời ấy đã làm cho Ngôi Hai làm người. Từ đây,
nhờ Đức Maria, tin tưởng và vâng phục, nhân loại được
liên kết trở lại với Thiên Chúa.

Thái độ “Xin vâng” của Mẹ hoàn toàn khác với Adam Evà
trong câu chuyện vườn địa đàng. Sau khi ăn quả cấm trái
lệnh Chúa, Adam đã đổ lỗi cho Evà, Evà đổ lỗi cho con rắn.
Và đó chính là thảm kịch của con người: không ai nhận lỗi,
không ai chịu trách nhiệm, không ai có thiện chí nên xã hội
mãi chậm tiến, nên hạnh phúc trở thành khó khăn xa vời.
Mẹ Maria đã đáp “Xin vâng” không chỉ một lần mà còn
nhiều lần trong đời. Mẹ luôn đảm nhận trách nhiệm và chu
toàn thánh ý Thiên Chúa. Mẹ Maria mãi mãi là tấm gương
cho chúng ta soi trong cuộc đối thoại lắng nghe Lời Chúa
và đáp trả Lời Chúa. Thiên Chúa đã chứng tỏ nơi Mẹ điều

56
không thể để trở nên điều có thể. Vì “cái gì cũng có thể đối
với người có lòng tin” (Mc 9,23).

Đức Mẹ là nhà giáo dục tài giỏi.


Chúng ta đang sống những ngày cao điểm của phụng vụ
Mùa Vọng. Trong suốt năm qua, Giáo Hội Việt Nam khai
triển học hỏi và sống thư chung của HĐGM Việt nam, với
chủ đề "Giáo dục Kitô giáo". Năm mới, Giáo hội tiếp tục học
hỏi và sống tinh thần “giáo dục gia đình Công giáo”.

“Thánh Cả Giuse và Đức Maria là những bậc cha mẹ


gương mẫu, luôn biết đón nhận thánh ý Chúa và đem ra
thực hành. Trong gia đình Nazareth mọi thành viên đều tôn
trọng nhau, mong muốn cho nhau điều tốt và cùng nhau
thực hiện ý của Cha trên trời. Thánh Giuse và Đức Maria là
những nhà giáo dục tài giỏi đã chu toàn sứ mạng được trao
phó trong sự khôn ngoan và trung tín”.(Thư HĐGMVN
2008, số 20).

Thiên Chúa đã tín nhiệm Mẹ khi để Con Một Ngài là Chúa


Giêsu sinh ra và lớn lên trong gia đình Nazareth dưới sự
dìu dắt và dạy dỗ của Mẹ. Như thế chúng ta có thể nói rằng
Đức Maria là nhà giáo dục tài giỏi và trở thành gương mẩu
cho tất cả mọi nhà giáo dục.

Giáo Hội ước mong mỗi gia đình Kitô giáo phải là trường
học đầu tiên để thông truyền, dạy dỗ và bảo dưỡng cho con
cái về đời sống đức tin, đức ái, đời sống cầu nguyện, tình
liên đới, vị tha, hài hòa, quảng đại, những đức tính nhân
bản như khôn ngoan, công bằng, can đảm và tiết độ. Các
môi trường khác như giáo xứ hay học đường chỉ tiếp tay
với gia đình chứ không thể thay thế gia đình trong vấn đề
giáo dục đức tin, đức ái. Cha mẹ phải là những nhà giáo

57
dục tuyệt đối cần thiết cho sự phát triển hài hoà và bền
vững của đời sống đạo đức cho mọi người trong gia
đình.Gương sáng của cha mẹ và những bậc cha anh đóng
vai trò quan trọng để giáo dục lương tâm cho những thế hệ
nối tiếp. (x.Thư HĐGMVN 2008).

Đức Mẹ chính là thầy dạy đức tin và lòng yêu mến. Tin và
yêu giống như đôi cánh giúp cho Mẹ này bay lên rất cao lên
tới Thiên Chúa.Tin và yêu giống như dòng thác nước. Càng
gặp đập ngăn cản càng dâng lên cao. Càng dâng lên cao
sức mạnh càng tăng. Và khi đổ ào xuống sẽ phát sinh công
hiệu lớn. Tin và yêu giống như chiếc chìa khóa có thể mở
được cánh cửa khó mở nhất. Mở được cả cánh cửa nước
trời, mở được cả tâm hồn của Thiên Chúa.

Hãy lắng nghe những lời giáo huấn của Đức Mẹ và hãy noi
gương giáo dục của Đức Mẹ để sống tốt lành và thánh
thiện hơn.

Giáo Hội đang chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh. Đức Mẹ đã


chuẩn bị một lễ Giáng sinh đẹp nhất, công phu nhất, dài
nhất bằng chín tháng cưu mang trong tình yêu. Xin Mẹ
cũng giúp chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh với tâm
tình yêu mến như Mẹ.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

58
SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA
Lc 1,26-38
Lm. An Phong, OP

Trước ngưỡng cửa của "mầu nhiệm Thiên Chúa làm


người", Ðức Maria xuất hiện như một nhân vật quan trọng,
cần thiết và chính yếu. Mẹ đã cộng tác vào chương trình
cứu độ của Thiên Chúa khi đón nhận Ngôi Lời Nhập thể
vào chính cung lòng mình. "Mẹ đã cưu mang Lời Chúa".
Trình thuật thiên thần Gabriel truyền tin cho Mẹ có lẽ là
cách trình bày về một kinh nghiệm nội tâm, thiêng liêng hơn
là một biến cố lịch sử thuần túy. Cuộc đối thoại giữa Thần
sứ Thiên Chúa và Mẹ thực là cuộc đối thoại nội tâm tuyệt
vời. Chính trong giây phút đó, giây phút Thiên Chúa đề nghị
và chờ đợi - Hẳn là Người không phải chờ đợi lâu ! - và
tương lai ơn Cứu độ, mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập thể vẫn
còn lơ lửng, Mẹ đã "Xin Vâng" (Lc 1,38). Nhưng điều quan
trọng là chính sứ điệp muôn dân đang chờ đợi bao năm
trường được thực hiện : "Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai,
hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel,
nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Is 7,14). Thật là kỳ
diệu và lạ lùng việc Thiên Chúa thực hiện.

Mẹ thực là một "nữ tỳ của Thiên Chúa" (Lc 1,38) trong đức
tin, tình yêu và sự thuận theo kế hoạch của Thiên Chúa. Mẹ
đã hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa, tuy vẫn chưa
rõ Ý Thiên Chúa sẽ dẫn Mẹ đến đâu. Vài phút trước đó, Mẹ
đã "hoảng sợ và tự hỏi lời chào (của Thiên sứ Gabriel) như
vậy có nghĩa gì" (Lc 1,29). Và Thiên Chúa đã thực hiện
"những việc lớn lao" qua người nữ tỳ khiêm hạ của Người"
(Lc 1,49).

Nhưng, Mẹ vẫn là một cô gái đơn sơ nơi một làng quê


nghèo hèn". Thi sĩ Max Jacob đã mô tả cô gái đó thật giản
59
dị, gần gũi, tuy không kém phần cao sang vì là "hôn thê
Thiên Chúa".

Muôn ngàn lời ngợi khen cô gái ấy. Một thôn nữ đơn sơ nơi
làng nhỏ nghèo hèn Nhưng lại được làm hôn thê Thiên
Chúa. Cô đã được Sứ Trời thăm viếng. Cô được thấy
Người bằng chính mắt của Cô. Cô chỉ là cô gái nhỏ đơn sơ.
Là thôn nữ chốn hoa đồng cỏ nội. Mái tranh êm và gia cảnh
thanh bần…

Cùng với Mẹ Maria, "nữ tỳ khiêm hạ và hôn thê Thiên


Chúa", giản dị, gần gũi, chúng ta bước vào Năm Thánh
2000 với lòng tràn đầy tin yêu và ân sủng Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu!


Chúng con đang sống những ngày cuối mùa Vọng,
đang tiến gần đến Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người.

Cùng với Ðức Mẹ Maria,


người đã cộng tác vào chương trình cứu độ
bằng lời "xin vâng",

Xin cho chúng con cũng biết tự do đáp lại lời Chúa mời gọi,
làm cho Ðức Giêsu được sinh ra mỗi ngày
trong đời sống trần thế bằng yêu thương.

Như Chúa đã đến trong cung lòng Mẹ Maria,


xin Chúa cũng đến trong đời sống chúng con,
để chúng con bước vào mộ t Năm Thánh
tràn đầy ân sủng, bình an và ơn cứu độ.

Lm. An Phong, OP

60
CON ÐƯỜNG HOÀ BÌNH
Lc 1,26-38
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

Con người tưởng không gì có thể ngăn cản tiến bộ nhân


loại. Nhưng giới hạn vẫn còn đó. Bao kế hoạch, chương
trình dở dang. Bao uớc mộng ngổn ngang. Có một Ðấng
không bị lệ thuộc vào bất cứ giới hạn nào. Người có thể
làm tất cả để thực hiện chương trình cứu độ. Cộng tác vào
chương trình đó, Ðức Maria đã trở thành khuôn mặt phản
ánh nguồn ân sủng và quyền năng Thiên Chúa. Mẹ đã làm
tất cả những gì cần thiết để đem Con Chúa vào đời.

GIỜ ÐÃ ÐIỂM
Thiên Chúa đã có kế hoạch cứu độ con người, nhất là khi
hứa với thánh vương Ðavít : "Vương quyền ngươi sẽ tồn
tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền
mãi mãi" (2Sm 7:16). Lời hứa đó làm sao thành hiện thực
nếu Con Thiên Chúa không làm người để con người trở
thành con Thiên Chúa ? Ðã đến lúc thực hiện kế hoạch đó.
Bởi vậy sứ thần Gabriel đã được Thiên Chúa sai đến với
Trinh Nữ Maria tại Nazareth. Trong khung cảnh nhỏ bé và
âm thầm hôm đó, tất cả bí mật trời đất được mạc khải. Trời
đất đi vào một tương quan mới, tương quan tình yêu.

Tất cả đều diễn ra ngoài sức tưởng tượng. Khi được sứ


thần đễ nghị: "Này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai
và đặt tên là Giêsu" (Lc 1:31), Trinh Nữ Maria ngạc nhiên :
"Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ
chồng !" (c.34). Ðó là việc vượt quá sức tưởng tượng và
ngoài khả năng của một trinh nữ. Nhưng Trinh Nữ được
trấn an ngay : " Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và
quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà." (c.35). Tất
cả đều dễ như trở bàn tay,"vì đối với Thiên Chúa, không có
61
gì là không thể làm được." (c.37) Tin tưởng tuyệt đối vào
tình yêu Thiên Chúa, Ðức Maria đã dấn thân: "Vâng, tôi đây
là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần
nói." (c.38)

Thế là kế hoạch cứu độ đã khởi đầu từ thái độ đầy khiêm


cung của Ðức Trinh Nữ. Chính vì thế, sứ thần mới ca ngợi :
"Bà đẹp lòng Thiên Chúa." (c.30) Lời "xin vâng" sẽ ảnh
hưởng tới toàn thể cuộc đời và sứ mệnh của Ðức Giêsu
trong suốt hành trình về nhà Cha. Ðức Giêsu đã thừa
hưởng một nền giáo dục lý tưởng từ một "Ðấng đầy ân
sủng" (c.28) và chan chứa niềm vui vì Ðức Chúa luôn hiện
diện trong tâm hồn và cuộc sống. Suốt đời Mẹ không bao
giờ sợ hãi như khi mới gặp sứ thần, vì Con Mẹ "sẽ được
gọi là Con Thiên Chúa" (c.35), nhất là vì "Ðức Chúa là
Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít." (c. 33)
Bởi vậy dù bị dồn tới chân tường, như khi vua Hêrôđê lùng
bắt Con hay khi Con bị căng thây trên thập giá, Mẹ không
hề khiếp sợ và tuyệt vọng. Trái lại Mẹ vẫn tin tưởng vào
quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa nơi Người Con độc
nhất.

Như thế, Con Mẹ chính là Ðấng Messia đã đến thỏa mãn


mọi nguyện vọng của dân tộc Israel. Bao nhiêu năm mòn
mỏi đợi chờ, nay họ mới được chiêm ngắm dung nhan của
Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Nhiều ngôn sứ đã nhân
danh Thiên Chúa đến với dân chúng. Nhưng khác với họ,
Ðức Giêsu đến với tư cách là "Con Thiên Chúa" (c.35).
Không có tư cách này, Ðức Giêsu cũng tầm thường như
các ngôn sứ khác. Nhưng với tư cách "Con Thiên Chúa",
Ðức Giêsu có thể cứu độ toàn thế giới. Ðó là lý do tại sao
Thiên Chúa phải can thiệp đặc biệt vào việc truyền tin cho
Trinh Nữ Maria, một "nữ tỳ của Chúa" (c.38).

62
Sau lời "xin vâng", Ðức Maria đã khiến Con Thiên Chúa
nhập thể cứu đời. Mẹ thật là gương mẫu tuyệt vời cho tất
cả Kitô hữu. Lời "xin vâng" của Mẹ không nặng tính thụ
động. Trái lại, nhờ đó Mẹ đã tích cực cộng tác vào chương
trình cứu độ của Thiên Chúa. Mẹ đã làm cho "Ý Cha thể
hiện dưới đất cũng như trên trời."(Mt 6:10) Hằng ngày
chúng ta cũng đọc một lời kinh như Mẹ. Ý Cha bao giờ
cũng nặng tình yêu cứu độ. Dưới lăng kính này, Ý Cha thật
tuyệt vời. Chấp nhận và thi hành Ý Cha sẽ biến chúng ta
thành những người nhà của Thiên Chúa.

Chính vì luôn thực thi Ý Cha, Mẹ Maria đã trở thành "Ðấng


dầy ân sủng" (c.28) và luôn "đẹp lòng Thiên Chúa" (c.30).
Tuy thế không phải đời Mẹ lúc nào cũng toàn hoa hồng.
Trái lại, Mẹ đã phải phấn đấu rất nhiều, nhất là khi thấy Con
Mẹ bị thiên hạ chối bỏ và giết chết. Không có lời "xin vâng"
của Mẹ, không biết chương trình cứu độ sẽ ra sao ?! Bởi
vậy, Mẹ đã góp phần rất lớn vào sự nghiệp Con Chúa trên
trần gian. Lời "xin vâng" đã đưa Con Chúa vào đời. Trong
khiêm cung, Ðức Mẹ đã hủy mình ra không để Thiên Chúa
trở thành tất cả trong mọi sự.

