You are on page 1of 75

TUỔI TRẺ BĂN KHOĂN

HERMANN HESS

Lời Tựa

Tôi không thể kể câu chuyện đời mình mà không nhìn lại quá khứ. Nếu có thể tôi muốn quay trở về xa hơn nữa, về những năm tháng đầu
của tuổi thơ tôi, và tiếp tục hướng về nguồn gốc. Các nhà văn, mỗi khi họ đặt bút sáng tác thường sẽ tự coi mình như ơn trên của nhân vật,
tự coi mình thấu hiểu toàn bộ cốt truyện hay cuộc đời của một con người. Để rồi sau đó, tựa như chính Đức Chúa, họ có thể kể lại câu
chuyện đó. Không có gì ngăn cách giữa họ và sự thật, từng chi tiết nhỏ của câu chuyện đều chứa đầy ý nghĩa lớn lao.

Tôi thì không có khả năng tiếp bước các nhà văn ấy, dù cho câu chuyện đời tôi quan trọng với tôi còn hơn những tác phẩm kia với người
cha đẻ của nó. Bởi đây là câu chuyện của chính bản thân tôi, câu chuyện của một con người, không phải của một nhân vật được sáng tạo ra,
được lý tưởng hóa, có thể tồn tại hoặc không tồn tại ngoài đời thực, mà là của một con người độc nhất, bằng xương bằng thịt. Nhưng, con
người ta ngày nay, so với bất kỳ thời đại nào ngày trước, dường như không thấu hiểu những yếu tố thực sự tạo nên loài người. Vì thế từng
con người đại diện cho từng khía cạnh độc nhất và đáng giá về bản chất ấy, đều bị bắn bỏ. Nếu như chúng ta không là những cá thể độc
nhất vô nhị, nếu như chúng ta ngã xuống và ra đi chỉ sau một phát súng, việc kể chuyện thật chẳng còn nghĩa lý gì nữa cả.

Nhưng mỗi con người đều không chỉ biết về mỗi bản thân mình. Họ còn là hiện thân cho những sự giao hòa độc nhất vô nhị, đặc biệt và phi
thường của hàng bao sự việc hiện tượng trên thế giới, chỉ xảy đến cùng nhau một lần và không bao giờ lặp lại. Chính vì vậy, câu chuyện của
mỗi người đều quan trọng, thiêng liêng và vĩnh cửu; chính vì vậy mà mỗi con người, chừng nào còn sống và hoàn thành tâm nguyện của
bản thân, đều rất đỗi tuyệt vời và xứng đáng được nhắc đến. Trong mỗi người, linh hồn đã trở thành thể xác, trong mỗi cá thể, sự sáng tạo
phải nếm trải đắng cay, và trong thâm tâm họ luôn hiện hữu hình ảnh Chúa Cứu Thế bị ghim trên thánh giá. Ngày nay, không mấy ai hiểu
rõ bản chất con người. Nhiều người ý thức được sự ngây ngô thiếu sót ấy và bởi thế, ra đi càng nhẹ nhàng hơn, cũng giống như tôi sẽ chết
đi dễ dàng hơn chút ít khi câu chuyện đi đến kết thúc vẹn toàn. Tôi chẳng dám vỗ ngực nhận mình thông minh hơn nhân loại. Tôi đã và vẫn
đang đi tìm kiếm câu trả lời, nhưng tôi đã không còn dựa dẫm vào chiêm tinh và sách vở. Thay vào đó, tôi bắt đầu nghe theo những lời răn
dạy thì thầm tận sâu trong tiềm thức.

Câu chuyện của tôi không hề dễ chịu. Nó không ngọt ngào mà cũng chẳng hài hòa như những câu chuyện hay được người ta chắp bút. Câu
chuyện của tôi có phần vô nghĩa và hỗn độn, mang dư vị của sự điên dại và cả những giấc mơ, giống như cuộc đời của những con người đã
ngừng lừa dối bản thân mình. Cuộc đời của mỗi người kể cho ta về cuộc hành trình kiếm tìm chính bản thân họ, về sự nỗ lực trong từng
bước đi trên con đường ấy, và cả điềm báo về một lối mòn vô định. Chưa có một ai hoàn toàn là chính mình. Nhưng mỗi cá nhân l uôn đấu
tranh để sống đúng với bản thân nhất có thể, dù có trở thành một kẻ khờ khạo hay một người thông thái. Mỗi người đều mang theo mình
những dấu vết của nguồn cội – lớp nước nhầy và những mảnh vỏ từ thuở còn nằm trong trứng – cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Một số
sẽ không bao giờ trở thành người, mãi mắc lại trong cái lốt của nào ếch, kiến, và cả thằn lằn, một số khác lại mang thân trên của loài người
nhưng thân dưới lại là đuôi cá. Mỗi số phận là một canh bạc rủi may, đặt cược trên những điều cốt lõi mà từ đó con người được nhào nặn
thành hình.

Chúng ta đều sẻ chia chung một nguồn gốc, đó là những người mẹ, là cách mà ta được sinh ra. Nhưng mỗi người trong chúng ta – những
thử nghiệm của tạo hóa – lại không ngừng cố gắng tìm ra định mệnh cho riêng mình. Chúng ta có thế hiểu nhau, nhưng để nhìn thấu tâm
can của một người thì chỉ có thể là nỗ lực của chính bản thân người đó mà thôi.

Chương I – Hai thế giới

Tôi sẽ bắt đầu câu chuyện bằng một trải nghiệm lúc mình mười tuổi, khi tôi còn học ở ngôi trường La-tinh trong thị trấn. Những điều ngọt
ngào khi ấy cho đến giờ vẫn luôn khuấy động tâm can và làm tôi nghẹn lòng trong cái buồn đau u uất. Đó là những con ngõ tối tăm hay
những con đường sáng sủa; những ngôi nhà cùng với những tháp cao; kẻ bằng mặt hay kẻ bằng lòng; những căn phòng giàu sang và thoải
mái; ấm áp và vô lo; theo đó là những nơi ngập tràn bí mật. Mọi thứ đều mang theo hơi ấm thân quen, những cô hầu, những bài thuốc gia
đình và cả những thứ quả khô nhỏ bé.

Vương quốc của ngày và đêm, hai thế giới đối lập giờ đây lại hòa lẫn vào nhau. Ngôi nhà của cha mẹ với tôi là một thế giới, nhưng nó đang
dần thu hẹp, chỉ đủ ôm lấy chính họ mà thôi. Mọi thứ ở nơi này đều vô cùng thân thuộc với tôi, nơi có cha, có mẹ, tình yêu thương đi cùng
với sự nghiệm khắc, những hành xử khuôn mẫu, cũng như trường học. Nơi đó có ánh sáng chói lòa, sáng sủa, sạch sẽ, những cuộc đối thoại
hòa nhã, những bàn tay được rửa kỹ càng, quần áo tinh tươm, và những lề thói tốt đẹp. Tôi sẽ được đánh thức bằng những bản thánh ca
mỗi sáng, và được hồi hộp mừng đón Giáng sinh. Con đường tương lai tôi sẽ được định sẵn, có trách nhiệm, cũng có mặc cảm; những tâm
hồn tội lỗi và những lời xưng tội van lơn; có sự vị tha để không tái phạm sai lầm; có tình yêu, lòng sùng kính, sự thông thái và những lời
dạy của Thánh Kinh. Nếu ai kia truy cầu một cuộc đời không tì vết và được sắp xếp tất thảy, thì thế giới này chính là chốn dừng chân.
Thế giới còn lại, thứ bao phủ lấy nửa căn nhà lại là nơi đối lập hoàn toàn. Nơi đó có mùi lạ lẫm, ngôn ngữ khác biệt, người t a khát cầu
những thứ hoàn toàn khác. Nơi này có những cô hầu và người làm công; những câu chuyện ma quỷ, những tin đồn và những gièm pha bàn
tán. Nơi này được bao bọc trong thứ hỗn hợp của những gì gớm ghiếc, kích thích, ghê rợn và bí ẩn. Đó là những lò mổ, những nhà tù, kẻ
nghiện rượu cùng những tiếng chửi chua ngoa của người bán cá; còn có những con bò đang kỳ sinh đẻ những con ngựa chết mòn, và
những câu chuyện về cướp bóc, giết người và tự sát. Xung quanh ta tràn ngập những điều hấp dẫn, hoang dại nhưng cũng thật tàn nhẫn và
kinh khủng, có thể tìm thấy ở ngay lối rẽ tiếp theo, hay ngôi nhà sắp đến. Cảnh sát hay gái điếm, kẻ nghiện rượu đánh vợ hay những cô gái
ùa ra khỏi công xưởng vào ban đêm, những mụ phù thủy bỏ bùa mê làm ta bệnh tật, những tên ăn trộm khuất lẩn trong rừng già, và lũ đốt
nhà bị bắt quả tang- mọi ngóc ngách nơi đây đều tỏa ra cái mùi đặc trưng, nhưng may mắn sao chỉ trừ căn nhà của cha mẹ. Thật vui khi biết
rằng bình yên và trật tự, tĩnh lặng và thiện lương, vị tha và yêu thương nồng hậu, vẫn tràn ngập nơi này. Nhưng cũng thú vị làm sao khi thế
giới kia cũng song song tồn tại, vô số những âm thanh khó nghe, đầy rẫy buồn thương và bạo hành. Nhưng tuyệt nhất là khi tôi vẫn có thể
dễ dàng thoát ra khỏi những điều u ám để sà vào lòng mẹ an yên.

Hai thế giới ấy vừa tách biệt, nhưng cũng lại gần gũi một cách diệu kỳ. Tỉ như khi cô hầu Lina ngồi bên cửa phòng khách, khẽ ngân nga giai
điệu bài thánh ca và cùng chúng tôi cầu nguyện. Đôi tay sạch sẽ đặt gọn gàng trên chiếc tạp dề trắng muốt phẳng phiu, nàng thuộc về cha
và mẹ và chúng tôi, thuộc về ánh sáng và sự công bằng. Nhưng sau đó, trong góc nhà bếp hoặc nơi kho củi, nàng dường như trở t hành một
người xa lạ khi kể tôi nghe câu chuyện về “gã nhỏ thó không đầu”, hay như khi nàng cãi nhau với mụ bán thịt nhà bên. Nàng khi ấy thuộc về
một thế giới khác, nơi giấu nàng đi bằng ngàn bí ẩn. Và đó là cách mọi việc vẫn diễn ra, hay chính là cách tôi vẫn đang tồn tại. Chẳng một
chút đắn đo khi khẳng định rằng vì là con của cha mẹ nên tôi thuộc về vương quốc của ánh sáng và công bằng. Nhưng trên mõ i bước
đường đời tôi đi, tôi lại nhạ n thức nhiều hơn về mọ t thé giới khá c. Tôi cũng sống trong lòng thế giới ấy, dù cho bản thân còn bao lạ lẫm, dù
cho phải chịu đựng đau đớn và khủng hoảng tinh thần. Đã có những lúc tôi thực sự muốn sống ở nơi cấm địa hoang tàn, nhưng vẫn có thể
tùy nghi trở lại thế giới có mẹ cha – một nơi chẳng đẹp như tôi muốn, tẻ ngắt và chán nản. Nhiều khi tôi đã chắc chắn rằng số mệnh của
mình là trở thành một người sáng suốt, kiên định, ngăn nắp và giỏi giang như cha mẹ. Nhưng mục tiêu ấy nghe thật xa vời, đạt được điều
đó đồng nghĩa với việc phải đến trường đầy đủ, phải học tập không ngừng, vượt qua nào những kiểm tra và thi cử. Và chính sự xa vời ấy đã
kéo tôi lại gần hơn với vương quốc tối tăm kia.

Thật dễ dàng để một người có thể trở thành một phần của thế giới ấy và rồi đắm chìm vào đó. Có những câu chuyện tôi từng đọc một cách
say mê, về những người con trót lầm đường lạc lối. Những câu chuyện ấy luôn miêu tả việc trở về nhà như một sự cứu rỗi, hay như thứ gì
đó thật phi thường; làm tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng việc trở về nhà là điều đúng đắn, tuyệt vời và đáng để truy cầu nhất. Cho dù vậy,
một câu chuyện chất đầy xấu xa và lạc lõng lại hấp dẫn hơn rất nhiều, đặc biệt là trong những thời điểm tôi không muốn “Đứa con hoang
đàng” [1] trong tim bỗng dưng hối cải quay đầu. Nhưng chẳng ai dám nghĩ về điều đó, càng không dám bàn tán nhỏ to. Thế giới tối tăm này
chỉ hiện hữu như một thứ điềm báo, một mầm mống nảy sinh thẳm sâu tận trong ý thức của một con người. Mỗi khi tôi hình dung về loài
quỷ dữ, thì hiện lên luôn là cảnh hắn đứng ở dưới phố, dù có ngụy trang hay phơi bày hình dáng thật, dù đang ở một hội chợ miền quê hay
trong quá bar ồn ã, thì cũng sẽ không bao giờ ở trong nhà với chúng tôi.
Những người chị của tôi cũng thuộc về vương quốc ánh sáng. Tôi luôn có cảm giác họ mang trên mình thứ ái lực tự nhiên hấp dẫn mẹ cha.
Họ hành xử tốt hơn, và mắc ít lỗi lầm hơn tôi rất nhiều. Tất nhiên vẫn có những khi các nàng mắc lỗi hay phải trải qua những giây phút
thăng trầm, nhưng những điều u uất ấy không ảnh hưởng sâu sắc đến họ như chúng đã làm tổn thương tôi. Vì tôi đây là kẻ gần gũi với bóng
đêm mờ mịt, mang trong mình thứ kết nối vô hình với ác quỷ, ngày càng ngột ngạt và đớn đau. Các chị xứng đáng được hưởng cuộc sống
an nhàn và được tôn trọng giống như cha mẹ. Nếu giữa chúng tôi nảy sinh bất hòa, sau tất cả tôi vẫn là kẻ phải tự sám hối, tự quở trách bản
thân và phải cầu xin sự tha thứ. Vì xúc phạm chị tôi là xúc phạm cha mẹ, là sỉ nhục những gì tốt đẹp cao quý. Vậy nên tôi thà sẻ chia những
bí mật của mình cho những kẻ lưu manh, còn hơn là kể cho chị gái mình. Vào những ngày bản ngã của tôi không kêu gào đòi giải thoát, tôi
có thể chơi với các chị một cách hồn nhiên và vui vẻ, mang trên mình những gì tốt đẹp và tao nhã, toát ra thứ ánh sáng cao quý giống như
các nàng. Tôi bộc lộ mọi thứ mà một thiên thần cần có, những phẩm chất tốt đẹp nhất mà một người có thể hình dung. Thế nhưng những
ngày tươi sáng ấy lại ít ỏi đến đau lòng. Mỗi khi vui đùa dù chỉ là những trò chơi vô hại, tôi cũng trở nên quá khích và ương ngạnh, những
điều này là quá sức đối với chị tôi. Rồi những cuộc cãi vã lại bức tôi vào vai một kẻ xấu xa chỉ biết nổi cơn thịnh nộ. Họ và tôi đều cùng một
lúc khiến trái tim đối phương khô cằn bằng những lời lẽ và việc làm cay độc. Và rồi sau đó lại là quãng thời gian hối lỗi và ăn năn đầy u ám
và khắc nghiệt, mang theo sự đau đớn tột cùng khi phải van cầu tha thứ. Cuối cùng sẽ lại kết thúc bằng những chùm sáng lấp lóa và sự hân
hoan bình yên trọn vẹn.

Tôi đi học ở một ngôi trường La-tinh. Hai cậu con trai của ngài thị trưởng và ông chủ của khu rừng học chung lớp với tôi và đôi khi họ cũng
đến thăm nhà. Dù cho cả hai đều ngỗ ngược, thì họ vẫn là những đứa con của cái thiện lương và mẫu mực. Thế nhưng không có nghĩa là tôi
không chơi cùng những cậu trai hàng xóm, những người học ở trường công mà chúng ta luôn khinh thường. Và một trong số họ, đã cùng
tôi bắt đầu câu chuyện đời mình.

Vào một ngày nghỉ nửa buổi, khi đang cùng hai cậu nhóc hàng xóm rong chơi khắp nẻo, con trai của gã thợ may – một thằng nhóc vạm vỡ
và cao lớn học trường công đã xin gia nhập. Bố cậu ta là kẻ nát rượu và cả nhà đều mang tiếng xấu. Tôi đã được nghe nhiều về Franz
Kromer, đã từng khiếp sợ cậu ta không hề lấy làm thích thú khi cậu ta bước tới. Bộ dạng chững chạc như kẻ trưởng thành và còn bắt chước
dáng đi của những người công nhân nhà máy. Dưới sự chỉ huy của Kromer, chúng tôi trèo xuống khu đất bên bờ sông và trốn dưới nhịp
đầu tiên của cây cầu vòm [2]. Dải đất hẹp giữa phần tường cong cong và dòng sông chảy trôi lười biếng bị lấp đầy bởi nào những thứ đồ bỏ
đi, những mảnh vỡ, những túi bọc dây thép và rác thải bị ném lộn xộn. Thỉnh thoảng ai đó có thể nhặt nhạnh được thứ gì hữu ích. Franz
Kromer bắt chúng tôi lùng sục cả khu đất và cho cậu ta xem chúng tôi đã tìm được gì. Sau đó cậu ta hoặc sẽ đút túi hoặc sẽ ném lại xuống
sông. Cậu ta bắt chúng tôi phải tìm những đồ vật làm từ chì, đồng thau và thiếc và rồi giấu hết chúng đi, thậm chí không chừa lại cả chiếc
lược sừng. Tôi cảm thấy rất khó chịu với sự hiện diện của cậu ta. Không phải bởi vì cha sẽ không cho phép, mà đơn giản chỉ là tôi sợ hãi
Franz dù cũng đã rất vui khi được cậu ta chấp nhận và đối xử như bao người khác. Cậu ta ra lệnh, chúng tôi vâng lời, tựa như một thói
quen cố hữu dù đây hoàn toàn là lần đầu tôi đi cùng cậu.

Khi chúng tôi vừa ngồi xuống được một lúc, Franz nhổ toẹt nước bọt xuống sông. Cậu ta khạc nhổ và đánh bất cứ thứ gì mình nhắm tới.
Một cuộc nói chuyện bắt đầu, những cậu trai bắt đầu khoe khoang và tự tán dương bản thân bằng những bài thơ ca tụng và mấy trò bịp
bợm. Tôi chỉ yên lặng nhưng cũng sợ rằng sự yên lặng của tôi sẽ khiến Kromer tức giận. Hai cậu bạn kia bắt đầu xa lánh tôi ngay khi Franz
Kromer nhập cuộc. Tôi thấy lạc lõng vô cùng và dường như bộ dạng cũng như quần áo của tôi chính là rào cản. Sẽ không đời nào có chuyện
Franz cũng như hai người kia có thể thực sự thích tôi – một đứa trẻ học trường tư, mà người ta vẫn nghĩ chúng sống đủ đầy và được cha
mẹ nuông chiều đến hư. Tôi cảm nhận được rằng mình chẳng mấy chốc sẽ bị ruồng rẫy và bỏ rơi.

Sau cùng, tôi cũng quyết tâm bỏ qua lo lắng mà bắt đầu kể chuyện. Tôi bịa ra một câu chuyện dài về một vụ trộm mà ở nơi đó tôi ngạo nghễ
như một vị anh hùng. Một đêm nọ trong khu vườn gần chiếc cối xay gió, tôi cùng đứa bạn đã ăn trộm một bao tải đầy táo. Những quả táo
đều là hàng thượng đẳng chứ chẳng phải thứ tầm thường. Chính nỗi sợ hãi đã khiến tôi phải tìm nơi ẩn náu trong câu chuyện, nơi tôi có
thể tự nhiên sáng tạo và ba hoa. Để khiến mọi thứ không rơi vào tĩnh lặng, hay thậm chí khiến tình hình trở nên tồi tệ, tôi đã phải dốc hết
khả năng kể chuyện của mình. Tôi tiếp tục kể, rằng một trong số chúng tôi đã phải đứng canh trong khi những người còn lại trèo lên cây và
rung cành cho táo rụng. Thế rồi chiếc bao quá nặng, đến nỗi chúng tôi phải bỏ lại nửa số táo để chuồn đi, và nửa tiếng sau quay lại để trộm
nốt số táo thừa.

Kết thúc câu chuyện, tôi ngóng chờ dấu hiệu của sự tán đồng. Chính tôi cũng đã trở nên hào hứng từ đầu đến cuối và tự cuốn bản thân
chìm vào tài bịa truyện của mình. Hai người kia chỉ chờ đợi mà chẳng mở lời, nhưng Franz Kromer thì lườm tôi sắc lẻm bằng cái cặp mắt
híp tịt rồi hằm hè dò hỏi:

“Truyện mày kể có thật không?”

“Là thật.” Tôi đáp.

“Thật sự là thật hả?”

“Phải, tất cả đều là thật.” Tôi cắn răng cứng đầu đáp lại dù bên trong đang không ngừng run rẩy.

“Mày dám thề không?” Tôi sợ đến co rúm lại nhưng vẫn nhất mực khăng khăng.

“Vậy mày hãy nói: Tôi thề có Chúa và các thánh thần.”

“Tôi thề có Chúa và các thánh thần.” Tôi lặp lại.

“Vậy được rồi.” Cậu ta đáp gọn lỏn rồi quay đi.
Tôi nghĩ có lẽ mọi chuyện giờ đã ổn, và cảm thấy nhẹ nhõm khi cậu ta đứng lên và trở về nhà. Sau khi trèo lại lên cầu, tôi dè dặt nói rằng
mình sẽ về nhà một mình.

“Mày làm gì mà phải vội thế.” Franz cười lanh lảnh. “Đằng nào chúng ta chẳng về chung đường.”

Rồi cậu ta cứ thong thả bước đi còn tôi thì chẳng dám bỏ chạy, vì cậu ta thực sự đang đi về hướng nhà mình. Khi cả lũ đến nơi, tôi ngẩng lên
nhìn cánh cửa, ngắm những tia nắng xuyên qua cửa sổ và chiếc rèm cửa phòng mẹ đong đưa, tôi thở phào nhẹ nhõm. Khi tôi cố gắng mở
cửa thật nhanh và lách vào, sẵn sàng đóng sầm cửa lại, thì Franz Kromer cũng cố len vào ngay sau tôi. Franz đứng sát cạnh tôi nơi hành
lang lát đá tối tăm, chỉ nhận được chút ánh sáng nhợt nhạt nơi cửa sổ nhìn ra sân sau, giữ chặt vai tôi và nhẹ nhàng hỏi:

“Sao mày cứ phải vội thế làm gì?”

Tôi khiếp sợ nhìn không chớp mắt còn cậu ta vẫn kẹp chặt tôi trong tay của mình. Tôi chợt nghĩ trong đầu lẽ nào cậu ta muốn đánh tôi. Tôi
cố gắng lựa chọn có nên hét loạn lên hay không, rồi sẽ có người nghe thấy và chạy xuống cứu tôi. Nhưng rồi tôi lại tự gạt đi.

“Sao nào, cậu muốn gì?” Tôi hỏi.

“Chẳng có gì, tao chỉ muốn hỏi riêng mày vài điều thôi. Hai thằng kia không cần phải nghe.”

“Ồ vậy sao? Tôi thì chẳng có gì để nói với cậu cả. Buông tôi ra, tôi phải lên nhà.”

Bằng thứ giọng nhẹ nhàng, Franz Kromer lại hỏi:

“Mày có biết chủ nhân khu vườn cạnh cối xay gió là ai không?”

“Tôi không rõ nữa, có lẽ là chủ của chiếc cối xay.”

Franz vòng tay qua người tôi và kéo tôi lại thật gần, ép tôi phải nhìn thẳng vào khuôn mặt cậu ta. Đôi mắt và cả nụ cười của cậu ta đều toát
lên cái vẻ thâm hiểm và độc ác, gương mặt thì được vẽ nên bởi sự hung tàn và sức mạnh.
“Tao có thể nói cho mày biết chính xác chủ nhân khu vườn là ai, tao mới hay tin gần đây nơi đó thường bị ai đó ăn trộm táo. Và người chủ
khu vườn nói ông ấy sẽ thưởng hai đồng mác [3] cho ai tìm ra thủ phạm.”

“Ôi Chúa ơi, cậu sẽ không làm vậy phải không?” Tôi la lên.

Tôi cảm thấy việc cầu xin lòng nhân đức của cậu ta lúc nãy cũng vô dụng. Tôi nhận thức được rằng tên này đến từ thế giới kia, nơi mà sự
phản bội không phải là tội lỗi. Những con người của thế giới đó không cùng quan điểm với chúng tôi về những chuyện thế này.

“Không định nói gì à? Này nhóc, mày nghĩ tao là ai? Mày nghĩ tao có cả núi tiền à? Tao nghèo, tao không có một ông bố giàu có như mày và
nếu tao có cơ hội kiếm được hai đồng, tao cũng bất chấp để có được. Mà có khi ông ấy còn thưởng thêm nữa.” Kromer cười.

Bỗng nhiên cậu ta buông tôi ra. Cái thứ mùi bình yên và an toàn nơi hành lang đã hoàn toàn biến mất, thế giới xung quanh tôi dần vỡ vụn.
Kromer sẽ giao tôi cho cảnh sát. Tôi sẽ trở thành tội phạm, người ta sẽ thông báo cho cha, hay có khi cảnh sát sẽ đến tận nhà. Tất cả những
sự khiếp sợ hỗn độn ấy đe dọa tôi, mọi thứ xấu xí và nguy hiểm cùng đoàn kết chống lại tôi. Dù rằng tôi có thề rằng tôi chẳng ăn cắp thì giờ
cũng chẳng còn nghĩa lý.

Nước mắt tôi ứa ra, tôi cảm thấy mình phải đưa ra một thỏa thuận, tôi tuyệt vọng móc hết túi quần và túi áo. Tôi nhận ra mình chẳng có gì
cả, dù chỉ là một quả táo, hay là một con dao. Tôi chợt nghĩ đến chiếc đồng hồ cũ bằng bạc của bà mà tôi vẫn đeo làm cảnh vì từ lâu nó đã
không còn chạy nữa. Tôi nhanh chóng tháo nó ra và nói với Kromer:

“Nghe này, làm ơn đừng tố cáo tôi. Như vậy thật chẳng công bằng. Tôi tặng cậu chiếc đồng hồ này như lễ vật cầu hòa nhé, này nhìn đi.
Ngoài ra tôi chẳng còn gì cả. Cậu lấy nó đi, nó được làm bằng bạc, tuy có chút vấn đề trong việc xem giờ nhưng cậu chỉ cần mang nó đi sửa
thôi.”

Cậu ta cười và săm soi chiếc đồng hồ trong tay. Nhìn vào bàn tay ấy, tôi chỉ thấy nó thật hung tợn và vô cùng đáng ghét, và tôi đau đớn
nhận ra những thứ đó đã chạm tới cuộc sống và sự yên bình của tôi như thế nào.

“Nó làm bằng bạc thật đấy.” Tôi lí nhí.

“Tao chẳng quan tâm cái thứ cổ lỗ sĩ này có bằng bạc hay không. Mày tự đem đi mà sửa.” Cậu ta nói một cách khinh bỉ.

“Nhưng mà Franz!” Tôi hét lên, run rẩy sợ rằng cậu ta sẽ đi mất.
“Xin cậu chờ đã. Tại sao cậu lại không nhận nó? Nó thực sự làm bằng bạc mà. Tôi cũng chẳng còn gì khác nữa.”

Cậu ta ném cho tôi một cái nhìn đầy khinh miệt và nói:

“Mày biết giờ tao sẽ đi gặp ai rồi đấy. Hoặc tao cũng có thể đi báo cảnh sát nữa. Tao khá thân với một tên hạ sĩ.”

Kromer quay lưng như thể chuẩn bị rời đi. Tôi nắm chặt ống tay áo của cậu ta. Tôi không thể để cậu ta đi được, tôi thà chết còn hơn phải
chịu đựng những thứ có thể xảy ra nếu bị tố cáo như vậy.

“Franz.” Tôi van nài bằng thứ giọng đã khản đặc. “xin cậu đừng làm chuyện dại dột như thế. Cậu chỉ đùa tôi thôi mà phải không?”

“Đúng, tao đang đùa đấy, nhưng mà đùa cũng dễ thành thật lắm.”

“Hãy nói tôi nghe cậu muốn tôi làm gì hả Franz, tôi sẽ làm mọi điều mà cậu muốn.”

Cậu ta lại dùng cái cặp mắt ti hí ấy nhìn tôi từ trên xuống dưới rồi lại phá lên cười.

“Mày đừng ngu ngốc thế. Mày cũng thừa biết rằng tao có thể kiếm ra hai đồng. Tao không giàu tới mức có thể vứt cơ hội đó đi. Nhưng mày
giàu mà phải không, mày còn có đồng hồ cơ mà? Mày chỉ cần đưa tao hai đồng, thế là xong chuyện.”

Tôi hiểu cách nghĩ của cậu ta. Nhưng hai đồng mác Đức, với tôi nó cũng khó kiếm như mười, như trăm, như ngàn đồng mác vậy. Tôi chẳng
có một cắc trong tay. Tôi có một cái ống tiết kiệm mà mẹ đang giữ, mỗi lần họ hang đến thăm họ đều thả vào đó năm mười cắc bạc. Đó là
tất cả những gì tôi có vì chẳng được cho tiền tiêu vặt.

“Tôi không có, tôi không có xu nào cả. Nhưng tôi có thể cho cậu tất cả những thứ khác mà tôi có. Tôi có một mô hình chú lính bằng thiếc, và
một cái la bàn. Chờ nhé, để tôi đi lấy chúng cho cậu.”

Cậu ta nhếch miệng lên khinh bỉ rồi nhổ nước bọt xuống sàn rồi đay nghiến:

“Mày cứ giữ lấy cái đống rác rưởi đó đi. Một cái la bàn ư? Đừng làm tao điên! Tao chỉ cần tiền!”
“Nhưng tôi không có, tôi chẳng bao giờ có, tôi làm sao có thể đưa cho cậu.”

“Được thôi, mày có thể đưa tao và ngày mai. Tao sẽ chờ mày ở gần khu chợ sau giờ học. Chấm hết. Nếu không mang đến, thì mày biết
chuyện gì sẽ xảy ra rồi đấy.”

“Nhưng tôi biết lấy tiền ở đâu nếu không có nổi một đồng bây giờ?”

“Nhà mày có một đống tiền. Tự lo đi. Ngày mai sau giờ học. Và tao nói cho mày biết, nếu mày không mang đến…”

Cậu ta ném cho tôi cái nhìn khinh miệt, nhổ nước bọt thêm một lần nữa, rồi đi mất.

Tôi thậm chí chẳng bước nổi lên cầu thang. Cuộc đời tôi từ nay hoàn toàn sụp đổ. Tôi đã nghĩ đến chuyện bỏ chạy thật xa và không bao giờ
quay lại nữa, hoặc cả đến việc nhảy sông tự sát. Tuy nhiên tôi chẳng thể tưởng tượng ra bất kỳ cách thức nào một cách rõ ràng. Trong bóng
tối, tôi rúc mình nơi cuối cầu thang, với mọi sự ngổn ngang trong đầu, và đắm mình vào khốn khổ. Lina tìm thấy tôi nức nở khi nàng mang
giỏ xuống nhà để lấy củi khô. Tôi xin nàng đừng hỏi gì cả rồi đi lên lầu. Những thứ thân thuộc như chiếc mũ của cha, chiếc dù của mẹ treo
bên phải cánh cửa thủy tinh mang cho tôi cảm giác được trở về nhà đầy thanh thản. Con tim tôi chân thành đón chào cảm giác ấy, như
“người con hoang đàng” kia hân hoan trước khung cảnh và mùi hương tỏa ra từ những căn phòng thân thuộc. Nhưng tôi đã mất tất cả rồi,
những thứ đó thuộc về cái thế giới đầy ánh sáng của cha mẹ. Còn tôi thì chìm sâu trong một thế giới xa lạ, cuốn mình vào đầy rẫy những
liều lĩnh và tội lỗi, bị đe dọa bởi kẻ thù, hiểm nguy, bởi sợ hãi và hổ thẹn. Từ chiếc mũ và cây dù, sàn nhà lát đá cát kết [4] tôi vẫn yêu, đến
bức tranh to phía trên tủ đựng đồ, thậm chí cả giọng nói của người chị cả vọng ra từ phòng khách, tất cả đều trở nên cảm động, quý giá và
ngọt ngào hơn hơn bao giờ hết, nhưng giờ lại chẳng còn là nơi cho tôi nương tựa và dựa vào.

Những điều thân thương ấy đã trở thành một lời nhiếc móc quá đỗi hiển nhiên. Tôi giờ chẳng còn gì, cũng sẽ chẳng bao giờ có thể hòa
mình vào sự hân hoan yên bình đó. Chân tôi lấm lem đầy bùn đất, và tôi chẳng thể lau sạch những vết dơ trên tấm thảm. Bất kể tôi đi đâu,
thứ bóng tối mà thế giới ngập tràn ánh sáng của gia đình tôi không bao giờ biết tới, luôn bám theo sát gót. Bao nhiêu điều bí mật tôi từng
có, bao nhiêu lần tôi từng lo, tất cả chỉ là trò trẻ con so với cái thứ hôm nay đã theo tôi về nhà. Tôi bị vận đen nhắm đến và đeo bám, và
thậm chí cả mẹ cũng chẳng thể bảo vệ tôi vì bà còn không được phép biết về nó. Dù tội của tôi là ăn trộm hay nói dối – (chẳng phải tôi đã cả
gan làm ra một điều đáng sợ là nói dối Chúa hay sao?) , thì giờ cũng chẳng còn quan trọng. Tội ác tôi gây ra không cụ thể là cái này hay cái
kia, nhưng nó bao gồm việc tôi đã bắt tay với quỷ dữ. Tại sao tôi lại chơi với cậu ta? Tại sao tôi lại phải thuần phục Kromer hơn cả khi nghe
lời cha dạy? Tại sao tôi lại bịa ra câu chuyện đó, tự đeo thòng lọng cho chính mình như thể đó là một hành động anh hùng lắm vậy? Nanh
vuốt của quỷ dữ giữ chặt lấy tôi, kẻ thù rình rập phía sau tôi.
Hiện tại tôi chẳng còn quá sợ hãi về điều gì sẽ xảy đến ngày mai, vì tôi chắc chắn rằng con đường tôi đi từ nay sẽ ngày càng tăm tối. Tôi linh
cảm được những tội lỗi mới chắc chắn sẽ nảy sinh từ sai lầm hôm nay, rằng sự hiện diện của tôi giữa các chị – những đứa con vẫn thường
chào hỏi và ôm hôn mẹ cha, là một sự giả dối. Và tôi nhận thức rõ ràng được mình đang nuôi nấng một sự dối trá được giấu kín sâu thẳm
trong tim.

Trong khoảnh khắc, khi nhìn vào chiếc mũ của cha, tôi cảm thấy tự tin và hy vọng lại le lói bập bùng. Tôi sẽ nói với cha tất cả, sẽ chấp nhận
mọi sự trừng phạt từ ông. Cha sẽ trở thành người để tôi xưng tội, và trở thành cứu tinh của tôi. Mọi thứ sẽ chỉ giống như một trong những
lần tôi ăn năn hối lỗi, một giờ đầy cay đắng, và một lời thỉnh cầu tha thứ buồn đau.

Điều đó nghe mới thật cám dỗ và ngọt ngào làm sao. Nhưng chẳng có tác dụng gì hết, vì tôi biết mình sẽ không làm thế. Tôi biết giờ mình
đang mang một bí mật, mội lỗi lầm mà tôi phải tự mình chuộc tội. Có lẽ tôi đang đứng nơi ngã ba đường, hay có chăng tôi đã mãi mãi đứng
trong hàng ngũ những kẻ xấu xa, cùng sẻ chia bí mật cùng họ, phụ thuộc vào họ, phục tùng họ và trở thành một trong số họ. Tôi đã tỏ ra
mình là anh hùng, và giờ thì tôi phải gánh lấy hậu quả.

Tôi đã mừng rúm khi cha mắng tôi vì đã để đôi giày lấm bùn. Nó đã đánh lạc hướng sự chú ý của cha ra khỏi cái chuyện động trời ấy và đặt
tôi vào tâm thế hứng chịu những lời nhiếc móc mà tôi có thể bí mật đổ lên một lỗi lầm khác, một sai phạm còn nghiêm trọng hơn. Một cảm
giác mới mẻ và lạ lẫm chợt lướt qua đầu tôi: Tôi cảm thấy mình còn tuyệt vời hơn cả cha. Trong khoảnh khắc tôi kinh tởm sự ngu dốt của
ông. Đáng thương hại biết bao khi ông chỉ nhằm vào đôi giày đầy bùn đất mà quở trách. Cái suy nghĩ “Nếu cha mà biết…” lướt qua khi tôi
đứng đó như một kẻ tội đồ đang bị tra khảo vì một ổ bánh mì đi trộm, trong khi những gì hắn thực sự gây ra là một vụ giết người. Đó là
một cảm giác ghê tởm nhưng nó cũng mạnh mẽ đầy hấp dẫn. Thứ cảm xúc đó, mang theo bí mật và tội lỗi, trói buộc tôi còn chặt hơn bất cứ
thứ gì. Tôi đoán giờ có lẽ Kromer đã đi vạch mặt tôi với cảnh sát, suy nghĩ ấy như sấm chớp bão bùng kéo đến trên đầu tôi. Vậy mà trong
khi ấy, cha mẹ vẫn tiếp tục đối xử với tôi như với một đứa trẻ con ngu dại.

Giờ là thời khắc trọng đại bền vững nhất trong tất cả mọi điều tôi đã kinh qua. Đó là vết rạn đầu tiên về hình ảnh thần thánh của cha, đó là
kẽ nứt của cây cột trụ chống cả tuổi thơ, chính là thứ mà mỗi chúng ta cần phá hủy để được là chính mình. Nội tại, hay chính là ranh giới
quan trọng của số mệnh, luôn hàm chứa trong đó những trải nghiệm vô hình. Những khe hở, những rãnh nứt lại một lần nữa lớn dần, rồi
lại chữa lành và sẽ lại bị lãng quên, nhưng tại những nơi bí mật sâu thẳm nhất, những vết thương vẫn hiện hữu và không ngừng rỉ máu.