Ý CHA TRONG THIÊN NIÊN KỶ MỚI


Chính vì thế, Ðức Mẹ đã trở thành tụ điểm hiệp nhất Kitô
hữu. Giáo sư Stephan Tobler thuộc đại học Tubingen Ðức,
một nhà thần học Tin Lành Cải cách hàng đầu, đã nói :
"Thiết tưởng các giáo hội Tin Lành có thể lại thấy Ðức
Maria như hình ảnh con người hoàn toàn mở lòng ra với
Thiên Chúa khi thưa 'xin vâng', khi nói 'hãy làm tất cả
những gì Người nói với các anh', khi đứng dưới chân cây
thánh giá, khi hiện diện trầm lặng bên các môn đệ." (Zenit
12/12/2002) Thực vậy, "đi qua các cảnh tượng trong kinh
Mân Côi với Mẹ Maria như đi vào trường học Mẹ Maria để
học về Chúa Kitô, thấm nhuần các mầu nhiệm, thấu hiểu
63
sứ điệp của Người. Chuỗi Mân côi còn đẩy mạnh cả tinh
thần đại kết." (ÐGH Gioan Phaolô II : Zenit 12/12/2002)
Giáo sư Stephan Tobler cùng chia sẻ quan điểm đó với
Ðức Thánh Cha khi nói : "Trong bức tông thư, ÐGH nói cần
phải tái phát động kinh Mân côi trong kinh nguyện Kitô giáo.
Người nhấn mạnh rằng còn hơn một lời nguyện, kinh Mân
côi là một sự chiêm ngắm mầu nhiệm. Ngày nay chắc chắn
tính nhậy cảm và sự tìm kiếm trước tiên đòi tái khám phá
một nơi cho trái tim ngủ yên, linh hồn chiêm nghiệm những
mầu nhiệm Thiên Chúa và cả những đường lối có thể thực
hiện điều đó. Trong truyền thống riêng, chúng tôi phải tái
khám phá những phương thức tương đương, tương tự."
(Zenit 12/12/2002) Sau bao năm đối thoại với Giáo hội
Công giáo, anh em Tin Lành mới bắt đầu thấy được con
đường đến với Chúa Giêsu ngang qua Ðức Maria. Thực tế,
nhiều người thành tâm cũng đã gặp Chúa Cứu thế, khi thấy
bóng dáng Ðức Maria nơi các tín hữu. Thực vậy, nếu tất cả
Kitô hữu đều sống niềm tin Maria, chắc chắn ơn cứu độ sẽ
đến với mọi người. Niềm tin ấy đã khiến Ðức Maria hoàn
toàn phó thác cho Thiên Chúa và luôn suy niệm để tìm ra
thánh ý Thiên Chúa qua các sự kiện trong cuộc đời (x. Lc
2:15-20).

Còn một cuộc đối thoại khác, vô cùng cần thiết cho việc
Phúc âm hoá và nền hoà bình thế giới. Thật vậy, trong
khung cảnh văn hóa Á châu, không có gì tế nhị cho bằng
việc đối thoại với các tôn giáo để tìm ra thánh ý Chúa.
Thánh Linh đã và đang hoạt động trong tất cả các tôn giáo,
chứ không riêng Kitô giáo. Không cộng tác với các tôn giáo
khác, không thể khám phá ra đường nét tuyệt vời của
Thánh Linh trong tâm hồn những nguời dân Á châu. Cụ thể
hơn, trên quê hương chúng ta các tôn giáo như Cao đài,
Hòa hảo cũng tôn kính Ðức Giêsu như một vị tiên tri (?) Số
tín đồ lớn lao trong các tôn giáo hứa hẹn một mùa gặt lớn
64
lao cho Giáo hội. Thánh ý Chúa đang xoay chuyển về Á
châu để cứu độ muôn dân.

Từ các tôn giáo lâu đời đó, một truyền thống cầu nguyện vô
cùng quí báu sẽ giúp chúng ta khám phá một đường lối kết
hợp với Thiên Chúa phù hợp với lòng tin dân tộc đặt nơi
Ông Trời. Sau bao thế kỷ chung nhịp với quê hương, Ðạo
Phật vẫn không xóa nổi hình ảnh Ông Trời trong niềm tin
dân tộc. Từ lòng tin đó phát xuất một lối cầu nguyện đầy
tình cảm. Hơn lúc nào, cầu nguyện là nối kết mọi lòng tin
khác nhau cho nhu cầu hoà bình thế giới. Thật vậy, "cầu
nguyện cho hoà bình là mở rộng trái tim con người cho
quyền năng Thiên Chúa xâm nhập vào để canh tân mọi
sự." (ÐGH Gioan Phaolô II: Thông Ðiệp Ngày Hoà Bình Thế
giới 2002) Trong chiêm niệm và cầu nguyện, Ðức Maria đã
đón rước Thái tử Hoà bình vào cuộc sống nhân loại.

Lm. Giuse Đỗ Vân Lực, OP

THIÊN CHÚA TÌM CHO MÌNH MỘT NGÔI NHÀ


Lc 1,26-38
Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

Tin Mừng cho người biết khiêm tốn


Ai ai cũng mong đón nhận một tin mừng : một thanh niên
thành đạt trong cuộc thi hay đám cưới của một người bạn
thân ... Một đứa trẻ sắp ra đời cũng là một tin mừng -có lẽ
là tin mừng lớn lao nhất, đúng nghĩa nhất- bởi vì trước hết,
đó là một sự sống mới phát sinh từ tình yêu. Tuy vậy, một
tin mừng không có nghĩa là không có lo âu, không có nghĩa
là không có những thắc mắc về tương lai.

65
Biến cố truyền tin cho Ðức Maria đúng là một tin mừng, một
Tin Mừng đích thực. Với biến cố này, Ðức Maria sẽ sinh hạ
một người con, nhưng cũng là sinh hạ Con Người, Con
Thiên Chúa, đổng thời cũng là sinh hạ một thế giới mới.
Nơi người con này, sự chết sẽ vĩnh viễn bị tiêu diệt. Trước
lời loan báo như thế, thái độ đáp trả của Ðức Maria diễn ra
theo ba giai đoạn : trước tiên, khi nghe lời chào của sứ
thần, Mẹ hoảng sợ ; sau đó, rất cụ thể và với tất cả ý ngay
lành, Mẹ lo lắng vì "làm sao có chuyện ấy được" ; cuối
cùng, sau khi nghe lời giải thích của sứ thần, Mẹ thanh thản
nhường chỗ cho Lời của Thiên Chúa, sẵn sàng chấp nhận
làm Nữ Tỳ khiêm tốn của Thiên Chúa. Trong khi chấp nhận
làm Nữ Tỳ khiêm tốn của Thiên Chúa, Ðức Maria cũng tràn
đầy vui mừng bởi vì Mẹ nhận biết rằng Thiên Chúa yêu
mến Mẹ. Mẹ rất hãnh diện khi biết rằng mình là con cái
Thiên Chúa, được Người tuyển chọn để thi hành một việc
rất cao cả.

Quả thế, Ðức Maria được mời gọi cộng tác vào việc hạ sinh
Ðức Giê-su. Ðó là việc phục vụ tuyệt vời nhất, nhưng đồng
thời cũng là công việc đau thương nhất của tất cả mọi
người phụ nữ. Còn gì cao quý và hạnh phúc cho người mẹ
hơn là việc hạ sinh một người con, một sinh vật hình thành
từ chính máu thịt của mình. Nhưng cũng có gì đau thương
hơn đối với người mẹ trong việc sinh con, không phải chỉ là
những đau đớn thể lý, nhưng là thái độ không chiếm hữu
người con, để cho người con ấy hành động như một con
người, và tự mình sống đời của mình. Không ít người phụ
nữ cảm thấy khó có thể chấp nhận được tình trạng đau
thương này.

Riêng với Ðức Maria, khi chấp nhận cưu mang Ðức Giê-su,
Mẹ cũng đã chấp nhận việc Ðức Giê-su thoát khỏi đôi tay
của mình. Toàn bộ cuộc đời của Mẹ, từ sau biến cố này,
66
luôn là một sự dấn thân, một cuộc phiêu lưu thực thụ trong
việc từ bỏ mình, để cho chính người con mình đã sinh ra
luôn hướng về việc thi hành thánh ý của Thiên Chúa (x. Lc
2,48-49). Bởi vì Mẹ biết rằng, người con Mẹ đã cưu mang
trong cung lòng trinh khiết của mình là do Thiên Chúa và
thuộc về Thiên Chúa. Có thể nói được rằng, trong cuộc đời
của Ðức Maria, vai trò làm mẹ, dù là Mẹ Thiên Chúa, vẫn
có tầm quan trọng thứ yếu. Ðiều quan trọng hơn hết, chính
là lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa.

Ngôi nhà chính là một thái độ


Ðiều đáng lưu ý trong trình thuật truyền tin, đó là Ðức Maria
đã không bao giờ dám mơ tưởng mình sẽ nhận được một
hồng ân lớn lao ; nhưng khi được đề nghị, Mẹ đã ưng
thuận.

Nơi Ðức Maria, niềm hy vọng của quân vương Ða-vít được
thành tựu. Ông từng ước mong xây dựng cho Thiên Chúa
một ngôi nhà, nhưng ông đã không được diễm phúc ấy.
Ðức Maria quả là ngôi nhà mà vua Ða-vít hằng mơ ước,
bởi vì Thiên Chúa đã đích thân đến xây dựng nơi ở của
Người giữa nhân loại. Chính Thiên Chúa xây dựng cho
mình chứ không phải ai khác. Ngôi nhà ấy là một con người
sống động, thật khiêm tốn chứ không phải là căn nhà uy
nghiêm được xây bằng gỗ đá.

Ðức Giê-su chính là Ðền Thờ của Thiên Chúa. Người đã


đến trong cung lòng Ðức Maria. Về phần mình, Ðức Maria
chưa bao giờ nghĩ đến một điều như thế, và cũng chẳng
bao giờ tìm cách xây dựng bằng nỗ lực của mình.

Như thế, một bên, chương trình của vua Ða-vít vẫn còn
nằm trong ý tưởng, trong ước mơ, (mơ hổ về cả mục đích :
mong muốn tôn vinh Thiên Chúa, điều ấy có ; nhưng đồng
67
thời cũng là khát vọng muốn tôn phong vương quyền của
mình, muốn chiếm hữu Thiên Chúa. Một bên, Ðức Maria
chỉ có một ước mơ duy nhất là dâng hiến cuộc sống của
mình cho Thiên Chúa (lời khấn trinh khiết là một dấu chỉ),
và không tìm cách chiếm hữu Thiên Chúa, thì Thiên Chúa
đã thực hiện những điều kỳ diệu : Người đã đến xây dựng
ngôi nhà cho mình.

Quả thế, tính cách cao cả nhất trong con người Ðức Maria,
tính cách làm cho Mẹ trở thành phần tử ưu việt của Ít-ra-en,
tính cách làm cho Mẹ trở nên thánh thiện tuyệt vời, đó là
Mẹ hoàn toàn thanh thản và sẵn sàng. Thái độ này đã
được khởi đầu với lời khấn trinh khiết và ý muốn duy trì nếp
sống này mãi mãi, cả khi nghe lời loan báo của sứ thần.
Thế nhưng, cũng chính thái độ này làm bật lên tiếng kêu :
"Này tôi là Nữ Tỳ của Thiên Chúa". Ðức Maria đã từ bỏ một
điều tốt đẹp để nhận lấy điều tốt đẹp hơn ; đã từ bỏ ý định
cao cả của mình để đón nhận điều cao cả nhất là chính
Thiên Chúa, là hoàn toàn phục vụ Lời.

Tuy nhiên, Ðức Maria chỉ là điểm để Thiên Chúa đi qua. Mẹ


hạ sinh Ðấng Cứu Thế ; nhưng bởi vì là Mẹ Ðức Giê-su,
nên Mẹ phải để Người ra đi. Người Con của Mẹ không phải
là của riêng Mẹ. Người là Thiên Chúa và sống cho Thiên
Chúa. Toàn bộ phần kế tiếp của Tin Mừng Lu-ca sẽ nhấn
mạnh chi tiết này. Ðặc ân của Mẹ, chính là thái độ từ bỏ, để
cho Người Con thực hiện chương trình của Thiên Chúa, và
Mẹ đã đi theo Người Con ấy đến tận cái chết trên thập giá.

Thiên Chúa vẫn đang tìm một ngôi nhà


Ðọc đi đọc lại bản văn này, hẳn chúng ta sẽ cảm thấy bị
thối thúc đặt mình vào vai trò của Ðức Maria và suy tưởng
những điều chúng ta phải làm.

68
Một em bé gái đã đặt câu hỏi với người nói cho em về Ðức
Maria : Tại sao lại là Mẹ mà không phải là tôi ? Người kể
chuyện đã đặt câu hỏi khác với em : Tại sao lại là tôi chứ
không phải ai khác ?

Mỗi chúng ta có thể nói như thế được không ? Có thể


được, bởi vì chúng ta biết rằng, mỗi lần Ðức Ki-tô thâm
nhập vào cuộc đời chúng ta, thì đó là một cuộc truyền tin
mới, một lễ No-en mới. Và chúng ta hiểu rằng, đó là một
hồng ân, một hồng ân đặc biệt Thiên Chúa trao tặng cho
chúng ta.

Bởi vì, như Con Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng
Ðức Maria, Người cũng muốn đến cư ngụ trong mỗi chúng
ta, Người vẫn mong muốn bắt đầu lại nơi mỗi người cuộc
phiêu lưu trong cái chết và phục sinh.

Theo nhãn giới này, câu trả lời của Ðức Maria quả là một
gương mẫu cho sự đáp ứng của con người trước Thiên
Chúa, và qua đó, cũng cho thấy khoảng cách giữa chúng ta
với gương mẫu này.

Trước lời chào của sứ thần, Ðức Maria đã bối rối. Còn
chúng ta, chúng ta lại thường điếc, không nghe thấy. Khi
nghe loan báo Tin Mừng, Ðức Maria nói "Làm sao ...". Còn
chúng ta, chúng ta đặt câu hỏi "tại sao ?" Và khi Ðức Maria
thưa "Xin vâng", thì chúng ta lại tranh luận về những từ ngữ
trong bản giao ước với Thiên Chúa.