Ngay lập tức tôi cảm nhận được sự đáng sợ của thứ suy nghĩ này, đến mức tôi có thể quỳ xuống và hôn lấy bàn chân của cha hòng đổi lấy
sự tha thứ. Nhưng một người không thể xin lỗi vì một thứ quá giản đơn, và một đứa trẻ có thể nhận thức về điều đó sâu sắc như bất kỳ nhà
hiền triết nào.
Tôi cần phải suy nghĩ kỹ về vấn đề của mình, tự ngẫm về những việc tôi phải làm ngày mai. Nhưng thời gian chẳng cho tôi làm điều đó. Tối
nào tôi cũng quá bận để cố làm quen với mọi sự đổi thay trong phòng khách. Đồng hồ treo tường và chiếc bàn thấp bé, Thánh Kinh và tấm
gương, giá sách và những bức tranh trên tường, tất cả đều đã bỏ tôi ở lại. Với sự lạnh lẽo tê tái trong tim, tôi buộc phải chứng kiến thế giới
của tôi, cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, tự do của tôi, đang xa dần và trở thành một phần của quá khứ. Tôi buộc bản thân thừa nhận rằng
mình đã nhanh chóng bị thế giới ngoài kia, một nơi đầy tối tăm và lạ lẫm, trói buộc. Lần đầu tiên trong cuộc đời tôi cảm nhận được mùi vị
của cái chết. Cái chết có vị đắng cay và chua chát, vì cái chết là nỗi sợ dai dẳng và là sự lo âu về một cuộc tái sinh khủng khiếp.

Tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng có thể đặt lưng lên chiếc giường thân thuộc. Trước đó tôi đã phải chịu đựng những lời cầu
nguyện và khúc thánh ca tôi đã từng rất thích. Tôi cảm thấy không thể nào hòa nhập, từng nốt nhạc không ngừng cào xé ruột gan . Khi cha
ngâm nga lời cầu nguyện và kết thúc với câu “Chúa sẽ luôn ở bên ta!”, có gì đó đã vỡ nát trong tim tôi, tôi đã vĩnh viễn bị đẩy ra ngoài vòng
cầu nguyện thân thương ấy. Hồng ân của đức Chúa luôn ở bên họ, chứ chẳng ở còn bên tôi. Tôi bỏ đi, lạnh lẽo và hoàn toàn kiệt quệ.

Nằm trên giường một lúc, cuộn tròn trong hơi ấm và cảm giác an toàn nó mang lại, tôi lại một lần nữa sợ hãi và đắm mình vào sự mơ hồ và
lo âu về những gì đã thuộc về quá khứ. Mẹ tôi luôn chúc ngủ ngon trước khi đi ngủ. Tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng bước chân mẹ vang vọng
khắp nơi, ánh nến lập lòe vẫn hắt qua khe cửa. Tôi nghĩ giờ mẹ sẽ quay lại một lần nữa, mẹ cảm thấy có gì đó lạ, mẹ sẽ hôn tôi và hỏi han tôi
nhẹ nhàng bằng những lời đáng tin. Rồi tôi sẽ khóc, cục nghẹn nơi cổ họng sẽ hoàn toàn tan biến, tôi sẽ choàng tay ra mà ôm lấy mẹ, và mọi
chuyện rồi sẽ ổn thôi, vì tôi sẽ được cứu rỗi. Dù cho khe cửa sau đó bị bóng tối nuốt chửng, tôi vẫn tiếp tục lắng nghe và chắc chắn điều đó
sẽ xảy ra.

Rồi tôi trở về với những ngổn ngang chất đống và nhìn thẳng vào phía kẻ thù. Tôi thấy cậu ta một cách rõ ràng, với đôi mày nhíu lại, miệng
kéo ra một nụ cười độc ác. Khi tôi nhìn cậu ta, tôi lại càng không thể phủ nhận rằng cậu ra càng lớn càng xấu xí cùng đôi mắt nhuốm màu
ma quỷ. Cậu ta vẫn đứng đó cho tới khi tôi chìm vào giấc ngủ, nhưng tôi chẳng hề mơ thấy cậu ta hay tất cả những gì xảy ra ngày hôm đó.
Tôi mơ về cha mẹ và các chị, khi mình đang nghỉ ngơi trên con thuyền nhỏ chơi vơi, được sự bình yên và ánh sáng chói lòa ôm lấy vẹn tròn.
Tôi bật dậy giữa đêm cùng chút dư vị của niềm hạnh phúc, và vẫn nhìn thấy chiếc váy mùa hè mang sắc trắng thuần trong của chị tôi tỏa
sáng lung linh đón ánh mặt trời. Rồi tôi rơi khỏi cõi mộng mơ và trở về thực tại, một lần nữa đối mặt với kẻ thù, và ánh mắt đầy hung bạo.

Sáng hôm sau, khi mẹ chạy vào phòng và quở trách rằng muộn rồi mà sao tôi vẫn nằm trên giường, tôi thấy trong người rất khó chịu. Khi
mẹ hỏi có chuyện gì sao con, tôi đã nôn.

Như thế này có lẽ lại hay. Tôi thích bị ốm nhẹ, được phép nằm trên giường cả buổi, nhâm nhi tách trà hoa cúc, lắng nghe âm thanh mẹ tôi
dọn phòng hay Lina đang cãi nhau với mụ bán thịt ngoài hành lang tầng dưới. Cả buổi sáng không phải đến trường nghe mới hấp dẫn làm
sao, tựa như một câu chuyện cổ tích tôi vẫn mơ về. Ánh nắng dạo chơi nơi phòng tôi khác xa thứ ánh sáng gay gắt bị chặn lại mỗi khi
những tấm màn xanh ở trường hạ xuống. Nhưng hôm nay, cái cảm giác ấy lại không khiến tôi dễ chịu chút nào, bởi một điều gì đó không
đúng vẫn đang hiện hữu.
Ước chăng tôi có thể chết đi. Nhưng vẫn như những lần khác, tôi chỉ có chút không khỏe và điều đó thì chẳng tác dụng gì. Ốm đau giúp tôi
cúp học nhưng không thể bảo vệ tôi khỏi sự thật rằng Franz Kromer sẽ đứng chờ lấy tiền lúc mười một giờ ở khu chợ. Và sự quan tâm của
mẹ thay vì làm tôi thoải mái lại khiến tôi cảm thấy thật phiền. Tôi diễn một màn buồn ngủ để có thể một mình suy tư, nhưng chẳng thể tìm
ra cách giải quyết nào thỏa đáng. Mười một giờ tôi phải ở chợ, vì thế khi đồng hồ điểm mười giờ, tôi lặng lẽ thay đồ và nói với mẹ rằng
mình đã cảm thấy khá hơn. Và lần nào cũng thế, mẹ đều quả quyết: một là quay ngay về giường, hai là chiều nay liệu mà đến trường. Tôi
nói mình rất vui nếu được trở lại trường, vì trong đầu tôi đã có kế hoạch. Tôi không thể cứ đi tay không đến gặp Kromer, tôi phải lấy được
ống tiết kiệm dù biết rằng trong đó cũng chẳng có nhiều nhặn gì. Nhưng có còn hơn không, mong sao ít nhất Kromer có thể phần nào nhân
nhượng.

Xỏ chân vào chiếc tất mềm mại, tôi rón rén từng bước tội lỗi vào phòng mẹ và trộm cái ống tiết kiệm trên bàn. Hành động này chẳng tệ
bằng một nửa những gì xảy ra hôm qua với Kromer. Tim tôi đập nhanh đến mức tưởng như thắt lại. Tôi vẫn chưa thể thở phào khi đi
xuống cầu thang và phát hiện ra ống tiền bị khóa. Việc mở khóa đơn thuần chỉ là giật mạnh miếng thiếc. Nhưng đau đớn thay giây phút cái
móc khóa bật mở, tôi đã thực sự biến thành kẻ trộm. Trước tới giờ tôi mới chỉ trộm vài miếng đường hay hoa quả, nhưng lần này thì
nghiêm trọng hơn rất nhiều, dù cho hiện tại tôi đang trộm chính tiền của tôi. Tôi cảm nhận được mình đang tiền một bước gần hơn tới
Kromer và cái thế giới cậu ta thuộc về, cảm nhận được mọi thứ tốt đẹp đang trượt dốc. Tôi bắt đầu trở nên ngoan cố, khôn ngoan thì sống,
dại dột thì chết. Tôi không quay đầu được nữa. Tôi chỉ có thể bắt đầu đếm tiền trong lo sợ. Âm thanh leng keng trong ống tiết kiệm cho tôi
cảm giác có rất nhiều tiền, nhưng dốc ra chỉ vỏn vẹn có sáu mươi lăm pen-níc [5] . Tôi giấu chiếc hộp ở tầng trệt, siết chặt từng đồng trong
tay và ra khỏi nhà. Chưa một lần nào bước qua cánh cửa đó mà tôi lại mang theo thứ cảm xúc khác lạ đến thế. Tôi nghe ai đó gọi mình từ
trên lầu, nhưng tôi vẫn nhanh chóng rời đi.

Vẫn còn khá nhiều thời gian. Đi qua con đường quanh co, dưới vòm trời u ám tôi chưa một lần nhìn rõ, qua những ngôi nhà và những kẻ
nhìn tôi đầy nghi hoặc, tôi lẩn mình vào trong những con ngõ nhỏ. Tôi chợt nhớ ra có một người bạn cùng trường đã từng nhặt được một
đồng thaler [6] ở trong chợ gia súc. Tôi đã có thể quỳ xuống và xin Chúa hãy ban xuống một phép màu để tôi nhận được may mắn như vậy,
nhưng tôi hiện tại chẳng có tư cách để ước vọng điều gì. Vì thế mong ước chiếc hộp nguyện cầu được vẹn toàn trở lại sẽ cần đến một phép
màu thứ hai.

Franz Kromer đã thấy tôi từ đằng xa, cậu ta tiến lại một cách chậm rãi và dường như lờ tôi đi. Nhưng khi đến gần, cậu ta bắt đầu hống hách
ra hiệu cho tôi đi theo. Chúng tôi lững thững đi dọc theo ngõ Stroh, qua cây cầu đi bộ, cậu ta không quay lại nhìn tôi một lần nào cho đến
khi dừng lại trước một tòa nhà ở ngoại ô. Chẳng có ai làm việc ở nơi này, những bức tường trơ trụi, không có cửa sổ hay cửa ra vào.
Kromer nhìn quanh rồi đi vào. Tôi theo cậu ta đến phía sau bức tường, nhìn cậu ta ra hiệu rồi xòe tay ra.

“Mày có mang tiền không?” Cậu ta lạnh lùng.


Tôi đưa bàn tay vẫn đang nắm chặt ra khỏi túi và thả toàn bộ số tiền vào lòng bàn tay cậu ta. Kromer đã đếm được hết số tiền trước cả khi
đồng pen-níc cuối cùng rơi xuống.

“Chỉ có sáu mươi lăm pen-níc.” Cậu ta nhìn tôi và nói.

“Phải, đó là tất cả những gì tôi có. Tôi biết là không đủ, nhưng thực sự chỉ có nhiêu đó.” Tôi lo lắng trả lời.

“Tao đã nghĩ mày phải thông minh hơn cơ.” Cậu ta trách móc nhẹ nhàng. “Vì danh dự mày phải làm đúng chứ. Tao không muốn lấy cái gì
của mày nếu nó không đủ số lượng. Cầm tiền về đi. Người mà mày cũng biết là ai ấy, ông ấy không có ý định giảm tiền thưởng đâu, mà còn
trả thêm nữa kìa.”

“Nhưng tôi thực sự không còn đồng nào nữa cả. Đây là toàn bộ tiền tiết kiệm tôi có.”

“Đấy là việc của mày. Nhưng tao không muốn làm mày buồn đâu. Mày nợ tao một mác ba mươi lăm pen-níc. Khi nào mày định trả?”

“Cậu chắc chắn sẽ có đủ mà Kromer, tôi chỉ không chắc là khi nào, nhưng có lẽ tôi sẽ có thêm chút ít vào ngày mai hoặc ngày kia. Cậu biết
mà, tôi không thể hé răng nửa lời với cha về chuyện này.”

“Tao không quan tâm. Mày thừa biết nếu tao muốn, thì tiền lẽ ra đã về tay tao trước buổi trưa rồi, và cái nữa là tao nghèo. Mày mặc quần
áo đắt tiền, và được ăn ngon hơn tao. Nhưng tao sẽ không nói gì cả, tao có thể chờ. Ngày kia tao sẽ huýt sáo gọi mày, mày biết tiếng huýt
sáo của tao như thế nào rồi nhỉ.”

Tôi biết, trước đây tôi đã nghe âm thanh này.

“Tôi biết rồi.” Tôi nói.

Cậu ta bỏ đi như thể trước giờ chưa quen biết gì tôi. Quan hệ của chúng tôi chẳng có gì hơn ngoài cái giao dịch này.

Tôi nghĩ tiếng huýt sáo của Kromer sẽ dọa tôi sợ chết khiếp ngay hôm nay nếu như bất tình lình tôi nghe thấy nó. Từ giờ tôi sẽ phải nghe
thứ âm thanh đó lặp lại, cảm giác như tôi đã nghe nó suốt thời gian qua. Không có nơi nào, trò chơi, hoạt động hay suy nghĩ nào mà tiếng
huýt sáo của cậu ta không văng vẳng. Âm thanh đó biến tôi thành nô lệ của cậu ta, tưởng chừng như số mệnh định tôi phải vậy. Tôi vẫn
thường đến một vườn hoa nhỏ, nơi mang cho tôi sự bình yên trong những buổi chiều thu nhuộm đầy màu hoa cỏ. Một cảm giác kỳ lạ thôi
thúc tôi chơi lại những trò chơi trẻ con thuở thiếu thời, trở thành một ai trẻ hơn tôi thật sự, một người tốt đẹp và tự do, vô tư và an toàn.
Nhưng giữa lúc tôi đắm chìm trong chốn thiên đường ấy –từ nơi nào đó, tiếng huýt sáo của Kromer vọng lại, phá hủy cuộc vui và nghiền
nát ảo tưởng của tôi. Rồi tôi cũng phải rời bỏ khu vườn để đi theo kẻ hành hạ tôi đến những nơi xấu xí và tệ hại. Ở nơi đó, tôi phải đưa hắn
số tiền ít ỏi đáng thương của mình và ép bản thân phải trả đủ. Toàn bộ sự việc có lẽ kéo dài vài tuần vậy mà tôi tưởng chừng như đã trải
qua đến mấy năm hay phải chăng là suốt thuở. Tôi hiếm khi có tiền, nhiều nhất chỉ là năm hay mười pen-níc trộm từ bàn bếp khi Lina
quăng cái giỏ đi chợ lăn lóc. Kromer ngày càng khinh miệt tôi mắng nhiếc tôi mỗi lần, rằng tôi đã lừa cậu ta, cướp đi những thứ đáng ra
thuộc về cậu ta, ăn trộm của cậu ta, khiến cậu ta trở nên khốn khổ. Chưa bao giờ trong cuộc đời tôi lại cảm thấy đau đớn, tuyệt vọng như
một tên nô lệ đến thế.

Tôi để vào ống tiết kiệm mấy đồng bạc đồ chơi và đặt nó trở lại bàn của mẹ tôi. Chẳng ai hỏi đến số tiền ấy, nhưng cảm giác rằng mọi người
có thể sẽ hỏi lúc nào cũng thường trực trong tôi. Điều làm tôi sợ hãi còn hơn cả tiếng huýt sáo hung dữ của Kromer lúc này đây chính là
tiếng bước chân ngày một gần của mẹ, phải chăng mẹ tới để tra hỏi tôi về cái ống tiết kiệm đó?

Vì tôi đã đi tay không đến gặp kẻ hành hạ mình suốt thời gian qua quá nhiều lần, cậu ta bắt đầu tìm đủ cách để quấy phá và lợi dụng tôi. Tôi
phải làm mọi việc theo lệnh của cậu ta, kể cả những việt lặt vặt bố cậu ta sai làm. Có khi cậu ta lại yêu cầu tôi phải làm những trò khó nhằn
như nhảy lò cò một chân trong mười phút, dán giấy vào sau lưng người qua đường. Bao đêm trong những giấc mơ tôi đã tự thêm thắt đủ
thứ vào những màn tra tấn ấy và nằm ngập trong vũng mồ hôi vì những giấc mộng đêm khuya.

Có những khi tôi thực sự ốm nặng. Tôi nôn mửa liên tục, được vài lần hạ sốt thì đến đêm cơ thể lại nóng ran và đẫm mồ hôi. Mẹ tôi nhận ra
có điều không ổn và không ngừng túc trực quan tâm. Nhưng điều đó chỉ tra tấn tôi đau gấp bội vì tôi chẳng thể đáp lời rồi phó thác tất thảy
cho bà.

Vào một đêm sau khi tôi đã chìm vào mộng mị, mẹ mang cho tôi một thanh sô-cô-la, gợi nhớ cho tôi về những ngày xưa cũ, mỗi khi ngoan
ngoãn sẽ được nhận quà. Giờ mẹ đứng đó và đưa tôi thanh kẹo ngọt ngào, ánh nhìn bi thương đến mức tôi chỉ có thể im lặng lắc đầu. Khẽ
khàng vuốt tóc tôi và hỏi chuyện, nhưng tôi chỉ có thể trả lời:

“Không! Con giờ không muốn ăn gì cả.”

Mẹ lặng lẽ để thanh sô-cô-la lên bàn và rời đi. Sáng hôm sau, khi mẹ hỏi về lý do tôi hành xử kỳ lạ trong đêm trước đó, tôi chỉ có thể vờ như
mình đã quên hết mọi chuyện. Có lần mẹ đưa tôi đi kiểm tra, bác sỹ đã khám và dặn tôi tắm nước lạnh vào buổi sáng. Khi ấy tình trạng tôi
tồi tệ đến điên rồ. Giữa sự bình yên trật tự trong nhà, tôi lại sống đầy hổ thẹn, đau đớn như một bóng ma. Tôi không can dự vào cuộc sống
của người khác nữa, tôi gần như đã quên mất chính bản thân trong một thời khắc nào đó. Còn với cha, người vẫn thường cáu kỉnh và hỏi
tôi có chuyện gì, tôi đã trở nên hoàn toàn lạnh nhạt.

Chương 2 – Cain

Sự cứu rỗi linh hồn tôi khởi nguồn từ một nơi tôi chẳng hề ngờ đến, cùng lúc mang một nhân tố mới vào cuộc đời tôi và chi phối nó đến tận
hôm nay.

Có một học sinh chuyển trường, anh ta là con trai của một góa phụ giàu có mới dọn đến thị trấn. Anh ta đeo băng tang trên tay áo, vì lớn
hơn tôi vài tuổi nên được nhận vào lớp của khối trên. Dù vậy anh ta vẫn khiến cho tôi, hay bất kỳ người nào khác, không thể không chú ý.
Vị học sinh kỳ lạ này mang lại cảm giác chín chắn hơn nhiều so với tuổi thật, chính xác thì chẳng có chút nào giống với một cậu trai. Trái
ngược với chúng tôi, anh ta mang trên mình sự xa cách và trưởng thành, giống như một người đàn ông, hay đúng hơn là một quý n gài lịch
lãm. Anh ta không được lòng mọi người cho lắm, chẳng chơi cùng chúng tôi những trò chơi con trẻ, cũng chẳng bao giờ nô đùa ầm ĩ cùng
bạn bè. Chỉ duy có chất giọng mạnh mẽ đầy tự tin khi trả lời giáo viên mới khiến đám học sinh nhìn anh ta bằng ánh mắt ngập đ ầy ngưỡng
mộ. Anh ta tên là Max Demian.

Một ngày như thường lệ, chúng tôi phải học ghép với một lớp khác vì một vài lý do, và đó là lớp của Demian. Lớp ít tuổi hơn bọn tôi học về
Kinh thánh, còn lớp lớn phải viết tiểu luận. Khi giáo viên cứ nhắc đi nhắc lại về câu chuyện của Cain và Abel, tôi lại không thể ngăn bản
thân nhìn Demian thật kỹ. Khuôn mặt anh ta mang theo sự mê hoặc kỳ lạ, tôi nhìn thấy được sự thông minh, sáng láng và nét cương nghị
toát ra khi anh ta chăm chú tập trung vào việc của mình. Trông anh ta chẳng chút nào giống một học sinh đang làm bài tập mà giống một
nhà khoa học đang mải mê với nghiên cứu của riêng mình. Ấn tượng của tôi về anh ta không tốt lắm, ngược lại, tôi còn có chút không thích.
Demian là người quá siêu việt và độc lập, hành động cử chỉ lại tràn đầy vẻ tự tin khiêu khích, và ánh mắt đượm buồn, thoáng nhuốm vẻ
châm biếm của những kẻ trưởng thành – ánh mắt mà không một đứa trẻ con nào thấy thích. Nhưng tôi không thể ngăn bản thân mình dõi
theo anh ấy, dù cho tôi có yêu thích hay căm ghét, mỗi khi anh ta liếc về phía tôi, tôi chỉ có thể hoảng loạn đảo mắt qua hướng khác. Mỗi khi
tôi hồi tưởng lại ngày hôm ấy, và bộ dáng của Demian dưới danh một học sinh, tôi chỉ có thể nói rằng, hoàn toàn khác với tất cả những
người còn lại, anh ấy trọn vẹn là chính mình. Anh ta nổi bật bằng cá tính riêng biệt dù bản thân đã cố gắng che giấu nó, điệu bộ và tác
phong tựa như vị hoàng tử cải trang giữa đám nông dân tầm thường, phải chịu đựng đủ điều để hòa mình vào đám đông.
Anh ta đi sau tôi trên đường từ trường về nhà, và khi những người khác tản dần về hướng khác, anh ta đi lên bắt kịp tôi và nói xin chào.
Ngay cả cách chào của anh ta cũng rất người lớn và lịch sự dù cậu ta đã cố bắt chước giọng điệu của mấy thằng nhóc ở trường.

“Tôi có thể đi cùng cậu một đoạn không?” Anh ta hỏi.

Tôi cảm thấy có chút được tâng bốc và lặng lẽ gật đầu. Rồi tôi kể cho anh ta về nơi tôi sống.

“Ồ ở đó sao, tôi biết ngôi nhà đó. Phía trên cái cánh cửa có gì đó rất lạ, tôi đã bị thu hút ngay lần đầu thấy nhìn thấy.” Anh ta mỉm cười.

Ban đầu tôi không hiểu ý anh ta, tôi chỉ rất bất ngờ rằng anh ấy biết về ngôi nhà tôi sống còn rõ hơn cả chủ nhân của nó. Viên đá đỉnh
vòm [7] phía trên cửa ra vào là một bức phù điêu, nhưng nó đã bị thời gian mài mòn và thường được sơn phủ lại. Theo những gì tôi biết, thứ
đó hoàn toàn chẳng ảnh hưởng gì đến gia đình tôi.

“Tôi chẳng biết gì cả. Chắc là một con chim hay cái gì cũ kĩ tương tự thế. Trước đây ngôi nhà là một phần của tu viện.” Tôi trả lời ngượng
nghịu.

“Có thể lắm. Thỉnh thoảng cậu nên xem qua chút, mấy phiến đá như thế này thú vị lắm. Tôi nghĩ đã từng có một con diều hâu ở đây.”

Chúng tôi tiếp tục rảo bước và tôi cảm thấy có chút nghi hoặc. Bỗng nhiên Demian phá lên cười như đụng phải thứ gì hay ho lắm vậy.

“Đúng rồi, hôm nay tiết học chung của lớp tôi và cậu,” anh ta vẫn không ngừng cười, “Câu chuyện về Cain và dấu ấn tội lỗi của anh ta [8] ấy.
Cậu có thích nó không?

Không. Cái đó không giống với bất kỳ thứ gì tôi được học trước đây. Nhưng tôi không dám nói ra, có cảm giác bản thân đang bị một người
lớn tra hỏi vậy. Vì thế tôi nói rằng mình chẳng quan tâm đến câu chuyện đó.

Demian vỗ vai tôi và nói:

“Cậu không cần phải vờ vịt với tôi. Thực sự thì câu chuyện đó rất đặc biệt. Nó xuất sắc hơn phần lớn những thứ chúng ta được dạy ở
trường. Thầy giáo không phân tích sâu về nó, chỉ đề cập đến mấy thứ bình thường như Chúa trời, tội lỗi đại loại thế. Nhưng tôi tin –” Anh ta
ngừng lại một chút rồi mỉm cười nhìn tôi và hỏi: “Nó có làm cậu thấy hứng thú không?” rồi tiếp tục, “Tôi nghĩ người ta còn có thể giải thích
câu chuyện về Cain bằng một cách khác nữa. Chắc chắn phần lớn những thứ ta được dạy đều đúng, nhưng hẳn sẽ có người nhìn nhận
những điều đó từ một góc nhìn khác biệt hoàn toàn so với giáo viên, và lần nào thì phần kiến thức ấy cũng được làm rõ nghĩa và có lý hơn.
Tỉ dụ như có người sẽ không thể thỏa mãn với cách giải thích về Cain và cái dấu tội lỗi đó. Cậu biết mà, việc một ai đó giết em trai của mình
bằng một phiến đá, sau đó lại hoảng sợ và hối cải hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng việc anh ta được ban thưởng một chiếc “huân chương”
cho sự yếu đuối của mình – một cái dấu bảo vệ anh ta và khiến cho tất cả mọi người kính sợ quyền năng của Chúa – thì rất kỳ lạ đúng
không?”

“Phải đấy,” Tôi hào hứng trả lời, suy nghĩ của anh ta bắt đầu cuốn hút tôi. “Nhưng cách hiểu khác về câu chuyện này có thể là gì?”

Demian lại vỗ vai tôi và nói:

“Đơn giản mà, yếu tố đầu tiên khởi nguồn cho mọi thứ trong truyện là cái dấu ấn đó. Chúng ta thấy một kẻ mang trên mặt thứ dấu ấn dọa
người. Anh ta và cả những đứa con của anh ta đều khiến người ta sợ hãi mà chẳng dám chạm vào. Có thể đoán, không, có thể chắc chắn
rằng cái dấu ấn đó không đơn giản như một cái dấu nhật ấn [9], cuộc sống có bao giờ đơn giản và dễ dàng đến vậy đâu. Có lẽ với mọi người,
anh ta có mang vẻ độc ác nhàn nhạt, có chăng là chút gì đó thông tuệ và dũng cảm hơn người. Người đàn ông này mang đầy quyền năng,
người ta chỉ tiếp cận anh ta bằng nỗi kinh sợ tột cùng. Anh ta mang trên mình một ¨dấu hiệu¨. Cậu muốn giải thích điều đó thế nào không
quan trọng. Người ta thì chỉ muốn mọi chuyện xuôi theo ý nghĩ của họ. Họ sợ hãi những đứa con của Cain, vì chúng sinh ra đã mang trên
mình “dấu hiệu” đó. Ý nghĩa của nó chỉ đơn thuần là một dấu hiệu nhận biết, nhưng họ đã nhìn nhận theo hướng trái ngược hoàn toàn. Họ
nói: ‘Những đứa trẻ mang ấn đều được định sẵn một số mệnh lạ kỳ.’ – mà hẳn là vậy nhỉ. Người ta luôn sợ hãi những kẻ can đảm đầy nghị
lực. Việc một giống loài toàn những kẻ không biết sợ đầy hung hãn được buông mình tự do rõ ràng là một sự xúc phạm nhục nhã, vì thế họ
gán cho những người đó những thứ biệt danh và truyền thuyết như một sự trả đũa, để đền bù cho bao lần họ cảm thấy hoảng sợ – cậu hiểu
chứ?”

“Tôi hiểu. Vậy có nghĩa là thực ra Cain không hề xấu xa sao? Và toàn bộ câu chuyện trong Kinh thánh thực sự không đáng tin ư?”

“Có và không. Những câu chuyện cổ hủ đó lúc nào cũng đúng nhưng không phải lúc nào cũng ghi lại sự việc cũng như mang đến cách nhìn
nhận chính xác. Nói cho cùng, ý tôi là Cain là một người hoàn toàn bình thường, câu chuyện chĩa mũi dùi vào anh ta đơn giản chỉ là do con
người sợ hãi. Nó chỉ là một lời đồn, là thứ mà mọi người vẫn luôn rỉ tai nhau, và điều duy nhất đúng sự thật ở đây chỉ là Cain và con của
anh ta thực sự mang trên mình một loại dấu ấn khác người thôi.”

“Vậy anh có nghĩ chuyện giết em trai cũng không có thật không?” Tôi sửng sốt.
“À cái đó chắc chắn là thật chứ. Kẻ mạnh trừ khử kẻ yếu hơn. Cũng không chắc kẻ bị giết có đúng là em trai anh ta không, nhưng cũng
chẳng quan trọng. Sau cùng thì đâu cũng là anh em. Vì thế một kẻ mạnh kết liễu một kẻ yếu, nó có thể thực sự là một hành động tàn bạo
nhưng cũng có thể không. Dù thế nào, tất cả những kẻ nhu nhược yếu hèn giờ đây đều phải kính sợ anh ta. Họ cứ tiếp tục cay đắng than
phiền chuyện đó, nhưng nếu cậu hỏi ‘Tại sao các người không quay lại và giết anh ta luôn đi?’, hẳn là họ sẽ nói rằng ‘Không đ ược đâu, hắn
ta mang dấu hiệu tội lỗi. Chúa đã đóng ấn ký lên hắn.’ thay vì dám trả lời ‘Vì chúng tôi hèn nhát.’. Sự lừa lọc hẳn phải bắt nguồn từ đó. Ồ, có
vẻ tôi giữ chân cậu lâu quá. Gặp lại sau nhé.”

Demian rẽ vào ngõ Alt và bỏ lại tôi đứng đó cùng những ngổn ngang mà tôi chưa một lần đối mặt. Mọi thứ anh ấy nói mới lạ thường làm
sao. Cain là con người cao quý, còn Abel là kẻ đê hèn. Dấu ấn của Cain là ấn ký đặc biệt, điều đó thật vô lý, báng bổ và tội lỗi. Sao Chúa có
thể chấp nhận điều đó? Chẳng phải Người chỉ nhận lễ vật của Abel thôi sao? Người chỉ yêu Abel không phải sao? Không, những gì Demian
nói thật điên rồ. Tôi nghĩ rằng anh ta chỉ muốn chơi đùa và khiến tôi lạc lối. Anh ta thông minh, có tài hùng biện, nhưng anh ta không thể
bịa đặt những điều như vậy, không phải với tôi!

Tôi chưa bao giờ ngẫm nghĩ quá nhiều như thế về một câu chuyện trong Kinh thánh hay bất kỳ câu chuyện nào khác. Và cũng trong một
khoảng thời gian dài tôi đã không thể hoàn toàn lãng quên Kromer. Cậu ta vẫn lởn vởn trong tâm trí tôi hàng giờ hay trong cả một đêm. Tôi
đọc lại câu chuyện về Cain và Abel được viết trong Kinh thánh một lần nữa ở nhà. Nó rất ngắn gọn và rõ ràng, thật vớ vẩn khi tìm kiếm một
ý nghĩa đặc biệt bị ẩn đi. Trong bất cứ trường hợp nào, kẻ giết người nào cũng có thể tuyên bố hắn là con chiên ngoan đạo của Chúa trời
sao? Không, những gì Demian nói thật vô nghĩa. Điều làm tôi hài lòng chỉ là sự thản nhiên và cái vẻ thanh nhã nơi anh ta khi nói những điều
ấy như thể tự bản thân mọi thứ đã quá ư rõ ràng. Và còn một điều nữa làm tôi thích, đó chính là ánh mắt của anh ta!

Tuy vậy, tôi vẫn cảm thấy có gì không đúng, cuộc đời tôi đang chất đầy lộn xộn. Tôi đã sống trong một thế giới trong lành và không bị ô uế,
trở thành một kẻ giống như Abel, và giờ đây tôi mắc kẹt và chìm sâu trong cái “thế giới còn lại” kia, nhưng suy cho cùng cũng chẳng hoàn
toàn là lỗi của tôi. Làm sao tôi có thể nghĩ như thế được? Và giờ đây những kỷ niệm ùa về khiến tôi suýt nữa ngạt thở. Mọi khổ đau đều bắt
đầu từ buổi tối tai hại đó, khi tôi tranh cãi với cha. Trong một khoảnh khắc, tôi đã nhìn thấu ông và cái thế giới đầy ánh sáng và sự thông
tuệ tuyệt vời bao quanh ông, không gì hơn ngoài sự khinh thường tôi dành cho nó. Khi đó, tôi chính là Cain mang ấn ký trên mình, đã nghĩ
rằng dấu ấn đó không phải ký hiệu của sự hổ thẹn, và chính vì mang trên mình tội lỗi và bất hạnh, tôi đã trở nên cao quý hơn cha và tất
thảy những gì lễ độ và công bằng.

Tôi chưa bao giờ nếm trải thứ cảm giác này, khi mà những suy tư được bộc lộ một cách rõ ràng, nhưng tất cả những điều này đã bao hàm
trong nó, biến thành sự tuôn trào xúc cảm, những kích thích lạ lẫm, khiến tôi tổn thương nhưng cũng khiến tôi tự hào.

Khi tôi nghĩ tới Demian và cách nói kỳ lạ của anh về sự dũng cảm và tính yếu hèn, tới cái định nghĩa đầy mới mẻ về dấu ấn trên trán của
Cain, tới cái cách mà ánh mắt trưởng thành của anh ta mê say thế nào khi kể về nó, câu hỏi thoáng qua đầu tôi rằng liệu chính Demian có
phải Cain hay không? Tại sao cậu ta phải bảo vệ Cain nếu không phải vì anh ta nhận ra sự tương đồng giữa hai người? Tại sao ánh mắt anh
ta lại mãnh liệt đến thế? Tại sao anh ta luôn tỏ ra khinh khỉnh khi nhắc đến “những người khác”, những kẻ anh ta gọi là hèn nhát mà thực
ra là những người ngoan đạo được Chúa trời chọn lựa? Tôi không thể tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi này. Demian đã ném một viên đá
vào lòng giếng chứa những điều thiện chân bao gồm cả tâm hồn tuổi trẻ của tôi. Và trong suốt một thời gian dài, câu chuyện về Cain, về
việc giết em, và cái “dấu ấn” đã đẩy tôi ra xa khỏi những nhận thức, những hồ nghi và chỉ trích mà tôi đã thử lĩnh hội về.

Tôi để ý rằng Demian cũng tạo ra sức hấp dẫn đối với những học sinh khác. Tôi chưa kể cho bất cứ ai về phiên bản câu chuyện về Cain của
anh ta, nhưng mọi người vẫn bị anh ấy thu hút. Dù sao thì đã có rất nhiều tin đồn xung quanh cậu học sinh mới này. Nếu tôi có thể nhớ
được hết, tôi sẽ kể từng tí và mỗi lời đều khiến Demian tỏa sáng hơn một chút. Điều đầu tiên tôi nhớ được là về người mẹ giàu có của
Demian, chẳng là cả bà ấy và cậu con trai đều chưa từng một lần xuất hiện ở nhà thờ. Có tin đồn rằng họ là người Do thái nhưng cũng có
thể họ bí mật theo đạo Hồi. Rồi còn có những chuyện xung quanh sức mạnh trong truyền thuyết của Max Demian. Sự thật là khi thằng nhóc
khỏe nhất lớp của Demian chế giễu anh ta là đồ hèn nhát khi từ chối nhận lời đánh nhau, Demian đã làm bẽ mặt tên đó ngay trước lớp.
Những người có mặt ở đó kể lại rằng Demian đã túm lấy tay tên nhóc và vặn ngược lên cổ nó, anh ta ghì chặt cho đến khi mặt tên kia tái đi;
sau đó, thằng nhóc kia đã chạy mất và đã không thể nâng nổi cánh tay lên trong cả một tuần. Một tối nọ, vài tên con trai thậm chí còn khẳng
định thằng nhóc ấy đã chết. Đã có những khi người ta bất chấp mà tin vào những điều hoang đường nhất. Rồi trong một thời gian ngắn
người ta đã nghe nhiều tới phát ngán những lời ra tiếng vào về Demian, dù cho sau đó không lâu, tin đồn lại tiếp tục sinh sôi khi mấy tên
con trai kháo nhau rằng Demian đã thân mật với bao đứa con gái và rằng Demian là kẻ “biết tuốt”.

Trong khi đó, vấn đề của tôi với Kromer vẫn tiếp tục như trước. Tôi không thể thoát khỏi cậu ta, dù cậu ta có để mặc tôi cả mấy ngày, tôi
vẫn bị cậu ta trói buộc. Cậu ta lảng vảng trong những giấc mơ của tôi, và với những trò tai ác cậu ta không thể gây ra cho tôi ngoài đời thực,
trí tưởng tượng của tôi để mặc cho cậu ta lộng hành. Trong những giấc mơ như thế, tự tôi khiến mình hoàn toàn trở thành nô lệ của cậu ta.
Tôi vẫn luôn thường mơ và trong những giấc mơ ấy, tôi hoạt bát hơn bản thân ngoài đời, rồi những bóng ma rút kiệt sinh lực và năng
lượng của tôi. Những cơn ác mộng liên tục lặp lại, ở đó Kromer không ngừng ngược đãi tôi, khạc nhổ và đè lên người tôi; hay thậm chí tệ
hơn, khiến tôi phạm phải những tội lỗi xấu xa, chính xác là ép buộc tôi bằng sức mạnh mang tính thuyết phục tuyệt đối. Giấc mơ tồi tệ nhất,
khiến tôi bật tỉnh và gần như hóa điên, là khi tôi phải giết cha mình. Kromer mài sắc con dao, đặt vào tay tôi; chúng tôi đứng khuất sau
những gốc cây nơi đại lộ và chờ một người tôi chẳng biết. Nhưng khi người ấy tiến lại và Kromer cấu tay tôi ra hiệu đó là người tôi phải
giết, tôi nhận ra đó là cha mình. Rồi tôi sực tỉnh dậy. Dù tôi vẫn luôn liên hệ những sự kiện này với câu chuyện về Cain và Abel, tôi vẫn
không nghĩ nhiều tới Max Demian. Lần tiếp theo khi anh ta lại tiến gần tới tôi, thì kỳ lạ thay, là trong một giấc mơ. Tôi vẫn đang mơ thấy
bản thân mình bị hành hạ. Nhưng lần này kẻ bắt nạt và quỳ gối lên người tôi lại là Demian. Và điều đã để lại trong tôi một ấn tượng mới mẻ
sâu đậm nhất, là tất cả những ngược đãi Kromer gây ra mà tôi chống cự đầy thống khổ, lại khiến tôi vui mừng biết bao dưới bàn tay của
Demian, với thứ xúc cảm được nhào nặn từ cả sợ hãi và ngất ngây khôn tả. Tôi mơ về nó hai lần, sau đó mọi sự tra tấn lại do Kromer kiểm
soát.