Lời thưa "Xin vâng" của Ðức Maria hoàn toàn chìm sâu
trong tình yêu và tin tưởng. Tương lai sẽ ra sao, không cần
biết ! Thiên Chúa là Ðấng tín trung, thế là đủ ! Còn chúng
ta, chúng ta lại chẳng mau mắn nắm lấy trong tay này điều
chúng ta vừa cố gắng bỏ ở tay kia đó sao ? Cuối cùng,
69
truyền tin cho Ðức Maria thì cũng là truyền tin cho cả nhân
loại, cho con người trọn vẹn. Ðức Maria đã đón nhận Tin
Mừng, và Tin Mừng đã không tránh cho Mẹ những đớn
đau, những vất vả. Còn chúng ta, chúng ta đón nhận như
thế nào ? Có phải Ðức Giê-su luôn là Tin Mừng cho chúng
ta không ? Người vẫn đang đến và đang cần một ngôi nhà.

Lm. Giuse Nguyễn Cao Luật, OP

MẦU NHIỆM TRUYỀN TIN


Lc 1,26-38
Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

Đức Maria là người diễm phúc, bởi vì đã được Thiên Chúa


chọn làm mẹ cho con của Ngài nhập thể giáng trần. Điều
đó đã được ghi lại trong bài Tin Mừng hôm nay, gọi là trình
thuật truyền tin. Đây là một đoạn văn cho chúng ta biết
Thiên Chúa đã đưa Đức trinh nữ Maria, một phụ nữ khiêm
tốn trở thành một người diễm phúc như thế nào.

Nhân vật được Thiên Chúa sai đi là sứ thần Gáp-ri-en, đem


mệnh lệnh Thiên Chúa đến cho một thiếu nữ tên là Maria,
con ông Gio-a-kim và bà An-na, thuộc dòng họ vua Đa-vít.
Sứ thần báo cho Maria một tin rất trọng đại : Thiên Chúa
muốn trinh nữ làm mẹ Đấng Cứu Thế. Nhưng vì đã khấn
hứa sống trinh khiết trọn đời, nên Maria không hiểu điều đó
có ý nghĩa thế nào : làm sao vừa có thể sống trinh khiết lại
vừa có thể sinh con và làm mẹ được ? vì thế, Maria hỏi sứ
thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào ?”. Sứ thần cho biết đây
không phải là trường hợp bình thường bởi loài người
nhưng bởi Chúa Thánh Thần làm phép lạ vĩ đại cho cô chịu
thai mà vẫn còn đồng trinh và cô sẽ sinh một Thánh Tử là
Con Thiên Chúa. Có thể nói giây phút ấy, tất cả tương lai

70
nhân loại nằm trên đôi môi Đức Mẹ, giây phút ấy mầu
nhiệm nhập thể vẫn còn lơ lửng, và Thiên Chúa hồi hộp
chờ đợi câu trả lời của Đức Mẹ. Cuối cùng, Đức Mẹ đã
hoàn toàn ưng thuận. Thế là mầu nhiệm truyền tin đã hoàn
tất.

Qua mầu nhiệm này chúng ta thấy Đức Mẹ sau khi biết việc
thụ thai con trẻ Giê-su là bởi quyền phép Chúa Thánh
Thần, Đức Mẹ đã can đảm thưa “xin vâng”. Để hiểu được
sự can đảm phi thường của Đức Mẹ, chúng ta thử đặt mình
vào vai trò của Đức Mẹ cách đây 20 thế kỷ, sống dưới một
luật lệ khắt khe của Do Thái giáo. Thời đó phụ nữ rất bị
khinh miệt hơn cả ở Việt Nam chúng ta, nếu đối với chúng
ta: “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” thì phụ nữ ở Do
Thái còn “nhẹ giá” hơn nữa. Thực vậy, lúc ấy Đức Mẹ là
một trinh nữ mới lớn, khoảng 15, 16 tuổi, lại mới chỉ đính
hôn với Giuse, luật lệ lúc ấy rất khắt khe với những người
đính hôn, nếu có thai không do người bạn đính hôn của
mình là bị kết tội giao du bất chính, ngoại tình và bị ném đá
cho chết.

Đàng khác, Đức Mẹ sống trong làng Na-da-rét, một làng


nhỏ bé, nên việc mang thai không thể giấu diếm được. Có
lẽ nhiều câu hỏi đã nảy sinh trong đầu Đức Mẹ : làm thế
nào để giải thích cho họ hàng đôi bên và nhất là với người
chồng sắp cưới ? Làm thế nào để giải thích cho những vị
lãnh đạo tôn giáo khắt khe trong làng ? Nhưng tình yêu
Thiên Chúa của Đức Mẹ đã thắng, Đức Mẹ đã chấp nhận
mọi nguy hiểm. Thực vậy, vì yêu Chúa, Đức Mẹ bằng lòng
chấp nhận mọi sự hiểu lầm của mọi giới người, chấp nhận
những lời xuyên tạc, đàm tiếu có thể xảy ra, và chấp nhận
ngay cả cái chết nữa. Cũng thế, vì yêu Chúa, Đức Mẹ dám
hy sinh hạnh phúc gia đình, bởi vì lúc sứ thần đến truyền tin
thì Đức Mẹ đang trong thời gian đính hôn với Giuse, bây
71
giờ câu chuyện xảy ra thế này thì việc cưới xin làm sao
thành được nữa, nhưng Đức Mẹ đã bằng lòng chấp nhận
tất cả, chấp nhận không điều kiện, phó thác mọi sự cho
Chúa. Chính vì thế Thiên Chúa đã lo liệu trọn vẹn cho Đức
Mẹ, đây cũng là bài học cho chúng ta.

Chúng ta thấy đó, đối với Đức Mẹ lúc ấy, một tương lai mịt
mờ đang chờ đón, nhưng Đức Mẹ vẫn dám nói “xin vâng”
trong tin và yêu. Đời chúng ta không thể kém Đức Mẹ đâu,
sống ở trần gian này, cuộc đời chúng ta cũng gặp nhiều
khúc quanh, gánh nặng, nhiều lúc mịt mù lắm mây giăng.
Nói rõ hơn, tất cả chúng ta đã, đang hoặc sẽ gặp đau khổ,
có người đã trải qua đau khổ, có người đang quằn quại
trong đau khổ, có người đang bị đau khổ rình rập, không ai
dám quả quyết mình không có đau khổ, giàu hay nghèo, đi
tu hay sống đời gia đình, đều có những đau khổ riêng của
mình. Vì thế, đau khổ nhiều hay ít chưa phải là quan trọng,
điều quan trọng là thái độ và tinh thần của chúng ta thế nào
trước đau khổ. Dù trong hoàn cảnh nào chúng ta hãy nhớ
lại trường hợp của Đức Mẹ mà an tâm phó thác trọn vẹn
cho Thiên Chúa, hãy hết lòng tin tưởng và cầu xin Chúa, vì
đối với Thiên Chúa, không có gì mà Chúa không làm được.

Tóm lại, mỗi khi gặp chuyện gì đau khổ, chúng ta hãy ca
lên bài ca “xin vâng” để giữ vững tinh thần và thêm niềm tin
vào Chúa và xin Đức Mẹ trợ giúp : “Mẹ ơi, đường đi trăm
ngàn nguy khó, hiểm nguy dâng tràn đây đó. Mẹ ơi, đường
đi phủ đầy bóng tối, bẫy chông giăng tràn muôn lối. Xin Mẹ
dạy con hai tiếng xin vâng : hôm nay, tương lai và suốt đời.
Xin Chúa cho chúng ta, dù làm gì, chúng ta luôn biết làm
theo thánh ý Chúa, tức là luôn sống đúng và làm đúng với
Tin Mừng của Chúa

Lm. Giacôbê Phạm Văn Phượng, OP

72
MỪNG VUI LÊN
Manna
? LỜI CHÚA: Lc 1, 26-38
26
Bà Elisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai
sứ thần Gábrien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét,
27
gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse,
thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria.
28
Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng
đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà. 29 Nghe lời ấy, bà rất
bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30
Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp
lòng Thiên Chúa. 31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một
con trai, và đặt tên là Giêsu. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ
được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ
ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. 33 Người
sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người
sẽ vô cùng vô tận."
34
Ba Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào,
vì tôi không biết đến việc vợ chồng!"
35
Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và
quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế,
người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên
Chúa. 36 Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi,
mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị
mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.
37
Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm
được.
38
Bấy giờ bà Maria nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói". Rồi sứ thần từ
biệt ra đi.

73
? SUY NIỆM
Khi suy niệm mầu nhiệm Nhập Thể, chúng ta thường nghĩ
tới biến cố Chúa sinh ra ở Bêlem. Thật ra mầu nhiệm này
đã bắt đầu từ sau tiếng Xin Vâng của Ðức Maria ở Nadarét.

Sau tiếng Xin Vâng ấy, Ngôi Lời đã thành một thai nhi, lớn
lên trong lòng mẹ như hàng tỉ con người khác, cần chín
tháng mới có thể cất tiếng khóc chào đời. Ngôi Lời không
lẫm liệt từ trời bước xuống. Ngài muốn là người trăm phần
trăm, nên Ngài cần một người mẹ.

Ngài đi ra từ lòng mẹ: mong manh, yếu đuối. Ngôi Lời đã


thành một người như chúng ta, chia sẻ trọn vẹn phận
người như chúng ta, trừ phạm tội. Ngôi Lời đã là người, và
mãi mãi là người. Ngài đã đi hết hành trình cuộc sống với
tất cả nỗi buồn vui, âu lo và trăn trở.
Chẳng ai hiểu chúng ta bằng Ngài. Ngài chẳng xa lạ với
những gánh nặng của cuộc sống. Hôm nay Ngôi Lời vẫn là
người, ngự bên Chúa Cha. Có một người được tôn vinh ở
giữa lòng Thiên Chúa.

Mầu nhiệm Nhập Thể đâu phải chỉ ở Bêlem, vì Ngôi Lời mãi
mãi là người, người Anh trưởng, dẫn đưa chúng ta vào
cung lòng Thiên Chúa.

Con Thiên Chúa làm người dạy ta yêu trái đất. Trái đất chỉ
là một trong số hàng tỉ tỉ vì sao, nhưng nó vẫn có thế đứng
ưu việt vì là nơi Con Thiên Chúa đã đặt chân, đã sống. Bầu
trời, rừng xanh, mạch nước, biển khơi... tất cả phải được
gìn giữ cho thanh khiết. Trái đất là nhà của con người,
nhưng cũng là ngôi nhà của Con Thiên Chúa.

74
Con Thiên Chúa làm người dạy ta yêu cuộc đời, yêu mảnh
đời nhỏ bé của mình. Có lắm người dễ dàng tìm đến cái
chết vì thấy bế tắc, tuyệt vọng, vì thấy đời vô nghĩa. Mảnh
đời của Ðức Giêsu không phải chỉ màu hồng: long đong với
phận nghèo, ê chề vì thất bại, bị tước đoạt đến tột cùng
trên thập giá. Nhưng Ngài đã sống mảnh đời ấy cho đến
cùng, vững tin đến cùng vào tình Cha, ngay giữa vực sâu
và tăm tối.

Con Thiên Chúa làm người dạy ta yêu mọi người. Từ khi
Con Thiên Chúa mang khuôn mặt của con người thì mọi
người đều mang khuôn mặt của Thiên Chúa. Tất cả nhân
loại đều là anh em dù khác nhau về màu da, tôn giáo, ngôn
ngữ, quan điểm... Xúc phạm con người là xúc phạm đến
chính Thiên Chúa.

Noel đem lại cho ta sự bình an sâu thẳm. Bình an cho trái
đất đang bị tàn phá. Bình an cho những người đang sống
trong ngõ cụt. Bình an cho chúng ta, cho mọi người. Bình
an của Giêsu.

? GỢI Ý CHIA SỂ
• Nhiều bạn trẻ tự phá hủy đời mình bằng ma túy,
thuốc lá, rượu bia, đua xe, ăn chơi trụy lạc... Theo ý
bạn, đâu là lý do chính dẫn đến thái độ đó?
• Ai trong chúng ta cũng có những người bạn đang
mất bình an, đang cần được nâng đỡ hay tha thứ.
Mùa Noel này, bạn định làm gì cho họ?

? CẦU NGUYỆN
Lạy Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa,
Chúa đã làm người như chúng con, nên Chúa hiểu gánh
nặng của phận người. Cuộc đời đầy cạm bẫy mời mọc mà
75
con người lại yếu đuối mong manh. Hạnh phúc thường
được trộn bằng nước mắt, và giữa ánh sáng, cũng có
những bóng mờ đe dọa.

Lạy Chúa Giêsu, nếu có lúc con mệt mỏi và xao xuyến, xin
nhắc con nhớ rằng trong Vườn Dầu Chúa đã buồn muốn
chết được. Nếu có lúc con thấy bóng tối bủa vây, xin nhắc
con nhớ rằng trên thập giá Chúa đã thốt lên: Sao Cha bỏ
con? Xin nâng đỡ con, để con đừng bỏ cuộc. Xin đồng
hành với con, để con không cô đơn. Xin cho con yêu đời
luôn dù đời chẳng luôn đáng yêu. Xin cho con can đảm đối
diện với những thách đố vì biết rằng cuối cùng chiến thắng
thuộc về người có niềm hy vọng lớn hơn. Amen.

Manna

MẦU NHIỆM NHẬP THỂ


2Samuel 7,1-5.8b-11.16; Roma 16,25-27; Luca 1,26-38
Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
I. PHÚC ÂM: Lc 1, 26-38
"Này Trinh Nữ sẽ thụ thai và sẽ sinh một con trai".
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ
Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn
với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy
tên là Maria.
Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào trinh
nữ đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ". Nghe lời
đó, trinh nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.
Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa
với Chúa. Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và
đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là
Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu

76
Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà
Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận".
Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào
được, vì tôi không biết đến người nam?"
Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và
uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Ðấng
trinh nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên
Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con
trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng,
người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà
Chúa không làm được".
Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời
Thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt trinh nữ.

II. SUY NIỆM: MẦU NHIỆM NHẬP THỂ


"Tình yêu" là hai tiếng nói luôn ở trên môi miệng và trong
con tim của nhân loại, hai tiếng nói căn bản và thâm sâu
nhất của cuộc sống.
Sinh ra, lớn lên và chết đi, lúc nào con người cũng mong
đợi tình yêu. Có tình yêu, con người hết là những viên đá
nằm lạnh lùng bên cạnh nhau trên một con đường, những
thân cây vô tri vô giác mọc lên trong một đám rừng hay
những con vật đi ăn chung thỉnh thoảng cắn xé nhau để
tranh miếng mồi ngon.