Tôi không thể phân biệt những gì mình trải qua trong những giấc mơ đó và thực tại trong hàng năm trời. Dù thế nào, thứ quan hệ tệ hại
giữa tôi và Kromer cũng sẽ tiếp tục và không đời nào kết thúc cho đến khi tôi trả nợ cho cậu ta đến đồng tiền ăn trộm cuối cùng. Không, giờ
cậu ta còn biết việc tôi đã ăn trộm tiền, lần nào cậu ta cũng hỏi tôi lấy tiền từ đâu, điều đó hãm tôi vào thứ gông cùm trói buộc với cậu ta
còn chặt hơn trước. Cậu ta thường dọa sẽ nói hết mọi chuyện với cha tôi, nhưng ngay cả khi đó, sự sợ hãi của tôi cũng chẳng bao giờ lớn
bằng sự tiếc nuối sâu sắc rằng tại sao ngay từ đầu tôi không là người tự làm điều đó. Khi ấy, tôi đã vô cùng khốn khổ, nhưng không phải lúc
nào tôi cũng hối hận về những chuyện đã xảy ra. Có đôi khi tôi nghĩ rằng mọi chuyện đương nhiên phải thế. Tôi nhỏ bé trong bàn tay số
mệnh và có cố thế nào cũng không thể thoát ra.

Có thể nhận ra cha mẹ cũng đau buồn vì tình trạng của tôi. Một linh hồn xa lạ đã nắm giữ lấy tâm hồn này. Tôi đã không còn hòa nhập được
với những người một thời thân thiết, nhưng đôi khi bao trọn lấy tôi là niềm khao khát mãnh liệt được trở về giữa những con người ấy như
tìm về một thiên đường đã mất. Mẹ đối xử với tôi như với một kẻ tàn phế hơn là một tên vô lại, nhưng tôi có thể phán đoán được vị trí thực
sự của mình trong gia đình chính xác hơn cả qua thái độ của các chị. Với một thái độ khoan dung độ lượng tột cùng, họ khiến tôi trông
chẳng khác nào một kẻ điên, đáng thương hơn là đáng trách, nhưng dù sao vẫn bị ác quỷ nắm trọn trong tay. Họ cầu nguyện cho tôi bằng
sự nhiệt thành lạ lẫm và khi nhận ra sự vô nghĩa của những hành động này, tôi cảm thấy bản thân thật khốn khổ. Tôi vẫn thường mang một
khát khao cháy bỏng được giải thoát, được thành thật xưng tội, nhưng tôi cảm nhận được rằng mình sẽ không thể vượt qua mặc cảm giấu
diếm cha mẹ mà giải thích mọi chuyện. Tôi biết những gì tôi nói sẽ được thông cảm và chấp nhận, và đúng, họ sẽ thậm chí cảm thấy tiếc
cho tôi. Nhưng sẽ chẳng ai hiểu được toàn bộ câu chuyện, tất cả những gì xảy ra sẽ chỉ được coi là phút lầm lỡ nhất thời, trong khi thật ra
lại là sự an bài của số phận.

Tôi nhận ra rằng không phải ai cũng có thể tin việc một đứa trẻ chỉ hơn mười tuổi có thể mang trên mình những cảm xúc ấy. Câu chuyện
của tôi không hướng đến họ. Tôi đang kể câu chuyện của mình cho những người thông tuệ hơn. Kẻ trưởng thành biết cách biến một phần
cảm xúc thành suy nghĩ, họ nhận thấy trẻ nhỏ không hề có cách nghĩ như vậy, rồi lại tự cho rằng đứa trẻ ấy chưa từng trải qua những cảm
xúc này. Nhưng hiếm có khi nào tôi lại cảm nhận và chịu đựng sự thống khổ vô cùng như lần ấy. Vào một ngày mưa, Kromer ra lệnh cho tôi
đến gặp cậu ta ở Burgplatz, và tôi đã đứng chờ ở đó, loanh quanh nơi những chiếc lá ướt mưa của cây dẻ không ngừng trút xuống từ trên
cao. Tôi không mang tiền nhưng đã cố dành ra được hai miếng bánh, ít nhất cũng gọi là có chút gì đó mang đến cho Kromer. Cho đến giờ tôi
đã quen với việc đứng nơi góc phố và đợi Kromer dù phải chờ lâu đến thế nào, và tôi chấp nhận chuyện này cũng giống như việc tôi học
được cách phải sống chung với những điều bất khả kháng. Cuối cùng thì Kromer cũng đến, nhưng cậu ta chẳng ở lại lâu. Cậu ta thúc vào
sườn tôi mấy cái, cười phá lên, lấy bánh, thậm chí còn mời tôi một điếu xì gà ẩm (mà đương nhiên tôi sẽ không nhận), và có vẻ thân thiện
hơn mọi lần.

“Được.” Cậu ta nói một cách hờ hững trước khi rời đi, “à quên, lần tới dẫn chị mày đến cùng đi, đứa lớn hơn ấy, tên nó là gì nhỉ?”

Tôi không biết cậu ta có ý gì nên chẳng trả lời. Tôi chỉ nhìn cậu ta kinh ngạc.

“Mày không hiểu à? Mang chị gái tới đây.”


“Sao mà được chứ Kromer, không thể nào. Tôi không thể làm thế và dù thế nào chị ấy cũng không tới đâu.”

Tôi đã lường trước mấy trò yêu sách này của cậu ta rồi. Cậu ta thường đòi hỏi thứ gì đó bất khả thi, rồi đe dọa và nhục mạ tôi, sau đó lại
đưa ra vài lời thỏa thuận như một cách giải quyết. Thường thì tôi sẽ lại phải đưa tiền hoặc mang món gì đó tới để đền bù.

Đã một thời gian không nói chuyện, tôi cũng đã bình tĩnh lại phần nào, nhưng tôi nhận ra những gì Demian nói càng ngày càng rối rắm.

“Tôi về đây,” Cậu ta choàng chiếc áo khoác vào sát người hơn, cứ thế nói trong màn mưa. “Tôi chỉ muốn nói một điều nữa vì chúng ta đã
thân thiết đến thế này rồi, hãy tránh xa thằng khốn kiếp đó ra! Nếu không có cách nào, thì giết nó đi. Tôi sẽ rất vui và ấn tượng nếu cậu làm
vậy. Thậm chí nếu cậu muốn tôi có thể giúp một tay.”

Câu chuyện về Cain bỗng chốc ùa lại vào trong tâm trí tôi, và tôi lại bắt đầu sợ hãi. Mọi thứ đều thật đáng sợ và xấu xa, rồi tôi bắt đầu thút
thít. Tôi bị vây xung quanh bởi quá nhiều những điều khó hiểu.

“Được rồi mà.” Max Demian nhìn tôi và cười. “Cậu cứ về đi, rồi chúng ta sẽ tìm được cách giải quyết. Dù giết chết thằng khốn kia là cách
nhanh nhất. Trong những vụ thế này, đơn giản là tốt nhất. Dù sao thằng bạn Kromer của cậu có tốt đẹp gì đâu.”

Tôi lần đường trở về nhà và tưởng như mình đã xa nơi đây đến cả năm trời. Mọi thứ đều khác đến chẳng thể nhận ra, tôi nhìn thấy một
chút gì đó của tương lai, hy vọng nay đã tách tôi ra xa khỏi Kromer. Tôi chẳng còn cô đơn nữa. Đến giờ tôi mới nhận ra cô đơn là điều
khủng khiếp đến thế nào khi phải gặm nhấm cái bí mật đó suốt từ tuần này qua tuần khác. Và ngay lập tức tôi nhớ đến một ý niệm đã nảy
ra trong đầu tôi vài lần trước đây, rằng việc thú nhận với cha mẹ sẽ giảm đi phần nào gánh nặng nhưng sẽ không thể cứu rỗi tôi hoàn toàn.
Giờ tôi đã gần như nói hết, cho một người khác, một kẻ xa lạ, và cảm giác khuây khỏa đến tựa như một cơn gió mát lành.

Dù vậy, tôi vẫn chưa thể chế ngự nỗii sợ hãi của mình, và tôi cũng đã chuẩn bị tâm lý để đối mặt với một chuỗi dài những giằng co với kẻ
thù kia. Ấy thế nhưng cuối cùng mọi sự lại diễn ra theo một hướng hết sức khác thường. Một ngày, hai ngày, cả một tuần, tôi không còn
nghe thấy tiếng huýt sáo của Kromer văng vẳng quanh nhà nữa. Tôi thực sự không dám tin và tiếp tục chờ đợi cái thời điểm chẳng ai ngờ
đến nhất, bất thình lình cậu ta sẽ xuất hiện trở lại. Có vẻ như Kromer đã biến mất thật sự. Tôi không tin vào thứ tự do quá đỗi mới mẻ này,
tôi tuyệt đối không tin cho đến khi tôi vô tình gặp lại Franz Kromer. Khi nhìn thấy tôi, cậu ta có hơi chùn lại, khuôn mặt rúm ró và vội vàng
quay ngược lại để tránh mặt tôi. Đây là lần đầu tiên tôi gặp phải tình huống thế này! Kẻ thù của tôi bỏ chạy, con quỷ dữ ấy sợ tôi! Những
điều đó khiến tôi ngập trong cảm giác bàng hoàng hạnh phúc. Một ngày nọ tôi lại gặp Demian, anh ta đang chờ tôi trước cổng trường.

“Chào anh,” Tôi nói.


“Chào buổi sáng Sinclair. Tôi chỉ muốn nghe xem mọi chuyện thế nào rồi? Kromer không làm phiền cậu nữa phải không?

“Là anh phải không? Anh đã làm thế nao vậy? Tôi chẳng hiểu gì cả. Cậu ta tìm mọi cách để tránh xa khỏi tôi.”

“Tốt. Nếu cậu ta dám xuất hiện lần nữa – tôi không nghĩ là cậu ta dám đâu, nhưng dù sao thì cậu ta cũng là đứa độc ác – thì cứ bảo cậu ta
rằng đừng quên bên cạnh cậu còn có một Max Demian.”

“Nhưng thực sự thì chuyện gì đã xảy ra chứ? Anh đã ẩu đả và đánh thắng cậu ta sao?”

“Không, động tay động chân không phải phong cách của tôi. Tôi chỉ đơn giản là nói chuyện vài câu như tôi đã nói chuyện với cậu và phân
tích rõ cho cậu ta biết việc tránh xa cậu là vì lợi ích của chính cậu ta mà thôi.”

“Tôi chỉ mong là anh đã không trả cậu ta tiền.”

“Đương nhiên là không, đó là cách của cậu.”

Demian lảng tránh mọi câu hỏi của tôi, để mặc tôi với cảm giác nhộn nhạo khó chịu như trước đây, cảm giác lẫn lộn giữa biết ơn và sợ hãi,
ngưỡng mộ và dè chừng, đồng cảm nhưng cũng mang chút kháng cự từ bên trong.

Tôi quyết định tìm anh ta và truy hỏi bằng được về tất cả những chuyện này, cả những vấn đề xoay quanh Cain nữa. Nhưng mọi chuyện
chẳng như tôi muốn. Tôi chẳng tin vào những thứ đức hạnh như lòng biết ơn, thật đạo đức giả khi kỳ vọng vào những điều như vậy ở một
đứa trẻ. Vì thế tôi chẳng ngạc nhiên với sự vô ơn của mình đối với Max Demian. Đến hôm nay tôi càng chắc chắn rằng tôi sẽ phải khổ sở và
bị vùi dập suốt đời này nếu anh ta không giải thoát tôi khỏi xiềng xích của Kromer. Ngay cả khi ấy tôi cũng ý thức rất rõ rằng sự giải phóng
này là sự kiện lớn nhất trong đời tôi. Thế nhưng tôi đã chạy trốn khỏi vị cứu tinh ngay khi anh ta tung ra phép màu của mình.

Như tôi đã nói, tôi đã quá quen với sự vô ơn. Điều làm tôi ngạc nhiên là mình chẳng có chút tò mò nào với mọi việc trong quá khứ. Sao tôi
có thể lớn lên từng ngày mòn mỏi mà không tìm hiểu thêm nữa về bí mật mà Demian đã hé mở cho tôi? Tại sao tôi lại không muốn nghe
thêm chuyện về Cain, tìm hiểu thêm về Kromer hay về khả năng thấu triệt suy nghĩ của người khác của Demian?

Nghe thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Tôi bỗng nhận ra bản thân đã thoát ra khỏi mê cung bị quỷ ám, lại một lần nữa được nhìn ngắm thế
giới ngập ánh sáng và niềm vui ngay trước mắt, không còn đầu hàng trước những sợ hãi ngột ngạt bủa vây. Lời nguyền đã bị phá vỡ, chẳng
còn những đọa đầy và giằn vặt xung quanh. Tôi trở lại là một cậu học sinh, bằng trọn vẹn bản thân này một lần nữa truy cầu bì nh yên
nhanh nhất có thể, bằng mọi cố gắng để khước từ và lãng quên những gì xấu xí đáng sợ trước đây mình từng biết. Tất thảy những hổ thẹn
và hoảng sợ mau chóng tan biến và chẳng để lại phía sau chút dấu vết hay xúc cảm sâu sắc nào.

Nhưng ngày hôm nay đây tôi đã có thể thấu hiểu tại sao mình lại ép bản thân quên đi vị cứu tinh một cách chóng vánh đến thế. Tôi chạy
thoát khỏi thung lũng lầm than, xiềng xích khổ đau Kromer mang đến, bằng tất cả sức lực theo sự điều khiển của một tâm hồn đã chẳng
còn lành lặn. Tôi trở về nơi tôi đã từng hạnh phúc đầy mãn nguyện, thiên đường đánh mất lại một lần nữa mở ra trước mặt tôi, tôi về với
ánh sáng, về với thế giới vô ưu nơi có mẹ cha và các chị, có mùi hương sạch sẽ và lòng mộ đạo [10]của Abel.

Sau lần nói chuyện ngắn ngủi với Demian, tôi đã hoàn toàn tin tưởng rằng mình đã một lần nữa chạm vào tự do và không lo âu việc đánh
mất nó một lần nữa. Tôi đã quyết định làm cái việc mà mình vẫn luôn đau đáu bao lâu nay – đi tự thú. Tôi tới bên mẹ và cho bà xem ống
tiết kiệm đã hỏng và đống tiền đồ chơi, tôi kể cho bà rằng đã bao lâu tôi giam mình trong mặc cảm với tên ác quỷ hung tàn kia. Bà chẳng
hiểu gì nhưng lại nhận ra những thay đổi trong biểu hiện hay trong giọng nói của tôi. Tôi cảm giác mình được chữa lành, được phục hồi lại
khi ở bên mẹ.

Và giờ mới chính thức là bữa tiệc tái hòa nhập cộng đồng của tôi, bữa tiệc chào đón “đứa con hoang đàng” kia trở về bên gia đình. Mẹ đưa
tôi đến gặp cha và kể lại mọi chuyện một lần nữa, tôi tiếp tục đón nhận những câu hỏi liên tiếp và những câu cảm thán trong kinh ngạc, cả
hai người đánh nhẹ vào đầu tôi và thở dài như trút được gánh nặng sau một khoảng thời gian căng thẳng. Thật tuyệt diệu, tất c ả đều diễn
ra như câu chuyện tôi vẫn từng đọc, rằng cái gì cũng sẽ qua đi và rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi.

Tôi chìm đắm trong sự thỏa mãn của việc lấy lại được sự bình yên trong tâm hồn và sự tự tin trước gia đình, tôi trở thành một cậu bé mẫu
mực ở nhà, dành thời gian chơi đùa cùng các chị nhiều hơn bao giờ hết và hãnh diện hát lên những khúc thánh ca yêu thích tron g tâm thế
một con chiên được cứu rỗi khi cầu nguyện trước Chúa trời. Tất cả đều đúng đắn vì nó xuất phát từ chính trái tim này. Nhưng dù vậy,
không phải tất cả mọi thứ đều quay về trật tự vốn có như trước. Và một trong số đó là sự thờ ơ của tôi đối với Demian. Lẽ ra tôi nên thú
nhận với cả anh ta nữa. Lẽ ra lần thú tội này có thể không cảm động hay thống thiết bằng lần trước, nhưng sẽ mang lại kết quả tốt đẹp hơn
rất nhiều. Tôi đã trở về là chính tôi, về với miền cực lạc của riêng tôi. Đó chẳng phải thế giới của Demian, và anh ta không bao giờ có thể
hòa nhập được vào đó. Vì anh ta cũng là một kẻ xúi giục người khác, dù khác với Kromer, nhưng anh ta vẫn có sự kết nối với thế giới đầy
quỷ dữ ngoài kia, thế giới mà tôi không bao giờ muốn can hệ nữa. Tôi không muốn hy sinh Abel để Cain được tán dương, đặc biệt là khi giờ
đây tôi lại một lần nữa được trở lại làm Abel ngoan đạo.

Tất cả những điều trên đều là những lý do bề nổi. Sâu xa ẩn bên trong, là vì tôi đã thoát khỏi sự chi phối của Kromer mà khôn g mất chút
công sức nào. Tôi đã cố vượt qua mê cung của thế giới đó nhưng mọi thứ dường như quá phức tạp. Giờ đây một bàn tay đầy thân thiện đã
giải thoát tôi, và chẳng cần quan tâm trái phải, tôi lao thẳng về hướng có mẹ, và núp trong sự bảo vệ của tuổi thơ tôi đầy hiếu thảo và lễ độ.
Tôi tự biến mình thành một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn, ngây ngô và ưa dựa dẫm hơn tôi bội lần. Tôi cần phải thay thế sự phụ thuộc của mình
vào Kromer bằng một đối tượng khác, vì tôi không thể tự bước một mình. Vì vậy, trong vô thức, tôi chọn sự bảo hộ của gia đình, người lớn,
và thế giới ánh sáng dấu yêu dù giờ đây tôi đã biết thế giới ấy chẳng phải là duy nhất. Nếu tôi không chọn lối đi này, tôi đã phải dựa vào
Demian và phó mặc bản thân cho anh ất. Lúc ấy hẳn là tôi đã không làm như vậy, quyết định ấy xuất phát từ sự nghi ngờ chính đáng của tôi
dành cho những suy nghĩ của anh ta. Nhưng trong thực tế tất cả đều do sự sợ hãi của tôi. Demian sẽ có thể đòi hỏi cao hơn bố mẹ tôi rất
nhiều. Anh ta luôn cố tìm cách khiến tôi độc lập hơn bằng những lời thuyết phục, thúc giục, chọc ghẹo và mỉa mai. Tôi nhận ra rằng với một
người, chẳng có thứ gì trên thế gian này lại đáng ghét hơn việc lựa chọn đối mặt với chính bản thân mình.

Nhưng suốt sáu tháng sau đó tôi vẫn không thể kháng cự lại sự cám dỗ mà hỏi cha trong lúc đi dạo rằng có người đã chứng minh Cain là
người tốt đẹp hơn Abel.

Cha tôi tỏ ra rất kinh ngạc và cố giải thích rằng đó là một cách giải thích hoàn toàn thiếu đi tính căn nguyên gốc rễ, rằng những thứ đó đã
manh mún từ thời kỳ Kinh thánh còn sơ khai và được rất nhiều giáo phái truyền bá, một trong số đó là “phái Cainites” [11]. Nhưng đương
nhiên thứ học thuyết điên rồ này chỉ đơn giản là muốn quỷ dữ xâm nhập và phá hủy tín ngưỡng của chúng ta mà thôi. Nếu một người tin
rằng Cain đã đúng và Abel đã sai, vậy có nghĩa là Chúa cũng đã sai lầm, nói cách khác, Chúa trời trong Thánh kinh không phải đấng toàn
năng mà là kẻ vô dụng. Những gì giáo phái Cainites đó tuyên truyền và thuyết giáo thực sự đều sai trái. Tuy nhiên, thứ dị giáo này đã biến
mất khỏi trái đất rất lâu rồi, và cha tỏ ra vô cùng ngạc nhiên khi biết rằng có một người bạn cùng trường tôi được nghe về nó. Và ông cảnh
cáo tôi một cách nghiêm khắc rằng không được nuôi dưỡng những điều xấu xa như vậy trong tâm.

Chương 3 – Trong những tên trộm

Nếu muốn, tôi có thể hồi tưởng lại những giây phút thanh thản của tuổi thơ, tỉ như cảm giác được bảo vệ trong vòng tay cha mẹ, kí ức xưa
cũ về bản thân tôi vốn là một đứa trẻ giàu tình cảm, sống một cuộc sống giản đơn, viên mãn giữa những điều dịu dàng nhất. Nhưng tôi lại
hứng thú với việc tìm hiểu chính bản thân mình nhiều hơn. Tôi bỏ lại tất thảy những phút giây êm đềm trên hòn đảo bình yên nơ i tôi cảm
nhận được những phép màu hiện hữu. Và bản thân này cũng chưa một lần có ý định quay về chốn thân thương ấy.

Đó là lý do tại sao chừng nào còn bám víu lấy tuổi thơ, tôi sẽ vẫn không ngừng nhắc đến những thứ đã đặt chân vào vùng trời trong lành ấy,
những thứ thúc giục tôi tiến về phía trước, hay có chăng là bắt tôi rời xa nơi đây. Những thôi thúc này vẫn không ngừng cuộn trào từ “thế
giới bên kia” và nhuốm đầy những sợ hãi, ràng buộc hay tâm địa xấu xa. Chúng luôn không ngừng biến hóa và đe dọa cuộc sống yên bình
mà tôi nguyện ý không bao giờ muốn thay đổi.
Và rồi những năm tháng ấy kéo đến, tôi buộc phải chấp nhận sự thôi thúc luôn tồn tại bên trong mà mình luôn cố kiềm hãm và giấu kín
khỏi thế giới của ánh sáng. Đó là khi bản năng giới tính chậm chạp thức tỉnh, lấn át tôi như nó làm với tất thảy mọi người, như một kẻ địch,
một tên khủng bố. Nó xâm chiếm lấy tôi, mang theo những điều cấm kỵ, cám dỗ và tội lỗi. Những gì mà trí tò mò tôi tìm kiếm, những gì giấc
mơ, ham muốn và sợ hãi nhào nặn ra – bí mật về tuổi dậy thì – hoàn toàn không có chỗ đứng trong tuổi ấu thơ vẫn luôn được bao bọc. Tôi
hành xử như bao người khác, một kẻ trưởng thành cố sống hai cuộc đời tách biệt trong hình hài một đứa trẻ con. Tâm thức tôi đây ngụ tại
thế giới thân quen và kiên quyết chối bỏ thứ mới mẻ đang ươm mầm bên trong. Song song với thế giới ánh sáng ấy, tôi còn sống tại vùng
đất nơi những giấc mơ, ham muốn và dục vọng từ địa ngục chậm rãi bước qua cây cầu mỏng manh mà tiềm thức tôi xây nên để tuổi thơ tôi
bám lấy. Như bao ông bố bà mẹ khác, cha mẹ tôi chẳng giúp được gì trong việc giải đáp những vấn đề về tuổi dậy thì quá đỗi mới mẻ này, vì
thế mà hoàn toàn không có một lời khuyên nhủ nào dành cho tôi hết. Tất cả những gì họ làm chỉ là cố ủng hộ những nỗ lực đầy tuyệt vọn g
của tôi, hướng về phía cái thế giới tuổi thơ ngày càng trở nên nhạt nhòa vô thực mà phủ nhận hết thực tại ngoài kia. Tôi không hiểu các bậc
cha mẹ giúp được cái gì, và tôi cũng chẳng trách cha mẹ mình. Tất cả đều là vấn đề của cá nhân, chính tôi phải tự thỏa hiệp với bản thân và
tìm ra con đường cho riêng mình. Và như tất cả những cậu ấm cô chiêu được nuôi dạy kỹ lưỡng, tôi đã xoay sở nó vô cùng tệ hại.

Ai rồi cũng sẽ phải trải qua thời kỳ khủng hoảng này. Với một người bình thường, đây là thời điểm mà những nhu cầu cá nhân và hoàn
cảnh hiên tại nổ ra mâu thuẫn gay gắt nhất, khi mà mọi sự ở con đường phía trước phải chiều theo ý nguyện của anh ta. Số phận đã định
rằng trong cuộc đời mỗi con người đều phải có một lần duy nhất trải qua cái chết mới có thể tái sinh. Tuổi thơ họ bỗng trở nên trống rỗng
và từ từ sụp đổ, những gì thân thuộc nhất rời bỏ họ, để họ đột nhiên cảm thấy bản thân bị sự cô độc và cái lạnh chết chóc của vũ trụ này
bủa vây. Rất nhiều người đã mắc kẹt mãi mãi trong bế tắc và tuyệt vọng, rồi đau đớn thay, họ phải sống dựa vào một quá khứ chẳng thể
vãn hồi, một giấc mơ về thiên đường đánh mất – thứ mộng tưởng tàn nhẫn và tồi tệ nhất – cho đến hết phần đời còn lại.

Quay trở lại với câu chuyện của tôi. Những xúc cảm và hình ảnh trong giấc mơ loan báo sự sụp đổ của vương quốc tuổi thơ dồn dập kéo
tới. Và quan trọng hơn, “thế giới bóng tối” hay “thế giới còn lại” kia một lần nữa lại xuất hiện, con người tệ hại của Franz Kromer giờ lại là
một phần trong tôi.

Đã vài năm trôi đi kể từ sau chuỗi ngày tôi chật vật khổ sở vì Kromer. Quãng thời gian bi thảm ngập tràn tội lỗi ấy đã trở nên nhạt nhòa
dần, tựa như một cơn ác mộng vội đến rồi vội đi trong quá khứ. Franz Kromer đã biến mất khỏi cuộc đời tôi lâu đến mức nếu có tình cờ
gặp cậu ta trên phố, tôi cũng khó có thể nhận ra. Một nhân vật quan trọng trong chuỗi bi kịch này, Max Demian, lại chưa bao giờ hoàn toàn
ra khỏi đời tôi. Nhưng trong một khoảng thời gian dài anh ấy đơn giản chỉ đứng ở ngoài rìa, luôn hiện hữu nhưng không gây ra ảnh hưởng
gì to lớn, chỉ từ từ tìm cách tiến lại gần, khuếch trương sức mạnh và sức ảnh hưởng của mình một lần nữa.

Tôi cố hình dung lại tất cả những gì về Demian còn sót trong ký ức. Có khi trong suốt một năm hay thậm chí lâu hơn, chúng tôi đã chẳng nói
được với nhau một câu nào. Tôi tránh mặt anh ta, và anh ta cũng chẳng hề bắt tôi phải làm gì theo ý mình. Có vài lần tình cờ bắt gặp nhau,
anh đơn giản chỉ gật đầu rồi đi tiếp. Đôi khi tôi cảm nhận được sự thân thiện của anh ta luôn mang theo chút mỉa mai, trào phúng, nhưng
có thể chỉ là tôi tưởng tượng mà thôi. Dường như cả tôi và Demian đã cho vào quên lãng những điều mà chúng tôi đã cùng trải qua, hay cả
những tư tưởng lạ kỳ anh ta truyền bá đến tôi ngày ấy.

Tôi có thể gom lại những ký ức vụn vặt về hình dáng của Max Demian, suy cho cùng anh ta chẳng đứng xa đến mức tôi không thể nhìn thấy.
Tôi thấy anh đi đến trường, dù một mình hay đi cùng đàn anh. Và tôi thấy anh ấy lạ lẫm, cô đơn và yên lặng, tách biệt khỏi họ như một
hành tinh lạc loài quay xung quanh quỹ đạo của mình, được bao phủ bởi hào quang cũng như nguyên tắc của chính anh ta. Chẳng một ai
thích hay muốn làm thân với Demian, trừ mẹ anh ấy, và kể cả mối quan hệ đó cũng giống với mối quan hệ của một người trưởng thành
thay vì một đứa trẻ. Khi có thể, giáo viên sẽ để mặc anh ấy tùy nghi. Demian là một học sinh giỏi nhưng dường như chẳng bao giờ cố lấy
lòng bất cứ ai. Không biết bao lần chúng tôi lại nghe được những điều xầm xì nhỏ to, những mỉa mai châm biếm về chuyện anh ta quan hệ
với một giáo viên. Và điều đó như viên đá quý hội tụ bao điều khiêu khích và chế giễu cay độc, càng khiến anh không được mọi người yêu
quý. Khi tôi nhắm mắt lại, những hình ảnh về anh ấy dần hiện lên rõ ràng. Phải rồi, trong con hẻm chật chội trước nhà, một ngày kia anh ấy
đứng đó, chăm chú vẽ vào cuốn tập trong tay. Anh ấy đang phác thảo bức phù điêu cũ khắc hình một loài chim nào đó trên viên đá đỉnh
vòm trước cổng nhà tôi. Khi nấp sau tấm rèm nơi của sổ và ngắm nhìn Demian, tôi sửng sốt trước khuôn mặt sáng láng, mang đầy xúc cảm
khi ngắm nghía bức phù điêu của anh. Đó là gương mặt của một người đàn ông trưởng thành, một nhà nghiên cứu hay một nghệ sĩ, là nét
cương nghị, quyết đoán, minh mẫn và bình tĩnh đến lạ kỳ, cùng với đôi mắt đầy hiểu biết và sắc sảo.

Lần tiếp theo tôi gặp lại Demian cũng là trên phố vài tuần sau đó. Trên đường đi học về, chúng tôi nhìn thấy một con ngựa bị thương. Nó
nằm trước xe chở hàng của một người nông dân, yên cương vẫn bị gắn vào càng xe, mũi phả ra tiếng thở khò khè nặng nhọc, và máu không
ngừng rỉ ra từ vết thương bên trong nhuộm đỏ một bên lề đường. Ngay khi phải quay mặt đi vì buồn nôn, tôi nhìn thấy gương mặt của
Demian. Anh ta không cố chen lên phía trước mà đứng xa ở phía sau, điềm tĩnh trong bộ trang phục thoải mái mà tao nhã mọi khi. Ánh mắt
anh ta dán chặt vào đầu con ngựa, và một lần nữa, khuôn mặt lại hiện lên nét trầm tư, sâu sắc, gần như là mê dại mà cũng kèm theo chút
hời hợt. Tôi không thể rời mắt khỏi anh ta và ngay lúc đó, một cảm giác kỳ dị và xa lạ len lỏi trong tim. Tôi ngắm nhìn gương mặt của
Demian và không những nhận ra anh ấy có khuôn mặt của một người trưởng thành thay vì một cậu trai, tôi còn cảm thấy gương mặt đó
cũng không hoàn toàn là của đàn ông, mà có đan chút gì nữ tính. Nhưng ấn tượng mà gương mặt ấy để lại cho tôi khi đó, không phải là
chững chạc hay trẻ con, cũng chẳng phải là già hay trẻ, mà là một gương mặt có khi già cả ngàn tuổi, nhưng cũng có lúc trẻ mãi với thời
gian, mang theo những vết sẹo của một góc lịch sử hoàn toàn khác mà ta chẳng hề hay biết. Động vật, cây cối, hay cả các hành tinh, cũng có
thể mang bộ dạng như vậy. Trước đây tôi không nhận ra những suy nghĩ này, ngay cả giờ đây khi đã trưởng thành tôi cũng chỉ mơ hồ cảm
nhận thay vì định hình chính xác cảm xúc mình lúc ấy. Có lẽ anh ấy đẹp trai, có lẽ tôi thích anh ấy, có lẽ tôi thấy anh ta kinh tởm, tôi chẳng
chắc chắn về điều gì cả. Tất cả những gì tôi biết chỉ là anh ấy khác biệt với tất cả chúng ta, dù là loài vật nào, hay một linh hồn hay một bức
tranh, anh ấy đơn giản là khác biệt một cách không thể tưởng tượng so với những người còn lại. Những ký ức vụn vặt khiến tôi không thể
chắc chắn liệu những gì tôi miêu tả anh ấy có khi nào lại lấy từ những kỷ niệm ngày sau hay không.

Chỉ vài năm sau đó, tôi một lần nữa qua lại thường xuyên hơn với Demian. Anh chưa bao giờ khai tuổi với nhà thờ theo thông lệ, và điều đó
lại một lần nữa khiến những tin đồn nảy sinh. Lũ con trai ở trường nhại đi nhại lại những chuyện cũ rích về việc anh ấy là người Do Thái,
hơn nữa là kẻ ngoại đạo, và mọi người hoàn toàn bị thuyết phục rằng cả Demian và mẹ anh ấy hoặc là kẻ theo thuyết vô thần, hoặc cùng
theo một thứ tôn giáo hoang đường nhơ nhuốc. Theo đó tôi còn nghe được rằng người ta nghi ngờ Demian và mẹ mình là tình nhân. Chắc
chắn anh ấy đã không lớn lên cùng những lời răn của bất kỳ thứ tôn giáo nào, nhưng có vẻ chính điều này lại trở thành chướng ngại cho
tương lai của anh ấy. Ngay lập tức, mẹ của Demian quyết định cho anh đi nghe thuyết giảng ở Lớp Thêm Sức [12], dù có muộn hơn hai năm
so với tuổi. Vậy là cuối cùng Demian đã vào cùng lớp với tôi.

Đã có lúc tôi triệt để tránh mặt và chẳng muốn dính dáng gì đến anh ta. Quá nhiều chuyện hoang đường và bí mật xoay quanh Demian,
nhưng điều làm tôi bận tâm nhất là cảm giác mắc nợ của tôi với anh sau vụ Kromer. Tôi giờ đã có quá đủ rắc rối với những bí mật của bản
thân. Những tiết học thêm sức đến cùng lúc với quyết định tìm hiểu về những vấn đề giới tính của mình; vì thế sự quan tâm tôi dành cho
những bài học tôn giáo giảm đi rất nhiều, mặc cho những mục đích hướng đạo có tốt đẹp đến đâu chăng nữa. Những gì mục sư thuy ết
giảng đều thuộc về một thế giới thần thánh vô thực và quá đỗi xa vời. Những điều ấy tuy có bao nhiêu đẹp đẽ và trân quý, nhưng chẳng thể
thú vị và đúng thời điểm bằng những điều mới mẻ đang xâm chiếm suy nghĩ của tôi. Tôi càng thờ ơ với những bài giảng trên lớp bao nhiêu,
tôi lại càng bận tâm và bị ám ảnh bởi Demian bấy nhiêu. Dường như giữa chúng tôi có một mối liên kết đặc biệt mà tôi cần phải lần theo
càng sát sao càng tốt. Như những gì tôi nhớ, vào một buổi sáng tờ mờ sớm khi người ta phải sử dụng đến đèn trong lớp học, mục sư giảng
đạo cho chúng tôi đã đề cập đến câu chuyện về Cain và Abel. Tôi chỉ thấy buồn ngủ và không chú tâm chút nào, khi thầy giáo bắt đầu to
tiếng lảm nhảm về dấu ấn của Cain, tôi cảm thấy có cái gì đó đang chạm vào người, tựa như một sự cảnh báo. Tôi ngẩng lên và n hìn thấy
Max Demian ngồi ở một trong những dãy bàn đầu, hướng một nửa khuôn mặt về phía tôi và nhìn tôi bằng đôi mắt toát ra sự trầm tư theo
đó có lẽ là cả sự khinh miệt. Anh ấy chỉ nhìn lướt qua tôi một chút và tôi bỗng chú tâm vào lời giảng của mục sư, nghe ông ta nói về Cain và
dấu ấn của anh ta; từ sâu bên trong tôi cảm nhận được sự thật không giống những gì thầy giáo nói, rằng một câu chuyện có thể được đánh
giá từ một góc nhìn hoàn toàn khác, rằng quan điểm của thầy giáo về vấn đề này chẳng có chút khách quan nào.

Một khoảnh khắc đó thôi cũng đủ để nối lại mối liên kết giữa tôi và Demian. Và kỳ lạ thay, tôi dường như không hề để ý đến sự đồng điệu
về mặt tinh thần này cho đến khi nó được chuyển hóa thành sự gần gũi thể xác. Tôi không biết liệu có phải Demian cố ý hay chỉ là trùng
hợp – nhưng lúc ấy tôi vẫn tin đó chỉ là tình cờ – khi vài ngày sau Demian bỗng dưng chuyển chỗ ngồi trong lớp xuống ngay bàn phía trước
tôi, rồi vài ngày tiếp theo lại chuyển nữa và cuối cùng qua ngồi sát cạnh tôi, và không đổi chỗ thêm lần nào nữa suốt cả mùa đông và mùa
xuân. Tôi vẫn nhớ rõ ký ức đó, trong căn phòng ngột ngạt của lớp học đông người, tôi đã yêu thích mùi hương xà phòng tươi mát tỏa ra từ
sau gáy anh ấy đến nhường nào.

Những giờ học buổi sáng nay đã hoàn toàn khác, tôi chẳng còn cảm thấy buồn ngủ hay nhàm chán, mà thay vào đó lại có chút háo hức
mong chờ. Đôi khi cả hai chúng tôi đều tập trung cao độ vào bài giảng của vị mục sư, một cái liếc nhìn của người bạn cùng bàn này có thể
khiến tôi chú ý đến một câu chuyện phi thường hay một câu nói đặc biệt. Nhưng nếu anh ta nhìn tôi lâu hơn, tôi sẽ bắt đầu hoài nghi và
ngờ vực.

Tuy vậy phần lớn thời gian chúng tôi đều không tập trung. Demian không bao giờ tỏ ra bất lịch sự với giáo viên hay bạn học. Tôi chưa bao
giờ thấy anh ấy chơi khăm ai, thậm chí cợt nhả hay tám nhảm trong lớp, cũng chưa từng bị thầy giáo quở trách. Nhưng hơn cả những lời
thầm thì to nhỏ, chỉ bằng những tín hiệu và ánh mắt, Demian dần cuốn tôi vào những việc mà anh ta làm, và đôi lúc đó là những việc rất kỳ
lạ.