Tình yêu khiên con người không những sống gần nhau, mà
còn đi vào cuộc đời của nhau, chấp nhận chia sẻ từ miếng
cơm manh áo cho đến tâm tình ý tưởng của nhau, cùng vui,
cùng khổ, cùng lao động, cùng phấn đấu và vươn lên thoát
khỏi nô lệ và vong thân trong xã hội. Tình yêu là ánh sáng
chiếu dọi, là sức nóng sưởi ấm giúp con người triển nở
trong hạnh phúc.

77
Tình yêu là động lực thúc đẩy con người đến với nhau, gắn
bó với nhau, để tất cả nên một: một lòng, một trí, một ý chí,
một cuộc đời.

Thánh Kinh luôn khẳng định Thiên Chúa thương yêu con
người cách đặc biệt. Tình yêu ấy khiến Thiên Chúa đến với
con người, trước khi con người đến gặp Thiên Chúa.

Tình yêu được biểu lộ trong lịch sử, biến lịch sử thành môi
trường cứu độ, nơi gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa.
Những chương đầu của sách Sáng thế cho thấy Yavê sống
thân mật với con người, ngay từ khi con người được tạo
dựng. Ngài đi dạo mát với con người trong vườn Eđen,
Ngài chăm sóc sức khỏa và đời sống của con người. Ngài
cho con người hưởng các hoa quả, cho con người một bạn
đường. Ngài đối thoại thân mật với con người.

Sách Sáng thế còn cho thấy Ngài đến với con người qua
dấu hiệu của thời tiết. Nhưng đặc biệt Ngài đã đến viếng
Abraham và ban cho ông lời hứa. Ngài đã ký kết với
Abraham một giao ước tình yêu và nhất quyết thi hành
Giao ước đó. Ngài để ý đến nỗi khổ của ông: tuổi đã già mà
không có con nối dõi tông đường. Ngài đã cho ông một
miêu duệ lớn gấp trăm ngàn lần mong muốn.

Khi con cháu Abraham chịu khổ cực và bị áp bức trong


nước Aicập ngoại bang, Ngài đã đến để giải phóng họ và
Ngài muốn chọn Maisen - một người có lòng yêu nước
nồng nàn - Ngài đã gọi Maisen lúc ông bị đuổi bắt và chạy
trốn vào sa mạc, vì đã giết chết một người ngoại bang để
bênh vực cho kẻ đồng hương.

78
Với Maisen, Thiên Chúa cũng đã ký kết một giao ước và từ
đó thiết lập một dân riêng làm chứng cho Ngài giữa muôn
nước. Trong sa mạc, Thiên Chúa luôn hiện diện. Hòm bia
thánh là dấu hiệu sự gần gũi: ở giữa và ở gần kề. Qua đám
mây và cột lửa, chính Ngài hướng dẫn họ suốt cuộc hành
trình. Sự hiện diện của Chúa là sự hiện diện giải phóng.
Ngài cứu dân khỏi lầm than đau khổ và giúp họ chiến đấu
với kẻ thù để sống còn và tiến dần vào Ðất hứa.

Khi dân Chúa đã sống ổn định và thiết lập một vương quốc
bình an thịnh vượng, Chúa vẫn hiện diện và bảo đảm cho
sự trường tồn và hạnh phúc của họ. Ðavít muốn xây cho
Chúa một đền thờ, nhưng Ngài muốn hiện diện ở giữa lòng
dân. Qua lời sấm Nathan, Ngài chưa bao giờ có ý nghĩ đòi
dân xây cho mình một đền thờ bằng gạch đá như các thần
minh của dân ngoại. Chính dân là đền thờ Ngài ngự. Và
Ðền thờ đó do Ngài xây dựng, chứ không phải do tay con
người làm nên. Chính Chúa tạo ra một Ðền thờ đích thực;
đó là dòng dõi, là con cháu Ðavít; và qua những con người
sống thực thuộc dòng dõi ông, Ngài sẽ hiện diện trong lịch
sử loài người.

Với Ðavít và miêu duệ ông, Thiên Chúa càng ngày càng
gần gũi với nhân loại. Ngài tác động trên lịch sử loài người
và đặc biệt trong lịch sử dân riêng Ngài. Ngài hướng dẫn và
thanh luyện dân Ngài qua những biến cố đau thương như
thất trận, lưu đày... Ngài răn bảo và thúc giục... đôi khi Ngài
phẫn nộ - nhưng Ngài cũng an ủi vỗ về và hứa hẹn một thời
kỳ vui mừng tràn lan ơn cứu độ. Dụng cụ Chúa thường
dùng chính là "lời nói" và "cuộc sống" các tiên tri.

Ngài thương dân như cha yêu thương con cái, như mẹ bế
bồng nâng niu, như mục tử chăm sóc đoàn chiên. Nhưng

79
Thiên Chúa như chưa bằng lòng với những gì Ngài đã làm
cho dân. Ngài muốn đến cư ngụ với dân, không chỉ như
một thần linh vô hình, nhưng chấp nhận hoàn toàn thân
phận con người và chia sẻ trọn vẹn kiếp sống của nó.
Thiên Chúa trở thành Người như mọi người. Ngài bị ràng
buộc bởi thời gian và không gian. Ngài sẵn sàng đón nhận
những khắc khoải lo âu của cuộc sống. Ngài cũng ăn,
uống, lao động, phấn đấu cho đời sống vật chất như mọi
người. Ngài cũng vui, cười và than khóc như những ai
khác. Ngài chấp nhận mọi giới hạn và ngay cả cái chết là
giới hạn sau cùng và quan trọng nhất của con người.

Yêsu, con của Maria và Yuse thuộc dòng dõi Ðavít là chính
Emmanuel, “Thiên-Chúa ở cùng chúng ta”. Nhưng Ngài
cũng là con của trần thế, con của một dân tộc, con của
người Trinh nữ nghèo nàn sống ở Nadarét. Ðó là khía cạnh
huyền diệu nhất của mầu nhiệm Nhập thể! Chúa muốn làm
con của trần thế, để ta nhận ra gương mặt đích thực của
Ngài, một tình thương thực tế không viễn vông, không lý
thuyết Ngài không là "kẻ thuộc thế giới xa lạ". Theo Ngài
không phải để đi về thế giới ảo tưởng nào khác, nhưng để
sống tình yêu chân thật.

Maria thụ thai Ðức Yêsu là nhân loại thụ thai Ðức Yêsu!
Maria hạ sinh Ðức Yêsu là nhân loại hạ sinh Ngài. Bài Phúc
Âm Luca 1, 26-38 ví Maria như thiếu nữ Sion, nghĩa là
Israel dân Chúa. Thiên Thần kêu mời Maria hãy vui lên vì
sắp sinh quý tử. Ðó cũng là lời loan báo niềm vui cho nhân
loại: chính từ nhân loại mà phát sinh một con người toàn
thiện xứng đáng làm Trưởng tử giữa muôn loài.

Mầu nhiệm Nhập thể là tột đỉnh của sự gặp gỡ giữa con
người và Thiên Chúa: Thiên Chúa đến viếng thăm dân

80
Người khiến từ lòng dân nảy sinh Ðấng Cứu độ. Chồi cây
Yêsê do Thiên Chúa vun trồng đã nở hoa.

Ðức Yêsu là bí tích, là dấu hiệu, là điểm gặp gỡ giữa con


người với Thiên Chúa. Ðức Yêsu là nơi hội tụ của tình
thương giữa Thiên Chúa và dân Người: Ngài vừa là lời mời
gọi của Thiên Chúa, vừa là tiếng đáp trả của nhân loại.

Phúc Âm cho thấy Ðức Yêsu là một con người cụ thể, với
những nét đặc thù và sống động. Nhưng Ðức Yêsu còn là
Con của Chúa Cha. Từ lúc sinh ra cho đến khi chết, mọi
hoạt động của Ngài đều do Thánh Thần của Chúa Cha thúc
đẩy. Lc 1,35 nhấn mạnh đến sự can thiệp của Thánh Linh :
"Thánh Thần sẽ đến trên Cô và quyền năng Ðấng Tối cao
trên Cô rợp bóng".

Thánh Thần Thiên Chúa đã hoạt động trong lịch sử trước


ngày Ðức Yêsu sinh ra. Nhưng Ngài đặc biệt hiện diện
trong cuộc đời Yêsu. Và nhờ quyền năng Thiên Chúa, Yêsu
tuy phải chết như mọi người, đã sống lại và chiến thắng sự
chết, báo hiệu "phần số" tốt đẹp Thiên Chúa dành cho nhân
loại.

Ðức Yêsu sống lại được Chúa Cha ban trọn vẹn Thánh
Linh và chính nhờ Thánh Linh mà Ðức Yêsu hiện diện giữa
dân Ngài "mọi ngày cho đến tận thế".

Nhờ Thánh Linh Ðức Yêsu vẫn ở giữa loài người, không
phải chỉ cách đây hai ngàn năm, mà Ngài vẫn hiện diện,
vẫn sống giữa nhân loại hôm nay. Giáo hội là nơi Ngài hiện
diện bằng chính những hoạt động không ngừng của Thánh
Linh Ngài ban. Ngài vẫn tiếp tục hiện diện qua các sự kiện
lịch sử và các biến cố. Ta có thể gặp Ngài và phải tìm Ngài

81
trong đó. Ngài ra đi trở về cùng Cha, không phải để rời bỏ
trần thế, nhưng để dễ dàng đồng hóa mình với mọi người
sinh ra trong lịch sử, đặc biệt với những người bé mọn,
những người đói khát, những kẻ tù đày... Matthêô cũng
như Luca cho thấy sự hiện diện của Ðức Kitô phục sinh và
lên trời trở thành hữu hình trong người anh em: "Ta đói,
các ngươi cho ăn, Ta khát, các ngươi cho uốn, Ta là khách
trọ các ngươi tiếp rước, Ta mình trần các ngươi cho mặc,
Ta đau yếu các ngươi viếng thăm, Ta ở tù các ngươi đến
với Ta" (Mt 25,35-36).

Ðức Kitô vẫn luôn ở giữa chúng ta. Chúng ta sẽ nhận ra


Ngài khi cử hành nghi lễ bẻ bánh, khi lắng nghe lời Ngài,
khi thao thức tìm Ngài trong các dấu chỉ của thời đại.
Chúng ta sẽ tìm được Ngài khi nhìn vào những người anh
em sống gần kề ta. Ngài ở cạnh ta, cùng xây dựng xã hội
và môi trường với ta. Với Ngài, ta sẽ góp công biến đổi trần
thế thành Ðất mới, Trời mới, thực hiện lời thánh Phaolô:
"Tất cả thuộc về anh em, anh em thuộc về Ðức Kitô, Ðức
Kitô thuộc về Thiên Chúa".

III. BÀI GIẢNG


Càng gần lễ Giáng sinh, công việc chuẩn bị của chúng ta lại
càng gấp rút. Tôi ca ngợi thiện chí và nỗ lực của mọi người.
Xin Chúa chúc lành cho tất cả mọi cố gắng của chúng ta,
để lễ Giáng sinh năm nay được chan hòa ơn thánh.

Nhưng chính trong bầu khí nhiệt liệt chuẩn bị Ðại lễ Giáng
Sinh này, mà các bài sách Thánh hôm nay muốn nâng
bổng tâm hồn chúng ta lên, để thay vì chỉ mải miết thu dọn
những công việc bề ngoài, chúng ta biết tìm dịp chiêm
ngưỡng những gì mà Chúa đang muốn thực hiện cho
chúng ta.

82
Quả vậy, khi Ðavít suy tính sắp sửa xây cất cho Chúa một
đền thờ xứng đáng, Người đã sai tiên tri Nathan đến thưa
nhà vua rằng: Chính Người sẽ xây cho nhà vua một nhà,
một họ, một dòng tộc để tồn tại muôn đời. Hôm nay Chúa
cũng muốn bảo chúng ta, những người đang làm hang đá,
dọn máng cỏ cho Chúa rằng: chúng ta hãy chú ý đến
những gì mà Chúa đang muốn thực hiện cho ta. Ngài sai
sứ thần Gabriel đến báo tin cho Maria biết: Ngôi Lời muốn
trở thành nhục thể, Thiên Chúa muốn sinh ra làm người. Ðó
là sứ điệp của Chúa nhật hôm nay. Sứ điệp ấy gửi đến để
ta đón nhận, suy niệm rồi thực hành, để Chúa có thể đến
cắm lều ở giữa chúng ta, trong thời đại này, trên quê
hương Việt Nam đang hình thành một nếp sống mới.

Trước hết chúng ta hãy đón nhận Tin Mừng: Thiên Chúa
muốn sinh ra làm người. Dĩ nhiên Người không còn đầu
thai nữa như xưa kia ở trong lòng Trinh nữ Maria. Nhưng
Người vẫn còn muốn đầu thai cách mầu nhiệm trong bí tích
bàn thờ này, để được đầu thai trong tâm hồn chúng ta qua
việc rước lễ, để đầu thai nữa trong nếp sống hằng ngày
của chúng ta, hầu ai thấy đời sống tốt đẹp của chúng ta,
cũng nhận ra vinh quang của Chúa mà ca tụng Ngài. Mầu
nhiệm đầu thai qua bí tích Thánh Thể ấy không cần phải
quảng diễn thêm.

Nhưng còn một cách nữa Chúa vẫn dùng để đầu thai nơi ta
giữa thời buổi này, chính là Lời Chúa khi đến với ta trong
sức mạnh của Thánh Thần. Lời Chúa mà ta nghe và đọc
trong Thánh Kinh có thể trổ sinh trong lòng ta một cuộc
sống mới, thánh thiện và tốt đẹp. Ta sẽ trở thành con cái
Chúa một cách trung thực hơn và dần dần dòng dõi những
người con Chúa trở thành một thực tại có thể cảm nghiệm

83
được. Ngay đến mọi biến cố xảy ra hàng ngày cũng có thể
mang theo nhiều ân sủng, khiến ai đón nhận như thánh ý
Chúa, sẽ làm cho Nước Người được lan rộng; và như vậy
Thiên Chúa lại như nhập thể ở giữa chúng ta.

Do đó thật là chủ bại khi nghĩ rằng thế giới càng ngày xấu
đi; đời sống chẳng còn nghĩa lý gì nữa; và nói đến tương lai
mà làm gì! Nhưng người có đức tin không thể nghĩ như thế.
Tinh thần mùa Vọng nhắc nhở: Thiên Chúa muốn sinh ra
làm người. Ngài muốn đời sống con người thật đáng sống.
Và vì Thiên Chúa đã đầu thai trong lòng một Trinh nữ bình
dân, nơi một điểm nhỏ bé trên bản đồ thế giới, đang buổi
suy yếu của dân tộc Dothái, chúng ta càng có quyền hy
vọng tràn trề khi hoàn cảnh chung quanh dường như không
đáng lạc quan. Chính nơi Thập giá đã có ơn cứu độ chúng
ta. Chính máu chảy ra ở trên đó đã rửa sạch ta để ta trở
nên con cái Chúa. Như vậy, có gì phải bi quan? Tất cả,
ngược lại, như đang có thể kéo ơn cứu độ xuống. Và ở bất
cứ hoàn cảnh nào, ơn Chúa nhập thể vẫn có thể đến để
phục hồi tất cả.

Chúng ta chỉ cần noi gương một Ðavít và một Maria. Ðavít
đã biết quên mình để nghĩ đến Chúa. Maria cũng đã tự
xưng là nữ tì để thi hành hết mọi ý định của Ðấng mình tôn
thờ. Chúng ta nhiều khi không sống như vậy. Chúng ta nghĩ
đến mình quá nhiều, nghĩ đến sự sống của bản thân, và
không quan tâm đến Nước Chúa và đến tương lai của dân
tộc dủ. Chúng ta tìm sự sống mình, như lời Phúc Âm nói.
Nhưng cũng như Phúc Âm đã nói tiếp: chúng ta sẽ mất sự
sống ấy. Còn ai tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính
trước, sẽ được ban cho tất cả sau. Làm sao tương lai có
thể đẹp được, khi ai ai cũng chỉ biết nghĩ đến cá nhân của
mình? Ngược lại khi người ta nghĩ đến công ích, làm việc

84
cho công bình bác ái ngự trị, thì những khó khăn hiện tại sẽ
khắc phục được dễ dàng. Ðavít đã không nghĩ đến mình,
Ðức Maria cũng thế. Nên Thiên Chúa đã tìm được người
cộng tác để thực hiện công trình của Người, ở trần gian, là
chính Người sẽ nhập thể để mang hạnh phúc đến cho loài
người.

Thế thì hôm nay và những ngày sắp tới, đang khi hân hoan
sửa soạn mừng lễ Giáng sinh, chúng ta cần nhất phải mở
rộng tâm hồn để đón nhận hồng ân của Chúa đang đến với
chúng ta. Ngài dùng Lời Thánh Kinh và Bánh Thánh Thể để
đi vào trong tâm hồn ta, biến ta nên con người muốn sống
như Chúa; và như vậy Ngài đang muốn nhập thể tiếp nối
cuộc đời của Ngài ở nơi ta. Ngài dùng mọi biến cố xảy đến
hằng ngày, kêu gọi ta đón nhận như Thánh ý Ngài gửi đến,
để ta hợp tác thi hành trong tinh thần xã hội Kitô giáo, hầu
ơn Ngài có thể tràn lan trong thế gian, khiến Chúa ở trong
mọi sự và mầu nhiệm nhập thể được kiện toàn. Ðiều cần
hơn hết là chúng ta luôn phải tin vững vàng rằng: Thiên
Chúa muốn sinh ra làm người. Người muốn sống giữa trần
gian. Ngài kêu gọi ta nhìn vào cuộc sống và muốn nhập thể
với Ngài. Chúng ta có sẵn sàng đem tinh thần Phúc Âm vào
thế giới để đáp lại Lời mời gọi đó không?

Nguyện chúc tất cả anh em được như vua Ðavít và Ðức


Maria: sẵn sàng trở thành cộng sự viên của mầu nhiệm
Thiên Chúa nhập thể vì yêu thương trần gian.

IV. ÐỨC MẸ MÙA VỌNG


Chúng ta còn lạ gì: mục đích của mùa Vọng không phải chỉ
là để đi đến Mầu nhiệm Giáng sinh vì Chúa Cứu thế đã
giáng sinh rồi không còn phải trông đợi theo kiểu dân
Dothái ngày trước nữa. Nhưng mùa Vọng vẫn lấy lễ Giáng

85
sinh làm một điểm tựa chắc chắn để lao mình về đàng xa,
về ngày Chúa quang lâm tái giáng. Mùa Vọng nhìn vào
mầu nhiệm Chúa Giáng sinh để chắc chắn về mầu nhiệm
Chúa sẽ đến và mùa Vọng gợi lại thời gian trông đợi ngày
trước để kiện toàn tinh thần trông đợi ngày nay. Nói vắn tắt,
mùa Vọng muốn hiện đại hóa thời gian Cựu Ước để hoàn
tất thời kỳ Tân Ước. Trong mùa này, chúng ta được mời gọi
kết thúc lịch sử để đưa nó sang đời sau. Vinh dự cho chúng
ta biết bao được cộng tác vào công cuộc vĩ đại và đẹp đẽ
này.

Và cũng như Cựu Ước ngày trước đã được kết thúc một
cách tuyệt diệu nơi con người Ðức Maria, trong mùa Vọng
phụng vụ này Giáo hội cũng mời gọi ta chiêm ngưỡng
Người như là khuôn mẫu phải đi tới. Người thật là bông
hoa của Cựu Ước. Những cái tinh túy nhất của Cựu Ước
đã đúc nặn nên Người. Ở nơi Người, ta có thể gặp lại tất cả
lòng tin sâu xa của Abraham, lòng cậy của tất cả Ngôn sứ,
lòng mến của tác giả các thánh vịnh. Thiên Chúa đã phải
khôn ngoan nhẫn nhục dẫn đưa lịch sử dân Người và lịch
sử thế giới để tạo nên được một con người như thể để
Ngôi Hai Thiên Chúa có thể giáng trần.

Nếu quả thật trong bao ngàn năm lịch sử, "vạn phương
khát vọng từ vân vũ hóa nhi" thì phải đợi đến khi Maria xuất
hiện, người ta mới thấy "nhất phiến cổ hoài tịnh thổ sản
phúc quả", nghĩa là mới tìm ra được một mảnh đất thanh
sạch đón nhận đám mây từ nhân mưa Ðấng công chính
xuống. Ðức Maria vì thế trở thành lý tưởng mà Giáo Hội và
chúng ta phải đạt tới để chuẩn bị ngày Chúa trở lại.

Nhưng một lý tưởng bao giờ cũng phong phú có rất nhiều
khía cạnh thâm thúy và sâu xa, không ai có thể nói lên

86
được tất cả, huống nữa là nói lên trong một lúc. Tuy nhiên,
mỗi lần nói, người ta vẫn ước vọng có thể khơi lên ở nơi
người nghe một cảm tình mộ mến dẫn sang một thích thú
muốn tìm hiểu thêm. Và đó là tham vọng của phụng vụ
trong mùa này khi gợi lên cho chúng ta thấy một vài nét
trong cuộc đời của Ðức Mẹ.

Chúng ta đừng thấy lễ Vô Nhiễm là lễ Ðức Mẹlà lễ Ðức Mẹ


lớn nhất trong mùa này mà vội tưởng đó là hình ảnh Ðức
Mẹ phải tập trung mọi cái nhìn suy niệm của ta. Không,
mùa Vọng không đặt ra lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm. Lễ này cũng
đã được đặt ra phải vì mùa Vọng. Giáo hội La Mã vẫn có óc
lịch sử và pháp luật, thấy rằng đã tưởng niệm cuộc đời của
Chúa trong các mầu nhiệm nào thì cũng phải nên tưởng
niệm cuộc đời Ðức Mẹ trong các mầu nhiệm ấy; đã mừng
việc Chúa đản sinh và đầu thai, thì cũng nên mừng sinh
nhật và đầu thai của Mẹ. Và hai sự kiện mầu nhiệm phải
cách nhau 9 tháng. Lễ sinh nhật Mẹ đã được đặt vào ngày
8 tháng 9 rồi, thì lễ Người đầu thai vô nhiễm phải đưa lên 9
tháng trước tức là phải mừng vào ngày 8 tháng 12.

Các nhà làm lịch lễ dường như không để ý đến mùa Vọng
khi đặt ra lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm, nhưng đặt rồi họ mới thấy
đây là một sự trùng hợp có ý nghĩa. Có lễ Ðức Mẹ Vô
Nhiễm, mùa Vọng Kitô giáo trở thành hân hoan chắc chắn,
khác với mùa Vọng của Dothái ngày xưa. Thuở trước, các
linh hồn thánh thiện vẫn chờ mong ngày thực hiện lời của
Thiên Chúa tình yêu trong vườn địa đàng: một người nữ sẽ
sinh ra một dòng dõi đạp dập đầu con rắn. Người nữ ấy là
ai? Bao giờ Người xuất hiện để cho chúng tôi được nhìn
thấy ơn cứu độ? Các thế hệ Cựu Ước dường như lúc nào
cũng hỏi nhau câu ấy. Có lần, đàn thiếu nữ Sion tưởng đã
có thể nhảy múa hân hoan vì kìa bà Yuđích cắt đầu địch

87
thủ đang trở về. Lần khác họ lại tưởng Esther trong vai trò
cứu nguy dân tộc sẽ là người nữ cần trông đợi... Nhưng rồi
họ vẫn phải chờ, chờ mãi... Mùa Vọng của họ dường như
thiếu bảo chứng.

Nhưng nay, lễ Ðức Mẹ hiện lên bầu trời mùa Vọng Kitô
giáo, sự trông chờ của chúng ta đã có bảo đảm rõ rệt. Vì
thế chúng ta có thể hân hoan chắc chắn. Người nữ vô tì ố
đã xuất hiện thì ơn cứu độ cũng đã đến. Chúng ta chưa
được nhìn thấy Chúa Cứu Thế, nhưng việc Người đến
không còn hồ nghi được nữa. Maria thật là vì Sao Mai mọc
trước Mặt Trời. Mùa Vọng Kitô giáo chắc chắn và hân hoan
làm sao!

Nhưng ta vẫn phải nói, lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm đã không


được đặt ra vì mùa Vọng; mùa Vọng sung sướng đón nhận
lễ này nhưng lễ này không phải là mục tiêu mà mùa Vọng
muốn tập trung những cái nhìn suy niệm của toàn dân
Chúa hướng vào. Phụng vụ Giáo hội muốn cho chúng ta có
một cái nhìn rộng rãi hơn về địa vị của Ðức Maria trong bầu
khí mùa Vọng. Ngay từ đầu, phụng vụ mùa Vọng của Giáo
hội đã muốn cho hình ảnh của Người chan hòa khắp trong
nếp sống chờ mong của toàn dân Thiên Chúa. Giáo hội chỉ
chờ mong với Người và bằng cách nhìn vào Người. Nói
cách khác, hình ảnh Ðức Maria không phải chỉ chiếm một
ngày trong mùa Vọng, nhưng hằng ngày trong suốt mùa
phụng vụ này, Giáo hội phải sống với Ðức Maria, phải nhìn
ngắm Người và trông đợi với Người.

Kể ra làm gì những bản kinh phụng vụ mùa Vọng gián tiếp


hoặc trực tiếp nói về Ðức Maria; các bản văn ấy bây giờ đổi
theo hằng năm. Nhưng cứ bỏ các kinh ấy đi mà xem, mùa
Vọng phụng vụ sẽ không còn nữa. Ðiều đó chứng tỏ hình

88
ảnh Ðức Mẹ thật đã được gắn liền với mùa Vọng. Chúng ta
sẽ có lợi hơn nếu để giờ tìm hiểu vì sao Ðức Trinh Nữ Mẹ
chúng ta lại thiết yếu cho tinh thần mùa Vọng như thế, vì
như vậy, chúng ta mới biết được thâm ý của phụng vụ, hầu
mới biết sống được cái cốt yếu.

Tinh thần mùa Vọng như chúng ta biết nhắm thẳng về đàng
trước, chờ đón mầu nhiệm Chúa trở lại. Tinh thần đó không
thụ động, mặc cho ai muốn làm mưa làm gió ở trần gian
này. Trái lại, đó là tinh thần của các ngôn sứ ngày xưa
không thể ngồi yên khi thấy các bất công xã hội và thấy các
liên minh chính trị bàn truyện thế giới như thể không còn có
một sức mạnh vô hình nào bá chủ hoàn vũ. Giáo hội biết
trong giai đoạn lịch sử này những người con Chúa phải tỉnh
thức, phải giũ bỏ cuộc đời đen tối và bước đi trong ánh
sáng để càng ngày càng đi tới thời đại huy hoàng của Ðức
Kitô. Thế mà Giáo hội biết không mẫu người nào đã chuẩn
bị ngày Chúa đến viếng thăm một cách đắc lực như Trinh
nữ Maria. Kể cả các ngôn sứ. Họ còn là những người trỏ
tay vào Maria để chờ đón ngày Người xuất hiện. Hơn nữa
Giáo hội còn biết rõ Ðức Maria không phải chỉ là gương
mẫu chờ đợi và chuẩn bị trong quá khứ, Người đang còn
chờ đợi và chuẩn bị với chúng ta với tư cách là Ðấng Ðồng
Công Cứu Chuộc. Chỉ có những thứ thần học nông cạn
mới không biết đến điều đó; mới nghĩ rằng Ðức Kitô đã
chấm dứt mọi hoạt động của Người khi trút hơi trên Núi Sọ
và mới quyết rằng Ðức Mẹ đồng trinh của Người cũng chỉ
đồng công cứu chuộc đến có khi ấy. Ngược lại, những thứ
thần học chân chính đều thấy việc Ðức Kitô tắt thở trên Núi
Sọ chỉ là giai đoạn Ngài phải vượt qua để có thể hoạt động
hữu hiệu hơn ở ngoài những ràng buộc của không gian và
thời gian; Ngài phải từ bỏ xác thịt yếu đuối để hoạt động
mạnh mẽ bằng Thánh Thần Ngài sẽ tuôn đổ xuống trên

89
Giáo hội; vì Thánh Thần tuôn đổ này chính là Thần Linh
của Ngài. Những thứ thần học sâu xa đó cũng nhận thấy
ngay, lúc đứng ở chân Núi Sọ, Ðức Maria không những
chưa chấm dứt vai trò đồng công cứu chuộc của Người,
nhưng ngược lại, chính khi đó, Người mới bắt đầu trở nên
Mẹ của Yoan, tức là của Giáo hội. Chính vì vậy mà tác giả
sách Công vụ các Tông đồ cho ta thấy Giáo hội ngay từ
thuở sơ khai đã cầu nguyện và sinh hoạt với Ðức Maria,
Mẹ Chúa Yêsu.