Tỉ dụ như Demian sẽ chỉ ra đứa nào trong lớp thích mình cũng như cách mà anh ấy nghiên cứu tâm lý họ, và đôi khi đưa ra những đánh giá
vô cùng chính xác. Anh ấy nói với tôi trước cả lớp rằng:

“Khi tôi ra hiệu bằng ngón cái, nhóc này sẽ quay lại và nhìn chúng ta, hoặc sẽ đưa tay lên gãi cổ.”

Khi tôi dường như đã hết sạch kiên nhẫn, Max bỗng ra dấu bằng ngón cái. Tôi nhìn lướt qua cậu bé bị chỉ điểm lúc nãy, cậu ta hành động
như một con rối bị giật dây. Tôi nài nỉ Max hãy thử với thầy giáo nhưng anh từ chối. Chỉ riêng một lần, khi đến lớp mà quên chuẩn bị bài,
tôi nói với Max rằng hy vọng mình sẽ không bị gọi lên, cậu ấy đã giúp tôi. Vị mục sư muốn gọi một học sinh lên thuật lại một đoạn giáo lý,
ông đưa mắt nhìn cả lớp một lượt và dừng lại trước khuôn mặt tội lỗi của tôi. Ông tiến lại gần, chỉ tay thẳng vào tôi và định gọi tên. Bỗng
nhiên ông ta trở nên khó chịu, cố nới cổ áo bị cài kín rồi bước tới chỗ Demian – người đang nhìn chằm chằm vào ông với ánh mắt dường
như muốn hỏi gì đó. Thế rồi ông tay quay đi, hắng giọng và gọi tên người khác.

Dù mấy trò tiêu khiển này khiến tôi thích thú, tôi bắt đầu nhận ra người bạn này cũng thường hay làm thế với mình. Có khi trên đường đến
trường, bỗng nhiên tôi sẽ cảm thấy Demian ở phía sau, tôi quay lại và anh ta thực sự đứng đó.

“Anh thực sự có thể khiến người khác hành động theo ý mình sao?” Tôi hỏi.

Anh ta điềm tĩnh trả lời như người lớn:

“Không, tôi không làm vậy được. Cậu thấy đấy, chúng ta không có quyền tự do ý chí dù thầy giáo có cố khiến chúng ta tin là có. Một người
không thể nghĩ theo những gì anh ta muốn, và tôi cũng không thể khiến anh ta nghĩ theo hướng tôi muốn được. Tuy nhiên một người có
thể nghiên cứu về người khác một cách kỹ lưỡng và biết được chính xác anh ta nghĩ hay cảm thấy gì, từ đó mà đoán được hành động tiếp
theo của anh ta. Cái này đơn giản lắm, chỉ là mọi người không để ý mà thôi. Tất nhiên là cậu phải qua rèn luyện nữa. Ví dụ nhé, có một loài
bướm đêm mà số lượng giống cái hiếm hơn giống đực rất nhiều. Những con bướm đó sinh sản giống như bao loài động vật khác, con đực
thụ tinh qua giao phối và con cái đẻ trứng. Rất nhiều nhà tự nhiên học đã tiến hành thí nghiệm này, nếu bắt một con cái, những con đực sẽ
tìm đến nó vào buổi đêm, và chúng sẽ bay đến từ những nơi cách con cái hàng mấy giờ bay. Hàng mấy giờ bay luôn ấy! Nghĩ mà xem, từ
khoảng cách vài dặm, tất cả bướm đực đều cảm nhận được con cái duy nhất trong phạm vi đó. Người ta đã cố giải thích hiện tượng này
nhưng có vẻ không dễ dàng gì. Cậu phải giả định là lũ bướm vốn có bản năng giống như chó săn để có thể nhận ra và theo dấu những mùi
hương tưởng chừng như không thể ngửi thấy. Cậu thấy không, tự nhiên chứa đựng những điều không thể giải thích được như vậy đấy.
Nhưng tôi thì cho rằng thế này, nếu số lượng con cái mà nhiều như con đực, thì chúng sẽ không thể có được khứu giác tuyệt vời đến thế
đâu. Chúng phải tự trải qua rèn luyện mới có được khả năng này. Nếu một người tập trung toàn bộ khả năng của mình để đạt được một
mục tiêu nhất định, anh ta rồi sẽ làm được thôi. Chấm hết. Và nó cũng trả lời cho câu hỏi của cậu rồi nhé. Nghiên cứu một người đủ kỹ để
có thể hiểu anh ta còn hơn cả bản thân anh ta.”

Tôi suýt chút nữa đã đề cập đến chuyện “đọc suy nghĩ” và nhắc anh ấy về chuyện liên quan đến Kromer trong quá khứ. Nhưng đây cũng là
một điểm kỳ lạ trong mối quan hệ của chúng tôi: cả Demian và tôi đều chưa bao giờ nhắc đến sự thật rằng mới vài năm trước thôi Kromer
đã xâm phạm vào cuộc đời tôi nghiêm trọng đến thế nào. Như thể là chưa có gì xảy ra giữa tôi và cậu ta, hoặc dường như mỗi đứa trong
chúng tôi đều mong người còn lại quên đi. Có một hai lần khi chúng tôi bắt gặp Kromer trên phố, nhưng cả hai đều không cần nhìn nhau
mà cùng thống nhất không nói một câu nào về cậu ta nữa.

“Vậy rốt cuộc ý chí ở đây là thế nào?” Tôi hỏi. “Một mặt, anh nói chúng ta không có tự do ý chí. Nhưng anh lại nói chúng ta chỉ cần tập trung
tư tưởng vào một mục đích nào đó để đạt được nó. Nghe thật mâu thuẫn. Nếu tôi không làm chủ được suy nghĩ của mình, sao tôi có thể
điều khiển nó theo như tôi muốn chứ.”

Demian vỗ lưng tôi giống như mỗi lần anh ấy cảm thấy hài lòng.

“Hỏi là tốt.” Anh ấy vừa cười vừa nói. “Cậu phải luôn đặt nghi vấn, luôn nghi ngờ mọi thứ. Nhưng thực ra chuyện cũng đơn giản thôi. Ví dụ
như nếu một con bướm đêm phải gom hết ý chí vào việc bay về một ngôi sao không thể chạm đến hay bất cứ thứ gì tựa thế, thì đương
nhiên nó sẽ không làm được. Thậm chí ngay từ đầu nó sẽ chằng cố gắng làm thế. Một con bướm sẽ tự giới hạn việc tìm kiếm nội t rong
những thứ có giá trị, cần thiết và không thể thiếu được trong cuộc đời nó. Đó là cách một con bướm hình thành giác quan thứ sáu siêu việt
mà không một giống loài nào có được. Chúng ta có nhiều thứ để kiếm tìm hơn, nhiều lựa chọn và sở thích phong phú hơn so với một con
vật. Nhưng chúng ta cũng bị giới hạn trong một phạm vi chật hẹp không thể phá vỡ. Tưởng tượng rằng nếu tôi mong muốn đến Bắc Cực
bằng mọi giá, để đạt được điều đó tôi cần phải có sự ham muốn cực độ đến mức toàn bộ bản năng đều bị chi phối bởi khát khao đó. Một khi
chuyện đó xảy ra thật, khi cậu đã thử làm điều gì đó thuận theo con tim của mình, thì cậu sẽ làm được nó, sẽ có thể buộc chiếc cương ý chí
lên nó giống như lên một chú ngựa nghe lời vậy. Nhưng nếu tôi quyết tâm muốn thầy giáo không được đeo kính nữa, thì điều này lại vô
dụng. Nó giống như cố tăng thêm tí liều lĩnh trong trò này vậy. Nhưng vào hồi mùa thu, cái lúc mà tôi tìm cách để đổi chỗ khỏi dãy bàn trên,
thì chẳng khó khăn gì cả. Có một học sinh nào đó mà tên xếp trước tôi trong danh sách đã vắng mặt vì bị ốm đến tận lúc đó mới xuất hiện.
Và ai đó cần nhường chỗ cho cậu ta, đương nhiên đó sẽ là tôi vì ý nguyện của tôi là bắt lấy cơ hội này ngay lập tức.”

“Đúng vậy nhỉ,” Tôi nói. “Khi đó tôi cũng cảm thấy lạ. Từ khi chúng ta bắt đầu để ý đến nhau thì anh lại chuyển đến ngày một gần chỗ tôi
ngồi. Nhưng mà sao anh làm vậy được? Anh đâu có ngồi cạnh tôi ngay lập tức, đầu tiên là ngồi ở cái chỗ trước mặt tôi mà. Sao anh có thể
tìm cách chuyển chỗ một lần nữa được?”
“Là thế này, tôi không biết bản thân mình chính xác thì muốn ngồi chỗ nào, tôi chỉ muốn rời khỏi chỗ hiện tại ở bàn trước. Tôi chỉ biết bản
thân cần phải ngồi ở phía sau. Đó chính là ý nguyện của tôi khi chuyển đến chỗ cậu, nhưng cho đến bây giờ tôi mới ý thức được điều này.
Cùng lúc đó thì ý nguyện của cậu cũng vừa vặn giống với tôi. Khi ngồi ở trước cậu, tôi mới nhận ra rằng mong muốn của mình mới hoàn
thành được một nửa, mục đích cuối cùng của tôi nhất định phải là ngồi bên cạnh cậu.”

“Nhưng vào thời điểm đó có ai bị ốm đâu, chẳng có ai khỏi ốm và đi học lại cả, cũng chẳng có học sinh mới.”

“Cậu nói đúng. Nhưng vào lúc đó tôi chuyển chỗ đơn giản vì tôi muốn ngồi bên cậu. Thằng nhóc mà tôi muốn đổi chỗ cùng có vẻ ngạc
nhiên, nhưng rồi cũng đồng ý. Ngài linh mục cũng thế, chỉ để ý chuyện thay đổi chỗ ngồi này có một lần. Thậm chí bây giờ mỗi lần đối mặt
với tôi, ông ấy đều cảm thấy có gì đó rất phiền phức, vì ông ta biết tên tôi là Demian và hẳn là việc người tên bắt đầu bằng chữ “D” ngồi tít
phía sau ở hàng của những người tên bắt đầu bằng chữ “S” [13] là không đúng. Nhưng những điều này chưa bao giờ khiến ông ta chú ý vì tôi
không cho phép như thế và bởi vì tôi luôn tìm cách cản trở ông ta. Thầy luôn biết có điều gì đó không đúng, rồi ông ta lại nhìn vào tôi và cố
để tìm ra đáp án. Nhưng tôi có cách giải quyết vô cùng đơn giản. Mỗi khi ánh mắt ông ấy chạm đến tôi, tôi sẽ đáp lại ông bằng một cái nhìn
chằm chằm. Rất ít người chịu nổi việc đó một lúc lâu, ai cũng sẽ thấy khó chịu. Nếu cậu muốn thứ gì đó từ một người thì cứ đừng rời mắt
khỏi anh ta. Nếu sau một lúc mà kẻ đó không phát điên thì cậu nên bỏ cuộc. Vì như thế là cậu không có tí cơ hội nào đâu. Nhưng chuyện đó
hiếm khi xảy ra lắm. Trước giờ tôi mới biết có duy nhất một người mà tôi không thể áp dụng cách này thôi.”

“Là ai vậy?” Tôi gấp gáp hỏi.

Anh ấy nhìn tôi bằng đôi mắt hẹp và dài, giống như những lúc anh rơi vào trầm tư. Rồi anh ta quay đi và không trả lời. Dù cho tôi tò mò đến
phát điên nhưng cũng không dám nhắc lại câu hỏi. Tôi tin người đó là mẹ anh ta. Người ta nói mối quan hệ giữa Demian và mẹ anh ấy rất
gần gũi, nhưng anh ấy lại chưa bao giờ nhắc đến tên bà hay đưa tôi về nhà chơi. Tôi thực sự không biết liệu mẹ của Demian trông như thế
nào.

Đôi khi tôi cố bắt chước Demian, tập trung ý chí của mình vào mục đích mà bản thân muốn đạt được. Tôi có hàng tá những mong muốn cấp
bách. Nhưng chẳng có gì xảy ra cả, cách của anh ta không hiệu quả. Tôi không thể nói với Demian về chuyện này, tôi thậm chí còn chẳng
dám thú nhận về mong muốn của tôi với anh. Mà anh ấy cũng chẳng hề hỏi đến.

Cùng lúc đó, tín ngưỡng của tôi bắt đầu xuất hiện những vết rạn nứt. Nhưng tư tưởng bị Demian chi phối của tôi lại vô cùng khác biệt với
suy nghĩ của bạn bè đồng trang lứa, những đứa lúc nào cũng khoác lác về việc không theo đạo. Thỉnh thoảng chúng sẽ nói việc tin vào Chúa
trời là nực cười và đáng khinh, rằng những câu chuyện như Ba ngôi một thể [14] hay việc Chúa được sinh ra bởi một nữ đồng trinh [15] thật
ngu xuẩn và lố bịch. Rằng đến thời buổi này rồi mà vẫn bị nhồi nhét những thứ vô nghĩa này chẳng khác nào một sự sỉ nhục. Tôi thì không
nghĩ thế. Dù tôi có nhiều nghi vấn về một vài vấn đề, tôi vẫn biết rõ từ khi còn bé sự thật về một cuộc sống mộ đạo khi nhìn vào cha mẹ. Và
tôi biết chắc chắn không có gì ngu ngốc hay giả tạo ở đây cả. Ngược lại, tôi vẫn vô cùng kính cẩn trước tín ngưỡng của mình. Nhưng
Demian lại làm cho tôi quen dần với việc nhìn nhận và diễn giải những câu chuyện và giáo điều một cách tự do, cá nhân và thậm chí hài
hước hơn, sử dụng trí tưởng tượng nhiều hơn. Dù thế nào đi nữa, tôi vẫn luôn vui vẻ tán thành mọi cách diễn giải mà anh ấy đưa ra. Tuy
vậy có một vài chuyện, ví dụ như chuyện về Cain, thì tôi vẫn không thể chấp nhận được. Có một lần khi đang ngồi trong lớp Thêm sức,
anh ấy đã khiến tôi giật mình vì một quan điểm thậm chí còn táo bạo hơn khi thầy giáo đang giảng về Đồi Sọ [16]. Từ khi còn bé, câu chuyện
về những đọa đày và cái chết của đấng Cứu thế đã để lại trong tôi những ấn tượng khó phai. Hồi bé có đôi khi, ví dụ như vào ngày Thứ Sáu
Tuần Thánh [17], chúng tôi lại được cha đọc cho nghe và cảm động sâu sắc về Cuộc khổ nạn của Chúa [18]. Tôi sẽ được đắm mình trong một
thế giới buồn đau nhưng tươi đẹp, dù đầy rẫy quỷ ma nhưng cũng ngập tràn sức sống, trong khu vườn Gethsemane [19] hay trên Đồi Sọ, và
khi tôi nghe về bài ca khổ hình thánh Matthew [20] của nhà soạn nhạc Bach, hào quang u ám của việc chịu đựng thế giới đầy bí ẩn này bỗng
lan tỏa mạnh mẽ và lấp đầy tôi bằng một cảm giác run sợ không rõ nguyên nhân. Cho đến ngày nay tôi vẫn có thể tìm thấy trong bài ca này
và trong khúc cầu siêu Actus Tragicus [21] bản chất của mọi thứ nghệ thuật thơ ca.

Cuối giờ học Demian trầm ngâm nói với tôi:

“Có điều gì đó khiến tôi không thể thích nổi câu chuyện này Sinclair à. Sao cậu không đọc nó một lần nữa và thử đánh giá lại xem? Có cái gì
đó không đúng lắm. Ý tôi là về hai tên trộm đó [22]. Đương nhiên ba cây thánh giá được dựng cạnh nhau trên đồi là thứ ấn tượng nhất,
nhưng giờ thử nghĩ đến cái luận thuyết thương cảm về kẻ trộm lành [23] xem. Ngay từ đầu hắn đã là một tên vô lại, gây ra bao điều tệ hại mà
Chúa đều biết hết, và giờ hắn lại khóc lóc, kỷ niệm bữa yến tiệc đầy nước mắt đó bằng sự ăn năn và hối cải. Tôi hỏi cậu, khi chỉ còn vài bước
là xuống mồ thì lòng hối cải đó tính là cái gì chứ? Chỉ là chuyện cổ tích của lũ thầy tu mà thôi, ngọt ngào trong giả dối, tìm kiếm thương cảm
bằng sự ủy mị và tạo ra một câu chuyện khai trí. Nếu cậu phải chọn một trong hai tên trộm đó làm bạn hoặc quyết định nên tin tưởng ai
nhiều hơn, cậu chắc chắn sẽ không chọn cái thứ giả nhân giả nghĩa dễ thay đổi chính kiến như vậy. Không, tên còn lại, hắn mới là người có
chính kiến. Hắn ta chẳng thèm quan tâm đến chuyện thay đổi bản thân, điều mà đối với bất kỳ kẻ nào trong hoàn cảnh ấy, chẳng khác gì
một bài diễn văn hoa mỹ. Hắn ta tuân theo số mệnh của mình cho đến chết, không hề quay lưng và chửi bới ngược lại những thế lực ác ma
đã luôn nâng đỡ và xúi giục hắn đến tận lúc đó. Hắn ta có cá tính riêng, và những kẻ như thế thì thường không có kết thúc có hậu trong
Kinh thánh. Thậm chí có thể hắn ta là hậu duệ của Cain nữa, cậu nghĩ vậy không?”

Tôi đã trở nên mất tinh thần thực sự. Cho tới giờ tôi mới thực sự hiểu hết về câu chuyện Chúa bị đóng đinh này. Lần đầu tiên tôi cảm nhận
được bản thân không có chính kiến và sức tưởng tượng hạn hẹp đến thế nào khi nghe và đọc về nó. Dù vậy, tôi phải nhấn mạnh rằng ý
niệm mới mẻ của Demian dường như mang theo điềm gở và đe dọa sẽ lật đổ niềm tin vào những gì vẫn luôn tồn tại. Không, một người sẽ
không thể xem nhẹ mọi thứ, đặc biệt là những sự kiện linh thiêng nhất.