Chúng ta muốn nhìn thấy các hoạt động cụ thể của Ðức Mẹ
ư? Sao chúng ta không muốn biết như thế về hoạt động
của Ðức Kitô hiện nay ở trong Giáo hội. Cả hai Ngài vẫn
nội tại với đời sống hiện nay của thế giới, nhưng không
hiện diện như thân thể chúng ta đang sống. Theo tục ngữ
Việt Nam có thể bảo: người ta hiện nay sống thì khôn, còn
các Ngài hiện nay đã thác thì thiêng. Khôn thì ở một bình
diện, còn thiêng lại ở bình diện cao hơn và cao hẳn. Không
phải những trí óc khôn ngoan đang dẫn đưa lịch sử của thế
giới này, nhưng chính là những bậc thiêng liêng huyền bí.
Không phải chúng ta đang xếp đặt thời gian sẽ đến nhưng
chính Ðức Kitô, chính vị đồng công cứu chuộc với Ngài
đang âm thầm nhưng mạnh mẽ hành động qua chúng ta và
muốn chúng ta cộng tác vào, vì cũng như ngày trước, đất
có sẵn thì mây trời mới mưa Ðấng công chính xuống.

Muốn biết chúng ta phải cộng tác chuẩn bị bằng cách nào
sao? Phụng vụ mùa Vọng bảo chúng ta nhìn vào Ðức Mẹ.
Thánh Yoan trong sách Khải huyền cũng mơ thấy Giáo hội
sau này trở thành người hôn thê kiều diễm, tức là người
trinh nữ vẹn sạch mà dung nhan Ðức Mẹ thể hiện ở trước
mặt chúng ta. Trên khuôn mặt khả ái đó, Thiên Chúa đã để
lại những nét luôn luôn hấp dẫn tình yêu thương vô bờ bến

90
của Ngài, mà Ngài muốn cho Giáo hội có trên nếp sống của
mình. Một đôi mắt trong sạch không bao giờ dừng lại trên
những gì dơ bẩn; một đôi môi dịu dàng chỉ có sẵn những
lời êm ái; một dáng điệu tùng phục sâu xa tất cả những gì
là của Chúa; một sự lanh lẹ không quản gian lao để đi cứu
với Người... Mầu nhiệm dâng mình, mầu nhiệm đồng trinh,
mầu nhiệm vâng theo ý Chúa, mầu nhiệm yên lặng trước
nỗi nghi ngờ chính đáng của Yuse, mầu nhiệm đi thăm bà
Elisabeth và nhất là mầu nhiệm kết hợp tận tụy và âm thầm
làm tất cả những gì cần thiết để chờ đón Chúa: đó là những
nét đã được ghi sâu trong cuộc đời, nên dung nhan của
Ðức Mẹ và mùa Vọng phụng vụ ước mong chúng ta chiêm
ngưỡng và bắt chước.

Chúng ta cũng chỉ là những con người đang có một nếp


sống âm thầm với những phận sự nhỏ nhặt, nhưng tất cả
những sự âm thầm nhỏ nhặt ấy lại là những yếu tố mà
Thần Linh hiện nay đang muốn dùng để xây dựng Nước
Trời, để chuẩn bị việc Chúa Kitô tái giáng. Thật là tuyệt diệu
nếu chúng ta cũng biết sống và làm những công việc ấy
như Trinh nữ Maria, với cái nhìn trong sạch, với các nụ
cười hiền dịu, với các lời lẽ từ tốn, với lòng nhiệt thành
không sợ gian nan... như dung nhan của Người đang cho
chúng ta thấy. Cuộc đời của chúng ta sẽ nên như cuộc
sống của Người và khuôn mặt của Giáo hội sẽ đang vẽ lại
dung nhan Ðức Mẹ mùa Vọng.

Gm. Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm

91
BÀI ĐỌC THÊM 1
GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

GIA PHẢ CỦA ĐỨC GIÊSU


Lm PX.Vũ Phan Long, ofm
Tại sao trong TM Mt nói: “Ông Máttan sinh ông Giacóp; ông
Giacóp sinh ông Giuse, chồng của bà Maria” (Mt 1,15-16),
mà trong TM Lc lại nói: “Ông Giuse là con ông Êli, ông Êli là
con ông Mátthát” (Lc 3,23)?

1. Khi so sánh bảng gia phả của Mt với bảng gia phả
của Lc, chúng ta ghi nhận rằng tác giả Mt đã phân phối các
đời thành 3 nhóm, mỗi nhóm 14 đời (3x14), trong khi tác giả
Lc đã ghi lại 77 đời. Nói chung, có nhiều khác biết hơn là
tương đồng giữa hai bảng gia phả này.
* Những điểm tương đồng chính là: đường đưa tới
Đức Giêsu đi qua ông Giuse; có những tên giống nhau
cho đường giữa Đavít và Aminađáp (Mt 1,3-5; Lc 3,31-
33); có những tên giống nhau cho đường giữa Khétron
và Abraham (Mt 1,2-3; Lc 3,33-34). .

* Những điểm dị biệt chính là: Lc không nói đến các


phụ nữ; Lc phác con đường đi từ Đức Giêsu lên tới
ông Ađam, còn Mt phác ra con đường đi từ tổ phụ
Abrahamxuống tới Đức Giêsu; Lc đặt bảng gia phả
sau bài tường thuật phép rửa, trong khi Mt đặt ở ngay
đầu Tin Mừng.

Các khác biệt có thể giải thích như sau:


(1) Lc đã dùng một nguồn khác với Mt; nguồn này có 36 tên
mà Mt và Cựu Ước tỏ ra là hoàn toàn không biết; nguồn
này dùng con số 7 của Kinh Thánh cho nền thần học của

92
mình. Từ Giuse đến Thiên Chúa, có 7 lần 11 tên. Đức
Giêsu là đỉnh cao của những gì Thiên Chúa đã làm cho
cuộc tạo dựng và cho dân tuyển chọn, bởi vì Người bắt đầu
nhóm thứ mười hai và là nhóm cuối cùng. Trong cách nhìn
này, Thiên Chúa được tôn vinh bằng con số hai lần hoàn
hảo 77, còn Đavít là số 42 (6 lần 7).

(2) Các bảng gia phả được soạn ra vì những mục tiêu khác
nhau: để chứng minh chân tính của một chi tộc/bộ lạc; để
chứng minh dòng dõi của một vị vua hay của một vị tư tế và
như thế chứng thực cho những vị nắm quyền; để cấu trúc
lịch sử thành các thời ký; để cho thấy rằng vị tổ phụ có đặc
tính thế nào, thì người con cháu cũng như thế. Bảng gia
phả của Lc chứng minh rõ ràng chân tính của Đức Giêsu là
thuộc dòng dõi vua Đavít và cho thấy Người hoàn toàn ở
trong chương trình của Thiên Chúa.

2. Người ta đã cố gắng giải thích sự khác biệt về tên cha


của ông Giuse theo hai cách như sau:
a) Julius Africanus (được nêu tên trong Eusebius,
Historia ecclesiastica, 1.7,2-15) đã giải thích bản văn
Lc bằng cách nại tới hôn nhân thế huynh, như trong
Đnl 25,5-10, tại đó nói rằng khi người chồng chết mà
không có con, thì người anh/em kế phải lấy người vợ
góa để cho người quá cố có con nối dõi. Như thế Lc
3,23 có thể có nghĩa là: “Là con, như được giả thiết là
của Giuse, (nhưng thật ra) là của Êli”, nên Giuse vẫn
có thể là con Giacóp (theo Mt). Nhưng giải pháp này
gây lắm vấn đề mà trong thực tế cũng chẳng giải quyết
gì.

b) Bảng gia phả của Mt là bảng gia phả của ông


Giuse, còn bảng gia phả của Lc là bảng gia phả của

93
Đức Maria. Người ta nghĩ đến điều này vì thấy vị trí nổi
bật của ông Giuse trong Tin Mừng về thời thơ ấu theo
Mt, và vị trí nổi bật của Đức Maria trong Tin Mừng về
thời thơ ấu theo Lc. Annius ở Viterbo (khoảng năm
1490 đã phổ biến cách nhìn này, và sau này J.N. Heer
tiếp nối. Tuy đã có lúc truyền thống nghĩ rằng Đức
Maria thuộc dòng dõi vua Đavít, ta không tìm ra một
cơ sở nào trong Tân Ước cả. Còn trong thực tế, Lc đã
phác ra bảng gia phả của Đức Giêsu rõ ràng qua ông
Giuse (x. 3,23).

Kết luận:
Dù sao, các nhà chú giải nhận ra rằng Tân Ước đã giữ lại
cho chúng ta hai bảng gia phả của Đức Giêsu khác nhau
cách lạ lùng, mà không sao dung hòa được. Bảng nào có
hy vọng là có tính lịch sử hơn hoặc nêu đúng sự kiện hơn?
Thật khó mà nói cho dù ta nghĩ rằng cả Mt lẫn Lc đề đã lệ
thuộc vào các nguồn để có các chất liệu như hiện có. Thoạt
nhìn, ta có cảm tường là Lc có hy vọng hơn, bởi vì rõ ràng
cấu trúc 3x14 đời của Mt là giả tạo. Nhưng khi đọc bảng gia
phả 77 đời của Lc, chúng ta thấy Đavít (đời 43), Abraham
(đời 57) và Khanóc (đời 71) là những tên bắt đầu nhóm bảy
đời thứ 7, thứ 9 và thứ 11; và như thế, bảng gia phả của Lc
cũng không tránh được sự giả tạo dựa trên số 7.

Nói chung, hai tác giả đã nhận được tư liệu từ cộng đoàn
tiên khởi, và đã đưa vào bảng gia phả của các ông. Cả hai
ông đều không nhắm cung cấp những yếu tố cho việc lưu
trữ văn khố, nhưng nhắm rao giảng Đức Giêsu là ai và
Người nhắm làm gì để cứu độ mọi người, nam cũng như
nữ.

Lm PX.Vũ Phan Long, ofm

94
MÙA VỌNG và GIÁNG SINH
Xin gửi đến quý độc giả một vài kiến thức phổ thông về Mùa Vọng và Mùa
Giáng Sinh
Nguyễn Quý Đại- Munich

Trước 2000 năm Chúa giáng sinh, các dân tộc trên thế giới
đều có những ngày lễ khác nhau vào tháng 12. Ở Ägyptern/
Egypt mừng sinh nhật Horus, Ấn Độ mừng chúa Ánh sáng
(Lichtgotte), người La Mã cổ mừng ngày hội Saturnalien.
Tất cả các quốc gia có nhiều lễ lộng lẫy riêng biệt. Năm 217
Đức Giáo Hoàng Hyppolist ngài chọn 25.12 là ngày Chúa
giáng sinh và qua các mùa Vọng.

Mùa Vọng (Advent) đầu tháng 12, các trung tâm thương
mãi bán hàng Giáng sinh và năm mới, những cây thông
bằng nhựa treo đèn màu, kết hoa đỏ, hình sao... trang điểm
cho hàng quán thêm rực rỡ. Trước các công sở, hãng
xưởng những cây thông kết đền sáng lung linh. Mọi người
đang mong chờ ngày Chúa giáng trần.

Danh từ Mùa Vọng bắt nguồn từ tiếng La Tinh "Adventus",


có nghĩa là đến. Ngay từ thời Cựu Ước, nhân loại đã mong
đợi Đấng Cứu Thế ra đời.. Đức Chúa cha đã để con Một
của ngài là Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người tại Belem
cách đây hơn 2000 năm. Ngài đến trong mầu nhiệm Giáng
sinh của Giáo hội. Ngài đến để xét xử kẻ sống và kẻ chết.
Ngài ban cho chúng ta những ân sủng.

Lễ Giáng sinh là ngày quan trọng, nên người ta thường


dành thì giờ về sum họp gia đình, tặng qùa trong đêm
Thánh vô cùng, ăn «Réveillon». Ở Đức nghỉ việc từ chiều
24, 25 và 26 tháng 12. Sau ngày Gáng Sinh những cửa
hàng, siêu thị trở nên vắng lặng, các hàng bán pháo bông
đủ loại cho đến chiều 30 tết. Nhiều người đi trượt tuyết, đón
95
giao thừa ở vùng núi cao, hay một thành phố xa lạ nào đó.
Ngược lại người Việt theo phong tục Á Châu rất trọng 3
ngày Tết thường ở nhà đón xuân, vui chơi với gia đình, bà
con họ hàng.

Vòng hoa Mùa vọng


Vòng hoa mùa vọng có bốn cây nến mang màu của phụng
vụ : 3 cây màu tím tượng trưng cho sám hối và một cây
màu hồng dùng cho chúa nhật thứ 3, mùa vọng nói lên
niềm vui như Thánh Phao lô kêu gọi: Hãy vui lên... vì Chúa
đang đến! ánh nến tượng trưng cho sự chờ đợi và hy vọng
vào ngày Chúa đến.Vòng hoa mùa vọng với cành lá xanh
tượng trưng cho sự sống muôn đời. Hạt giống, trái hồ đào
dùng để trang trí trên vòng hoa tượng trưng cho sự sống lại
và những hoa trái tiêu biểu cho lương thực dồi dào của đời
sống Kitô hữu.

Thứ bảy đầu tháng Adventsonntag đốt cây nến số 1, vào


bửa ăn tối trong mùa vọng gia đình thường thắp nến..
Những cây nến này sẽ thắp trong suốt mùa Giáng sinh. 4
cây nến tượng trưng một trong bốn ngày thứ bảy tuần lễ
đợi Chúa sinh ra đời. Vào đêm Giáng sinh, tất cả cành lá có
thể đổi mới và đổi 4 nến màu thành nến trắng, tượng trưng
cho Chúa Kitô. Vòng hoa mùa vọng với bốn cây nến cũng
tượng trưng cho cuộc chiến của các Kitô hữu chống lại
bóng tối của đời sống. Phong tục tốt đẹp này mới có từ thời
gian gần đây. Thần học gia Tin lành Johann Wichern tại
Hamburg vào năm 1838 đã thắp lên mỗi ngày trong mùa
Vọng một cây nến và cắm trên một giá gỗ hình tròn. Vào
ngày lễ Giáng Sinh căn phòng rực sáng với ánh nến. Ánh
sáng nến tượng trưng cho Chúa Kitô, ánh sáng trần gian.
Các năm sau đó người ta trang trí bức tường nhà bằng
những nhánh thông xanh. Năm 1860 người ta cũng trang trí

96
khung gỗ tròn bằng những cành thông, 28 cây nến gom lại
còn 4 cây tượng trưng cho 4 tuần. Và thế là vòng hoa mùa
vọng được phát sinh. Đầu tiên phong tục này được các gia
đình Tin lành thực hành,sau đó vòng hoa mùa vọng được
treo trong nhà thờ Công giáo năm 1925 tại Köln. Từ năm
1935 các vòng hoa mùa vọng trong gia đình cũng được làm
phép. Phong tục này đã phổ biến từ miền Bắc nước Đức và
ngày nay đã lan truyền đến nhiều nơi trên thế giới.

Sinh hoạt thay đổi từ đầu tháng 12, tại Ðức tất cả siêu thị
thứ bảy mở cửa đến 20 giờ (khác Hoa kỳ mở cửa luôn cuối
tuần). Các chợ (Weihnachtsmarkt/ Chriskindlmarkt) không
bán các loại hoa mai, hoa anh đào như chợ tết Việt Nam dù
có nhập cảng nhưng vì thời tiết lạnh các loài hoa đó không
thể nở hoa..phần lớn trong mùa Gíang sinh và Tết có chợ
bán thông xanh cao đến 2m50, (Weihnachtsbaum/
Christmas tree)

Ngày 6/12 nơi nhà trẻ, trường tiểu học, các siêu thị lớn
Nikolaus/ ông già Noel thường xuất hiện phát kẹo cho trẻ
em. Ông già Noel mang túi lớn bằng vải chứa kẹo
chocolade, trái cây cho trẻ em và cả khách hàng kèm theo
quảng cáo với những chiếc bong bóng tròn đủ màu. Ngày
nay đôi khi các cô xinh đẹp làm Nikolaus hay làm một Thiên
thần đi bên cạnh Ông già Nikolaus chống gậy.

Ông già Giáng Sinh Père de Noel /Nikolaus/


Santa laus/Sinterklass/ Nikola
Hình ảnh quen thuộc nhất trong mùa Giáng Sinh là ông già
Noel mà ai cũng biết. Ông mặc quần áo đỏ, đội mũ đỏ kiểu
xứ lạnh, đi giầy đen, tóc bạc phơ và râu trắng như tuyết.
Nikolaus có từ thế kỷ thứ 3 sau Tây lịch. Ông chào đời tại
quận Patara thuộc phần đất của Thổ Nhĩ Kỳ, sau khi được

97
phong thánh mới có tên là Nikolaus. Từ 6 tháng 12 xuất
hiện Nikolaus, nhưng phải phân biệt Nikolaus và
Weihnachtsmann.

Vào thế kỷ thứ 10 từ đời nữ Hoàng Thephanu gốc Hy Lạp,


là vợ Hoàng Ðế Otto II của Ðức để nhớ thánh Nikolaus nên
từ năm 1555 tại Ðức nguời ta may áo quần màu đỏ, đội tóc
trắng, mang râu, giả làm Nikolaus, hình ảnh Nikolaus xuất
hiện trở lại với ý nghĩa mang tình thương đến với mọi
người. Weihnachtsmann xuất hiện từ năm 1933 do quảng
cáo của hãng Coca Cola. Hình ấy được thấy trên màn ảnh
Tivi suốt mùa Giáng Sinh

Ông già Noel theo tiếng Pháp Père de Noel, tiếng anh
Santa Claus, tiếng Hòa-Lan Sinterklass.Theo tài liệu trước
khi được phong thánh ông Nikolaus là người giầu có, nhân
từ. Vào đêm Giáng-Sinh, ông được Thiên chúa mặc khải,
đem hết của cải riêng mình ban phát cho những người
nghèo khổ và trẻ con. Ông biến những giấc mơ của họ
thành sự thực, bằng cách mua quà bánh để biếu những kẻ
nghèo khổ, mang lại cho họ những sung sướng bất ngờ.

Có tài liệu cho biết, ông già Noel được phong Giám mục
vào thế-kỷ thứ 3 sau TL. Sau khi được phong thánh,
98
Nikolaus trở thành người đỡ đầu của các thương nhân,
thủy thủ và trẻ con. Ông qua đời vào ngày 6/12, không nhớ
năm. Ngày 6/12 hàng năm để tưởng nhớ lại hình ảnh người
đạo đức, giàu lòng nhân từ bác ái . Hình ảnh người mặc áo
màu đỏ của Nikolaus thuở nào, đến từng nhà có trẻ con
thăm viếng, chia bánh kẹo trong đêm Giáng Sinh.

Theo truyền thuyết ông già Noel trở lại trần gian, theo
đường ống khói lò sưởi vào mỗi gia đình, để đồng tiền hay
bánh kẹo vào trong chiếc vớ hay chiếc giày cho trẻ con treo
gần giường ngủ hay lò sưởi, đem lại giấc mơ đẹp với tuổi
thơ trong đêm Giáng Sinh. Bởi thế Cha mẹ thường mua
qùa bỏ vào đôi vớ để cạnh lò sưởi, lúc trẻ con thức dậy vui
mừng với món quà của ông già Noel tặng. Phong tục này
khuyến khích trẻ em nên làm điều thiện để được ông già
Noel tặng quà

Ðêm Thánh vô cùng / Heiligabend /silent night


Chúa chào đời ngày 25 tháng 12 trong máng cỏ nghèo hèn
đã để lại cho nhân loại lịch sử suy niệm, từ đó hàng năm tín
đồ Thiên Chúa Giáo cử hành lễ Giáng Sinh rất long trọng
khắp nơi trên thế giới. để tưởng nhớ ngày Chúa ra đời bên
thành Bêlem/Bethelem, trên phần đất nghèo nàn thuộc lãnh
thổ Do Thái / Israel.

Sự nhập thế của Chúa Hài đồng trong máng cỏ nghèo đã


có những hiện tượng lạ theo sự hướng dẫn của ngôi sao kỳ
diệu, các vị vua vùng lân cận đã tìm đến hầu Ngài (trong lễ
ba Vua). Mọi người trên thế giới đều thờ kính Ngài con một
của Chúa cha đã xuống thế làm người và chịu chết trên cây
Thánh giá .

Lễ Giáng sinh thường giống nhau, nhưng có sự thay đổi chi

99
tiết tùy mỗi địa phương trên thế giới. Tại VN các thành phố
hay giáo phận Thiên Chúa Giáo thường cử hành Thánh lễ
Giáng sinh vào đêm 24 tháng 12 hàng năm.

Trong vô số những bài ca, người ta còn nhắc nhở đến


những bài thánh ca bất hủ, trở thành những bài ca quốc tế,
dịch ra nhiều thứ tiếng. Trong số đó bài thánh ca "Đêm
Thánh Vô Cùng" của nhạc-sĩ thiên tài người Áo là Franz
Xaver Grubert (1787-1863). Năm 1840 nhạc-sĩ Franz
Grubert là người đệm dương cầm cho Giáo đường nắm
cạnh bờ sông Danube. Grubert báo cho Cha Sở Joseph
biết rằng vào giờ chót đàn dương cầm hư, không thể sửa
được, xin cha chọn bài hát khác không cần đệm dương
cầm

Chính cha Josep viết liền lời thánh ca và nhạc sĩ Grubert


phổ nhạc ngay tại chỗ. Đêm Giáng Sinh năm 1840, bài
thánh ca Weihnachtslied "Silent Night/ Đêm Thánh Vô
Cùng" ra đời và được hợp ca với một cây đàn nhỏ phụ họa.
Đó là bài thánh ca bất hủ, lưu truyền đến bây giờ.

"Đêm thánh vô cùng giây phút tưng bừng. Đất với trời xe
chữ đông; Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ. Canh
khuya giáng sinh trong chốn hang lừa, ơn châu báu không
bờ bến. Biết tìm kiếm của chi đền. Ôi Chúa Thiên đàng cam
mến cơ hàn, nhấp chén phiền vương phong trần. Than ôi
Chúa thương người đến quên mình: bỏ vô chốn quê nhà lúc
sinh thành. Ai ham sống trong lạc thú. Nhớ rằng Chúa đang
đền bù. Tinh tú trên trời. Sông núi trên đời với Thánh Thần
mau kết lời, Cao rao Hóa công đã khéo an bài. Sai con hiến
thân mong cứu nhân loại. Hang chiên máng rêu tạm trú bốn
bề tuyết sương mịt mù..."

100
Không phân biệt tôn giáo đêm 24/12 mọi người đều vui
mừng ngày Chúa ra đời. Người Việt Nam mừng Giáng sinh
như người Tây phương, sau khi dự thánh lễ, các gia đình
công giáo Việt Nam vẫn giữ tục ăn "Réveillon" vào lễ nửa
đêm, thời tiết ở Việt Nam ấm áp nên Thánh lễ đêm 24 đông
người tham dự, người không theo Thiên chuá cũng đến
nhà Thờ, đường phố đông người, dập dìu tài tử gia nhân,
ngựa xe như nước áo quần như nêm“ Ở Huế khu Phú Cam
nhà Thờ cao với ngôi sao lộng lẫy, hang đá sáng trưng tỏa
ra từ những cây nến trắng. Đà Nẵng khu Thanh Bồ, Đức
Lợi phần lớn người Bắc di cư người ta lo lễ Giáng Sinh rất
lớn. Thánh lễ cử hành trước nhà Thờ Chánh toà trên
đường Độc Lập rất trang nghiêm. Sài Gòn từ Vương cung
Thánh Đường nhà thờ Đức Bà đến Dòng Chuá Cứu Thế
nơi nào cũng đông người tham dự. Ngày xưa dù thời gian
chiến tranh nhưng trên lý thuyết hai bên đều ngưng bắn để
mừng Giáng sinh. Ở Đức đêm 24 là đêm của gia đình
đường phố vắng lặng dưới bầu trời lạnh buốt cùng tuyết
trắng .

Người Tây phương mừng Giáng sinh vào đêm 24.12


nhưng mỗi quốc gia có phong tục văn hoá khác nhau.
Ngoại trừ Hy Lạp Griechenland/ Greece theo Cơ Đốc Giáo
mừng lễ Giáng sinh vào ngày 6, ở Hy Lạp không có
Nikolaus nhưng có Thánh Vassilius, đêm mùng Một tết để
quà tặng trước giường ngủ cho trẻ em. Armenien/ Armenia
vào ngày 18/19 tháng giêng .

Từ thế kỷ thứ 8 người Ðức đã đón mừng Giáng Sinh, đêm


24 họ đi Thánh lễ sau đó gia đình quây quần bên cây thông
được kết đèn màu, hoa trái, dưới gốc thông là những gói
qùa để trao nhau, bửa ăn tối thường theo truyền thống có
ngỗng quay, (Weihnachtsgans) các loại bánh

101
Weihnachtstollen, Blättchen, rượu nho vv.. cây thông để
đến ngày lễ Ba vua.

Miền New England dân chúng ăn tiệc mừng Giáng Sinh


theo người Anh. Trong bữa ăn "Réveillon" nửa đêm, luôn
luôn tổ chức trọng thể có một loại rượu đặc biệt, chế bằng
nước trái cây ép với vài hương liệu Đông Phương như đinh
hương đậu khấu và rượu nho. Thứ rượu đặc biệt trên phải
hâm nóng, uống như rượu saké của Nhật, để chống lại cái
lạnh bên ngoài. Tại Ðức cũng có loại rượu nho Gluehwein
hâm nóng bán tại các chợ trong mùa Giáng sinh

Người Island mùa Vọng từ ngày 12 đến 24 mỗi ngày


thường bỏ những món quà nhỏ trong giày tượng trưng quà
của Nikolaus dành cho trẻ con. Chiều 24 bắt đầu bữa tiệc
mừng Giáng Sinh, sau đó họ đi thăm nghĩa trang mang đến
những tràng hoa và đốt nến trên mộ phần người thân, ở Ý
Italy họ không dùng cây thông trang điểm cho mùa Gíang
sinh, nhưng họ làm hang đá và ăn tiệc đêm 24. cho đến lễ
Ba Vua 6.1, họ bỏ kẹo bánh vào chiếc vớ hay giày làm qùa
cho trẻ con. Người Tây Ban Nha Spanien/Spain và Bồ Đồ
Nha Portugal chỉ tặng quà vào lễ Ba vua. Hòa Lan
Niederlande/ Netherlands từ 6/12 hàng năm họ tổ chức
rước lễ lớn ở hải cảng Amterdame và trong đêm giao thừa
các gia đình mang ra đường đốt những cây thông
(Christbäume) cùng với tiếng pháo tống cựu nghinh tân.
Vùng Đông âu giá lạnh như Schweden/Sweden mùa Giáng
sinh cũng là ngày chí điểm (Sonnenwende/solstice) khởi
điểm mùa Đông và Jul-Fest. Chiều 24 sau 15 gìờ trời sẩm
tối, quà tặng Giáng sinh là các con dê đực bằng rơm và lò
sưởi họ đốt than củi từ 24.12 đến 6.1 chấm dứt giáng sinh
vào ngày 13 cũng là ngày Thánh Knut. Họ ném những cây
thông qua cửa sổ đó cũng là một phong tục .

102
Người Mỹ đoàn tụ gia đình ngày thứ năm cuối tháng 11
mừng Thanksgiving/ Danke schöne hàng năm, để tạ
Thượng Đế tạ ơn đời và ơn người cùng ân phúc của trời
đất, trong đêm Giáng Sinh mọi gia đình cũng tổ chức ăn
uống, trao đổi quà tặng cùng những lời chúc tốt đẹp nhất
cho Giáng Sinh và năm mới .

Ngôi sao Giáng Sinh:


Các ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ mầu sắc
trong mùa Giáng sinh, các nhà thờ đều có treo vô số ngôi
sao 5 cánh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất
của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có
nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.

Ngôi sao trong lễ Giáng sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo


tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện
một ngôi sao rực rỡ . Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm còn
nhìn thấy. Từ các vùng phía Đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ
Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần
theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp Chúa Từ
đó ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng đến căn nhà
nhỏ. Đúng như lời tiên tri của ông Simêon, Hài nhi nầy sẽ
trở nên ánh sáng soi cho muôn nước. Theo tục Đông
phương thăm với qùa tặng Ba Vua quì lạy dâng lên Chúa
Hài Đồng các phẩm vật trầm hương và châu báu vàng bạc.

Ngôi sao Holley trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa
Giáng Sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo
đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng Sinh để nhớ đến
sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép
lạ của Thượng Đế

103
Cây thông
Mùa Đông lạnh lẽo chỉ có cây thông xanh tươi có thể sống
với khí hậu băng giá. Để có sự hòa hợp con người và thiên
nhiên từ năm 1660 người Đức dùng cây thông xanh tươi,
có mùi thơm tràn đầy nhựa sống, trang điểm thêm đèn, các
lọai trái châu màu, ... ở nhà và nhà Thờ trong mùa Giáng
sinh. Cho đến thế kỷ thứ 19 được thế giới biết đến.

Hang đá và máng cỏ
Nguồn gốc dùng hang đá và máng cỏ trong lễ Giáng Sinh là
do truyền thuyết Chúa sinh ra đời trong hang đá nhỏ, nơi
máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bethelem.
Để nhớ lại hình ảnh nghèo khổ của Chúa lúc mới ra đời,
đem thân để chuộc tội cho nhân loại.

Ðêm 24/12 các Giáo đường đều có hang đá với máng cỏ,
bên trong có tượng chúa Hài đồng tượng Đức Mẹ Maria,
chung quanh có những con lừa, các tượng Ba Vua một số
Thiên thần, thánh Giuse trên mái nhà có ánh sáng, chiếu từ
một ngôi sao hướng dẫn 3 vua tìm đến với Chúa. Mọi
người đều hướng về Chúa nhân từ, cầu nguyện Chúa cứu
rỗi cho nhân loại tránh bớt chìến tranh nghèo đói và độc tài

"Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời Chúa sinh ra đời
nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Belem ánh
sáng tỏa lan tưng bừng nghe trên không trung tiếng hát
thiên thần vang lừng. Ðàn hát (réo rắt tiếng hát) xướng ca
dư âm vang xa. Ðây Chúa Thiên Toà Giáng sinh vì ta..
Người hỡi (hãy kíp bước tới) Đến xem 8 nơi hang Be Lem).
Ôi Chúa Giáng sinh khăn thấp hèn. Nửa đêm mừng Chúa
giáng sinh ra chốn gian trần. Người đem ơn phúc xuống
cho muôn dân lầm than...“

Nguyễn Quý Đại- Munich

104
BÀI ĐỌC THÊM 2
GIÁO HUẤN CỦA ĐỨC THÁNH CHA

GIÁNG SINH LÀ LỄ ĐẠI ĐỒNG CỦA ƠN CỨU ĐỘ


”Giáng Sinh là một ngày lễ đại đồng. Cả những người không có lòng tin Kitô
cũng cảm nhận được biến cố ngoại thường siêu việt đánh động con tim này,
vì Giáng Sinh là ngày lễ chúc tụng sự sống. Nó là dịp giúp chúng ta suy niệm
về ý nghĩa và gía trị cuộc sống, suy niệm về thảm cảnh của lịch sử con người
bị thương tích vì tội lỗi cũng như về lòng nhân từ xót thương của Thiên Chúa,
cho con người được chia sẻ tình bạn và sự sống của Ngài”.

Anh chị em thân mến,


Các bài đọc phụng vụ đều hướng về việc chờ đợi Đấng
Cứu Thế giáng sinh. Thật thế toàn thể Giáo Hội tập trung
cái nhìn lòng tin vào ngày lễ gần kề và hiệp với tiếng hát
tươi vui của các thiên thần báo cho các mục đồng biết tin
vui Đấng Cứu Thế giáng sinh và mời họ đến hang đá
Bếtlêhem gặp gỡ Đấng Tạo Hóa Emmanuel làm người,
quấn băng vải nằm trong máng cỏ (x. Lc 2,13-14). Và Đức
Thánh Cha giải thích ý nghĩa lễ Giáng Sinh như sau:

Vì bầu khí đặc hiệt của nó, Giáng Sinh là một lễ đại đồng.
Thật thế, cả những người không phải là tín hữu Kitô cũng
có thể nhận biết trong biến cố hàng năm này một cái gì
ngoại thường và siêu việt, một cái gì nói với con tim. Đó là
lễ hát mừng ơn sự sống. Biến cố một trẻ em sinh ra đáng lý
phải luôn luôn là một biến cố đem lại niềm vui. Việc ôm ấp
một trẻ sơ sinh thường khơi dậy các tâm tình của sự chú ý,
mau mắn, cảm động và dịu hiền.

Giáng Sinh là cuộc gặp gỡ với một trẻ thơ khóc oe oe trong
một hang đá khó nghèo. Khi chiêm ngưỡng Chúa trong
hang đá, làm sao chúng ta lại không nghĩ tới biết bao nhiêu
trẻ em chào đời trong cảnh bần cùng tại nhiều nơi trên thế
giới này? Làm sao không nghĩ tới các trẻ sơ sinh bị khước
105
từ không được tiếp đón, các trẻ sơ sinh không sống còn vì
thiếu săn sóc và chú ý? Làm sao không nghĩ tới biết bao
nhiêu gia đình muốn nếm hưởng niềm vui có đựơc đứa
con, nhưng không được toại nguyện? Rất tiếc là dưới sự
thúc đẩy của một khuynh hướng duy tiêu thụ hưởng lạc, lễ
Giáng Sinh có nguy cơ mất đi ý nghĩa thiêng liêng của nó,
để chỉ còn là dịp mua bán sắm sửa và trao đổi qùa cáp.
Nhưng thật ra các khó khăn, các bất ổn, và chính cuộc
khủng hoảng kinh tế mà biết bao nhiêu gia đình đang phải
sống trong các tháng này, có thể là một khích lệ giúp tái
khám phá ra hơi ấm của sự đơn sơ, của tình bạn và tình
liên đới, là các giá trị đặc thù của lễ Giáng Sinh. Khi được
lột bỏ khỏi các cáu bẩn duy tiêu thụ và vật chất, lễ Giáng
Sinh có thể trở thành một dịp để tiếp nhận như một món
qùa sứ điệp hy vọng tỏa thoát ra từ mầu nhiệm giáng sinh
của Chúa Kitô.

Tuy nhiên tất cả những thứ đó vẫn chưa đủ để giúp tiếp


nhận được gía trị tràn đầy của ngày lễ. Chúng ta biết rằng
lễ Giáng Sinh cử hành biến cố chính của lịch sử: đó là việc
Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể để cứu rỗi nhân loại. Thánh
Leô Cả đã kêu lên trong một bài giảng lễ Giáng Sinh như
sau: ”Hỡi anh chị em thân mến, chúng ta hãy vui mừng
trong Chúa và hãy mở rộng con tim cho niềm vui tinh tuyền.
Vì đã ló rạng ngày đối với chúng ta có nghĩa là ngày cứu độ
mới, việc chuẩn bị cũ, niềm hạnh phúc vĩnh cửu. Thật thế,
trong chu kỳ phụng vụ hàng năm mầu nhiệm cứu độ được
canh tân. Nó đã được hứa từ khởi đầu và được ban cho
chúng ta vào thời sau hết và sẽ kéo dài đến vô tận”
(Homilia XXII).

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: thánh Phaolô
cũng đã nhiều lần đề cập tới sự thật nền tảng này trong các

106
thư của người. Chẳng hạn trong thư gửi tín hữu Galát
thánh nhân viết: ”Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa
đã sai con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và
sống dưới Lề Luật... để chúng ta nhận được ơn làm nghĩa
tử” (4,4). Trong thư gửi tín hữu Roma thánh nhân minh
nhiên các luận lý và hiệu qủa của biến cố cứu độ này như
sau: ”Vậy nếu chúng ta là con Thiên Chúa, thì cũng là
người thừa kế: mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là
đồng thừa kế với Đức Kitô; vì một khi cùng chịu đau khổ với
Người, chúng ta sẽ cùng được chung hưởng vinh quang
với Người” (Rm 8,17). Nhưng nhất là thánh Gioan trong
phần dẫn nhập Phúc Âm thứ tư, đã suy tư một cách sâu
đậm về mầu nhiệm Nhập Thể. Vì thế Thánh Ca dẫn nhập
này là phần của phụng vụ lễ Giáng Sinh ngay từ thời xa
xưa. Thật vậy vì trong đó chúng ta tìm thấy kiểu nói diễn tả
nền tảng niềm vui của chúng ta và tổng kết nội dung đích
thực của ngày lễ này: ”Và Ngôi Lời đã nhập thể làm người,
và ở giữa chúng ta” (Ga 1,14).

Như thế trong lễ Giáng Sinh chúng ta không chỉ tưởng niệm
một nhân vật lớn; chúng ta không chỉ cử hành một cách
trừu tượng mầu nhiệm sinh ra của con người hay nói chung
mầu nhiệm của sự sống; chúng ta lại càng không mừng
một mùa mới bắt đầu. Trong lễ Giáng Sinh chúng ta nhớ tới
một cái gì rất cụ thể và quan trọng đối với con người, một
cái gì nòng cốt đối với lòng tin Kitô, một sự thật mà thánh
Gioan tóm tắt trong vài lời: ”Ngôi Lời đã biến thành nhục
thể”. Nó là một biến cố lịch sử mà thánh sử Luca lo lắng đặt
để vào trong một bối cảnh rất xác định: trong thời gian
hoàng đế Augusto ra chiếu chỉ kiểm kê dân số lần đầu tiên,
khi quan Quirino làm khâm sai Siria (x. Lc 2,1-7). Như thế
biến cố cứu độ mà dân Israel chờ đợi từ bao thế kỷ, đã xảy
ra trong một đêm được ghi dấu trong lịch sử. Trong đêm tối

107
Bếtlêhem một ánh sáng lớn đã được thắp lên: Đấng Tạo
Thành vũ trụ đã nhập thể kết hiệp mất thiết với bản tính
nhân loại của chúng ta, đến độ thật sự là ”Thiên Chúa bởi
Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng” và đồng thời cũng là
người thật.

Điều mà thánh Gioan gọi bằng tiếng Hy Lạp là ”ho Logos”


tiếng Latinh dịch là ”Verbum” tiếng Ý dịch là ”il Verbo”, Ngôi
Lời, cũng có nghĩa là ”Ý Nghĩa”. Vì thế chúng ta có thể hiểu
kiểu nói của thánh Gioan là ”Ý Nghĩa vĩnh cửu” của thế giới
đã trở thành sờ mó được đối với các giác quan và trí thông
minh của chúng ta: giờ đây chúng ta có thể sờ mó và chiêm
ngưỡng (x. Ga 1,1). ”Ý Nghĩa” trở thành nhục thể đó không
chỉ đơn thuần là một tư tưởng tổng quát nhập vào thế giới;
nhưng là một ”Lời” hướng tới chúng ta. Ngôi Lời biết chúng
ta, mời gọi chúng ta, hướng dẫn chúng ta. Người không
phải là một luật lệ đại đồng có một vai trò nào đó, mà là một
Bản Vị chú ý tới từng người trong chúng ta: Người là Con
Thiên Chúa hằng sống, đã làm người tại Bếtlêhem.

Đối với nhiều người và trong một cách thế nào đó đối với
chúng ta tất cả, điều này xem ra qúa tốt lành để coi là thật.
Thật ra, có một ý nghĩa, và ý nghĩa đó không phải là một
phản kháng bất lực chống lại cái vô lý. Ý Nghĩa đó có
quyền năng: đó là Thiên Chúa, một vì Thiên Chúa tốt lành,
không được lẫn lộn với một đấng cao vời xa cách, mà con
người không bao giờ đạt tới được, nhưng một Thiên Chúa
gần gữi và rất gần gũi với chúng ta, có thời giờ cho từng
người trong chúng ta, và đến để ở lại với chúng ta.

Đương nhiên chúng ta tự hỏi: ”Có thể xảy ra điều như vậy
sao? Thiên Chúa trở thành trẻ thơ có là điều xứng đáng
không?” Để có thể mở rộng con tim cho sự thật soi sáng

108
toàn cuộc sống nhân loại này, cần phải cúi đầu thừa nhận
sự hạn hẹp của trí thông minh của chúng ta. Trong hang đá
Bếtlêhem Thiên Chúa tự tỏ lộ cho chúng ta như trẻ thơ
khiêm tốn để chiến thắng sự kiêu căng của chúng ta. Có lẽ
chúng ta sẽ đầu hàng một cách dễ dàng hơn trước quyền
lực, trước sự khôn ngoan; nhưng Chúa không muốn sự
đầu hàng của chúng ta; Ngài mời gọi con tim và sự quyết
định tự do của chúng ta chấp nhận tình yêu của Ngài. Ngài
đã trở thành bé nhỏ để giải thoát chúng ta khỏi yêu sách
làm lớn phát xuất từ sự kiêu căng của chúng ta; Ngài đã tự
ý nhập thể để làm cho chúng ta tự do thật sự, tự do yêu
thương Ngài.

Vì thế chúng ta hãy chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh với lòng


khiêm tốn và đơn sơ, hầu sẵn sàng lãnh nhận ơn ánh sáng,
niềm vui và hòa bình tỏa rạng từ mầu nhiệm này. Chúng ta
hãy đón nhận lễ Giáng Sinh của Chúa Kitô như một biến cố
có thể canh tân cuộc sống chúng ta ngày nay. Cuộc gặp gỡ
với Chúa Hài Nhi biến chúng ta trở thành những người rộng
mở cho các chờ mong và nhu cầu của các anh chị em
khác. Và như thế chúng ta cũng sẽ trở thành các chứng
nhân của ánh sáng mà lễ Giáng Sinh dãi tỏa trên nhân loại
của ngàn năm thứ ba. Chúng ta hãy xin Mẹ Maria Rất
Thánh, nhà tạm của Ngôi Lời nhập thể, và thánh Giuse
chứng nhân thinh lặng của các biến cố cứu độ, thông
truyền cho chúng ta các tâm tình của các Ngài để chúng ta
chuẩn bị cứ hành lễ Giáng Sinh sắp tới một cách thánh
thiện, trong niềm vui của lòng tin và sự dấn thân của một
cuộc hoán cải đích thực.

= ĐTC Bênêđictô XVI


Chuyển ngữ Linh Tiến Khải

109