Như mọi khi, Demian nhận ra sự kháng cự của tôi trước cả khi tôi kịp mở miệng.
“Tôi hiểu mà,” Anh ấy nói bằng giọng cam chịu “vẫn như mọi khi thôi, cậu đừng nghĩ quá nhiều về giả thuyết của tôi! Nhưng tôi phải nói với
cậu chuyện này, đây là một trong những nơi phanh phui sự nghèo nàn của thứ tôn giáo này rõ ràng nhất. Sự hiện diện của Chúa t rời ở cả
Kinh Cựu ước [24] và Kinh Tân ước [25] đều thật sự phi thường nhưng không phải ở những nội dung ý nghĩa ông ta tượng trưng cho. Chúa là
tất cả những gì tốt đẹp, cao quý, xa vời, đẹp đẽ, đáng ngưỡng mộ, và thương cảm – đúng! Nhưng thế giới này còn bao hàm nhiều điều hơn
thế. Và những gì còn lại thì bị gán cho cái danh quỷ dữ, toàn bộ phần còn lại của thế giới này đã bị lấp liếm và bưng bít. Nó giống hệt như
cách mà con người ca tụng Chúa như đức cha của muôn loài nhưng lại phủ nhận mọi thứ thuộc về đời sống nhục dục của chúng ta, điều căn
bản nhất tạo ra vạn vật. Người ta nói về chuyện đó như thể đó là hành vi tội lỗi, là hành động của quỷ dữ bất cứ khi nào có cơ hội. Tôi
không hề có ý phản đối việc thờ phụng đạo Chứng nhân Gehovah này [26], không bao giờ. Nhưng ý tôi là chúng ta nên cân nhắc mọi thứ
thiêng liêng, toàn bộ thế giới này, chứ không đơn thuần chỉ là một nửa gượng gạo tách biệt. Vì thế bên cạnh thờ phụng những gì thần thánh
thì chúng ta nên làm lễ tế cho cả quỷ dữ nữa. Tôi thấy như vậy mới đúng. Ngoài ra cậu phải hình thành riêng cho bản thân mình một vị
Chúa mang theo mình cả phần ác quỷ, để lúc quỳ trước mặt ngài cậu không phải nhắm nghiền mắt khi những gì trần trụi nhất của thế giới
này hiện ra.”

Demian hiếm khi quyết liệt đến thế. Nhưng ngay sau đó anh ấy đã mỉm cười và không thăm dò thêm gì nữa.

Những lời anh ấy nói, dù thế nào cũng đã trực tiếp chạm đến bí mật lớn nhất thuở thanh niên của tôi, một bí mật mà tôi luôn mang bên
mình và chưa bao giờ dám nói với ai. Những gì Demian nói về Chúa trời và ác ma, về biểu tượng sùng đạo chính thống và về biểu tượng lấp
liếm hiểm độc, đều giống hệt những suy nghĩ của tôi, về sự hoang đường trong tâm hồn tôi, quan niệm về việc thế giới bị chia làm hai nửa –
một sáng một tối. Tôi chợt nhận ra rằng khúc mắc mà tôi đang vướng phải – về vấn đề về sinh tồn và suy tưởng – cũng giống như bao
người khác. Và khi nhìn thấy, cảm nhận được đời sống và quan điểm cá nhân của mình đang bị nhấn chìm trong dòng chảy vĩnh hằng của
những ý tưởng lớn lao, tôi đã choáng ngợp bởi những sợ hãi và kính trọng. Dù sự giác ngộ này mang lại cho tôi chút chứng thực và hài
lòng, thì đây cũng chẳng phải chuyện vui vẻ gì. Điều này thật khó khăn và khắc nghiệt vì nó mang theo trách nhiệm, tôi không được phép
làm trẻ con nữa, tôi phải tự đứng trên chính đôi chân của mình.

Lần đầu tiên trong đời hé lộ bí mật sâu thẳm nhất, tôi đã kể cho anh ấy nghe quan niệm của tôi về “hai thế giới”. Ngay lập tức anh ấy nhận
ra suy nghĩ của tôi và anh đồng điệu. Nhưng đó không phải là cách cậu ấy tận dụng cơ hội. Demian lắng nghe tôi nói chuyên tâm hơn bao
giờ hết, nhìn vào mắt tôi chăm chú đến mức tôi phải quay mặt đi. Vì rằng một lần nữa tôi nhận ra cái nhìn tựa dã thú của cậu ta, ánh nhìn
tưởng chừng không chịu tác động của thời gian mà già dặn tới không tưởng.

“Khi khác ta sẽ nói kỹ hơn về chuyện này,” Anh ấy nói một cách nhẫn nại. “Tôi thấy rằng suy nghĩ của cậu sâu sắc hơn khả năng cậu thể
hiện nó ra ngoài. Nhưng chính vì vậy, cậu biết mà đúng không, rằng cậu chỉ dám nghĩ mà chẳng dám làm, chuyện đó chẳng tốt đẹp gì. Chỉ
những lý tưởng được ta hiện thực hóa mới là những lý tưởng đáng giá. Cậu luôn biết cái thế giới cậu vẫn thừa nhận chỉ là một nửa của thế
giới thật và nửa còn lại luôn bị cậu kiềm hãm như những mục sư và giáo viên vẫn làm. Cậu sẽ thất bại thôi. Ai rồi sẽ cũng thất bại một khi
bắt đầu nghĩ về điều này.”
Câu nói ấy đã đánh trúng thẳng vào tim tôi.

“Nhưng vẫn luôn có những điều cấm kỵ và xấu xí trên đời này!” Tôi gần như hét lên. “Anh không thể phủ nhận chuyện đó. Và chúng bị cấm,
chúng ta phải từ bỏ thôi. Đương nhiên tôi biết chuyện giết người hay tất cả mấy thứ thói xấu đều tồn tại trong thế giới này, nhưng tại sao
tôi phải trở thành kẻ phạm tội chỉ vì chúng tồn tại chứ?”

“Chúng ta không thể giải đáp mọi vấn đề trong hôm nay được,” Max dỗ dành tôi. “Đương nhiên cậu không nên giết ai hay hay hiếp dâm đứa
con gái nào, đương nhiên không! Cậu vẫn chưa đạt được đến cái ngưỡng hiểu rõ tường tận ý nghĩa thực sự về “sự thừa nhận” và “sự cấm
đoán”. Cậu chỉ mới chỉ biết được một góc của sự thật thôi. Cậu cũng sẽ cảm nhận được những phần còn lại, và cậu có thể dựa vào đó. Ví dụ
nhé, trong suốt cả năm trời cậu đã phải đấu tranh với phần động lực mạnh mẽ hơn bao giờ hết mà cậu cho là “bị cấm đoán”. Ngượ c lại thì
người Hy Lạp, và rất nhiều người khác nữa lại đề cao xu hướng này, khiến nó trở nên thiêng liêng và tôn vinh nó bằng những bữa yến tiệc
rực rỡ. Nói cách khác, cái bị ngăn cấm không phải thứ gì vĩnh cửu, nó có thể thay đổi. Bất kỳ ai cũng có thể ngủ với một người phụ nữ ngay
sau khi anh ta thề trước linh mục và kết hôn với nàng. Nhưng những chủng tộc khác thì không làm thế, kể cả thời đại này. Đó là lý do tại
sao mỗi chúng ta phải nhận định cái gì được cho phép và cái gì bị cấm, bị cấm với chỉ riêng ta mà thôi. Việc một người không bao giờ vi
phạm dù chỉ một điều luật nhưng vẫn là một thằng khốn nạn là chuyện hoàn toàn bình thường. Và ngược lại. Thật ra thì đó chỉ là vấn đề
liên quan đến chuyện thích hợp hay không. Những kẻ quá lười biếng và chỉ nghĩ cho bản thân sẽ tuân theo luật. Những kẻ khác thì tự đặt ra
luật cho chính mình, những thứ cấm kỵ với họ lại là điều mà mỗi người chính trực luôn làm, còn những việc mà họ cho phép bản thân làm
thì lại bị người khác coi thường, khinh miệt. Mỗi người đều phải tự đứng trên đôi chân của mình thôi.”

Bỗng nhiên anh ấy im lặng như thể đã hối tiếc vì nói quá nhiều. Tôi có thể nhận ra cảm giác của anh ấy trong những lúc thế này. Dù có
truyền tải ý nghĩ của mình theo cách dịu dàng đại khái, anh ấy vẫn không thoải mái với những cuộc chuyện trò, như từng nói với tôi bữa
trước. Tuy nhiên trong trường hợp của tôi, bên cạnh sự quan tâm thật lòng, anh ấy luôn cố tỏ ra hài hước, vui thích khi nói những lời bẻm
mép thông minh, hay những gì tương tự thế. Nói ngắn gọn thì chính là anh thiếu đi sự ràng buộc tuyệt đối.

Khi tôi đọc lại hai từ cuối cùng tôi vừa viết ra – ràng buộc tuyệt đối – một khung cảnh bỗng hiện ta trong suy nghĩ của tôi, kỷ niệm ấn tượng
nhất tôi từng trải qua cùng với Max Demian trong những tháng ngày khi tôi vẫn còn là một kẻ nửa ấu trĩ nửa trưởng thành. Lễ Kiên
tín [27] sắp tới và bài học của chúng tôi xoay quanh chủ đề về Bữa tối cuối cùng [28]. Đây có lẽ là một sự kiện quan trọng với vị mục sư, thầy
đã dốc hết tâm sức để giải thích với chúng tôi. Gần như ai cũng có thể nếm trải được sự trang nghiêm trong những giờ cuối cùn g của buổi
học. Suốt quãng thời gian qua, cho đến giờ tại thời khắc này, những suy tư của tôi đã trôi xa khỏi lớp học, hướng hết về phía Demian. Khi
tôi đang mong chờ đến lúc bản thân được làm lễ kiên tín, điều mà được lý giải như một sự chấp nhận theo nghi thức trong nhà thờ, tôi
không thể thôi nghĩ rằng giá trị mà những lời răn tôn giáo này phù hợp với tôi không phải ở những gì được học, mà là ở sự gần gũi và sức
ảnh hưởng của Max Demian. Tôi sẵn sàng được đón nhận nhưng không phải bởi nhà thờ mà bởi một thứ hoàn toàn khác, sự sắp xếp của tư
duy và tính cách, thứ chắc chắn phải tồn tại đâu đó trên Trái đất này và tôi sẽ lựa chọn sự tượng trưng hay thông điệp của chúng làm bạn
đồng hành.
Tôi cố kiềm hãm suy nghĩ này lại, nóng lòng được tham gia buổi lễ Thêm sức này bằng chút tự trọng ít ỏi, và thứ phẩm cách này có vẻ
không đồng thuận với những suy tưởng mới mẻ của tôi. Nhưng dù tôi có làm gì, suy nghĩ đó vẫn tồn tại và dần can hệ chặt chẽ với nghi lễ
sắp diễn ra. Tôi đã sẵn sàng hành xử khác biệt với những người khác, để tuyên bố sự tiếp nhận một thế giới suy tưởng mà tôi được biết
thông qua Demian. Vào một ngày chúng tôi đã có một cuộc tranh cãi ngay trước khi vào lớp. Bạn tôi mím chặt môi và dường như không
quan tâm tới những gì tôi nói, hành động đó mang đầy tính lên mặt và ra vẻ ta đây.

“Chúng ta đã nói quá nhiều rồi,” Anh ấy nói với sự nghiêm túc bất thường. “Nói mấy chuyện cao siêu như thế này hoàn toàn vô dụng. Tất cả
những gì cậu làm trong suốt quá trình chỉ là đánh mất bản thân, và việc đó là một tội ác. Một người phải có khả năng luồn cúi ngay chính
bên trong của mình, như loài rùa ấy.”

Sau đó chúng tôi vào học, bài giảng bắt đầu và tôi rất cố gắng để tập trung. Demian không làm phiền tôi. Một lúc sau tôi bắt đầu cảm thấy có
gì kỳ lạ bên phía anh ấy ngồi, một sự trống trải và lạnh lẽo hay cái gì tương tự thế, như thể chỗ ngồi bên cạnh tôi bỗng nhiên bị bỏ không.
Khi cảm giác này trở nên ngột ngạt khiến tôi phải quay qua để nhìn. Và tôi thấy anh ấy ngồi thẳng lưng, bờ vai vẫn cương trực như thường
lệ. Nhưng trông anh ấy hoàn toàn khác mọi khi, có gì đó tỏa ra từ anh ấy mà tôi chưa bao giờ cảm nhận được. Ban đầu tôi nghĩ anh ấy đang
nhắm mắt nhưng thực sự thì không. Nhưng đôi mắt ấy không tập trung nhìn vào thứ gì cụ thể, ánh mắt ấy vô hồn và trống rỗng, đôi mắt
chăm chú như khi nhìn vào một khoảng không xa vời vô định. Anh ấy ngồi đó bất động, thậm chí gần như không hít thở, khuôn miệng có lẽ
được tạc bởi gỗ đá. Gương mặt nhợt nhạt như màu của đá, và mái tóc nâu là thứ duy nhất có vẻ còn mang sức sống. Hai bàn tay anh ấy đặt
trên bàn, bất động như một thứ đồ vật, viên đá hay một loại hoa quả nào đó, nhợt nhạt, thiếu sức sống nhưng không hề ẻo lả mà lại giống
như lớp vỏ bọc cứng cáp phủ lên một sự sống đầy mãnh liệt ẩn giấu bên trong.

Tôi cảm thấy run sợ trước cảnh tượng ấy. Tôi nghĩ đến cái chết, và suýt chút nữa buột miệng nói ra. Tôi say mê ngắm nhìn gương mặt anh,
nhìn lớp mặt nạ nhợt nhạt ấy, rồi tôi bỗng nghĩ, đây mới thực sự là Demian. Khi anh ấy đi kề bên hay nói chuyện với tôi, đó chỉ là một nửa
con người anh ấy mà thôi, một nửa luôn diễn tròn vai, luôn thay đổi mình theo hoàn cảnh, luôn làm theo số đông bởi bản tính nhẫn nhịn
của mình. Demian thực sự trông như thế này, đầy bản năng, thú tính, hiểu biết, đẹp đẽ mà lạnh nhạt, chết chóc, thế nhưng bên trong lại bí
mật căng tràn một sự sống tuyệt vời. Và xung quanh anh ấy là sự trống rỗng lặng lẽ, là thinh không, là khoảng cách xa vời giữa các vì sao, là
cái chết trong cô độc.

Giờ đây Demian đã thực sự là chính mình, tôi cảm nhận được điều đó, và tôi run sợ vì nó. Chưa bao giờ tôi cảm thấy đơn độc đến vậy, tôi
chẳng là gì đối với anh ấy, tôi không thể tiếp cận anh ấy. Demian trở nên quá đỗi xa vời với tôi, hơn cả viễn cảnh anh có đang ở trên hòn
đảo xa xôi nơi tận cùng thế giới. Tôi hầu như không thể bấu víu vào ai vì chẳng ai bên cạnh tôi chú ý đến anh ấy. Mọi người nhẽ ra phải
nhìn vào anh ấy, nhẽ ra phải sợ hãi chứ! Nhưng chẳng một ai lưu tâm. Demian ngồi đó như một pho tượng, và trong suy nghĩ của tôi,
anh ấy kiêu hãnh như một thần tượng được tôn sùng. Một con ruồi đậu lên trán của anh ấy, rồi bay qua cả mũi và môi, vậy mà cơ mặt
không chuyển động dù chỉ một chút. Demian đâu rồi? Anh ấy đang nghĩ gì? Đang cảm thấy gì? Anh đang trên thiên đường, hay đang dạo
chơi dưới địa ngục thẳm sâu? Tôi thậm chí không thể hỏi anh ấy. Cho đến cuối cùng, khi cuối cùng tôi cũng nhìn thấy anh ấy sống lại và bắt
đầu hít thở, ánh mắt chúng tôi chạm nhau, và anh ấy lại giống như trước đây, khi chưa có chuyện gì xảy ra. Anh vừa từ đâu trở về đây?
Anh đã ở đâu vậy? Demian dường như có chút mệt mỏi. Khuôn mặt đã không còn tái nhợt nữa, hai bàn tay đã cử động trở lại, nhưng giờ
mái tóc lại mất đi vẻ rực rỡ huy hoàng, như thể mất đi sự sống.

Suốt vài ngày sau đó, tôi bắt đầu thực hiện phương pháp rèn luyện mới trong phòng ngủ. Tôi ngồi lì trên ghế, không chớp mắt, hoàn toàn
bất động và thử xem mình có thể duy trì trong bao lâu cũng như xem cảm giác của bản thân như thế nào. Cuối cùng tôi chỉ thấy vô cùng
mệt mỏi và mi mắt thì ngứa ngáy vô cùng.

Sau đó không lâu, Lễ Kiên tín cho chúng tôi cũng đã xong xuôi, đây là một sự kiện chẳng có gì đáng nhớ trong ký ức của tôi. Giờ mọi chuyện
đã đổi thay, tuổi thơ tôi đã vỡ vụn thành từng mảnh. Cha mẹ nhìn tôi một cách ngượng nghịu. Các chị với tôi bỗng trở nên xa cách. Sự tỉnh
ngộ đã làm cho những xúc cảm và niềm vui vốn có của tôi trở nên méo mó và trơ lì. Khu vườn thiếu vắng mùi hương, củi gỗ kia cũng chẳng
còn hấp dẫn. Thế giới quanh tôi giống như một đợt thanh lý đồ cũ từ năm ngoái, vô vị và chán ngắt. Vì bao nhiêu bùa mê hấp dẫn đã mất đi
rồi. Sách vở sao quá dày, âm nhạc sao quá ồn ào phiền phức. Tôi héo úa như cây rụng lá khi thu sang. Cây chẳng để tâm tới cơn mưa trút
xuống thân mình, ánh mặt trời chói chang, băng tuyết phủ tràn hay sự sống này từ từ thu mình vào trong. Nhưng cây nào có chết đi, cây chỉ
đang chờ đợi.

Việc tôi bị gửi đến trường nội trú khi kỳ nghỉ kết thúc đã được định đoạt; lần đầu tiên trong đời tôi sẽ phải rời xa ngôi nhà của mình. Thỉnh
thoảng mẹ sẽ tiến tới bên tôi, mang theo bao dịu dàng như thể bà sắp rời xa tôi trước cả khi tôi đi vậy, bà truyền vào tim tôi tình yêu
thương, nỗi nhớ nhà và những kỉ niệm không bao giờ tôi quên. Demian thì không rõ đã đi đâu mất. Tôi cảm thấy tột cùng cô đơn.

Chương 4 – Beatrice

Khi kỳ nghỉ kết thúc mà vẫn chưa một lần gặp lại Demian, tôi đã đến trường Thánh —— [29]. Cha mẹ cũng đi cùng và giao tôi cho một ký túc
xá nam được điều hành bởi một trong những giáo viên tại trường dự bị. Họ chắc sẽ sợ chêt khiếp nếu biết được họ đã để tôi lạc vào một
nơi như thế nào.

Câu hỏi vẫn bỏ ngỏ, rằng cuối cùng tôi sẽ trở thành một đứa con ngoan ngoãn, một công dân có ích, hay sẽ bộc lộ hết bản năng theo con
đường hoàn toàn khác biệt? Đã từ rất lâu rồi kể từ lần cuối cùng tôi gắng tìm hạnh phúc dưới cái bóng của nhà nội. Đôi khi những nỗ lực
của tôi gần như chạm đích, nhưng đến cuối cùng lại thất bại hoàn toàn.
Sự trống rỗng khác thường và sự cô lập mà tôi cảm nhận được bắt đầu sau ngày lễ Kiên tín (quen thuộc làm sao khi nó bắt đầu trở thành
quá khứ, một phế tích, một làn khói mỏng manh) đã chầm chậm trôi đi. Việc rời khỏi gia đình hóa ra chẳng có gì khó khăn, tôi có hơi hổ
thẹn khi bản thân không nhớ nhà chút nào. Các chị tôi khóc rất nhiều, còn tôi vành mắt vẫn cạn khô. Tôi thậm chí còn ngạc nhiên về chính
mình. Tôi vốn là một đứa trẻ ngoan ngoãn và đa cảm, vậy mà giờ đây tôi đã đổi thay thật rồi. Tôi tỏ ra hoàn toàn lãnh đạm với thế giới
ngoài kia, và trong nhiều ngày những giọng nói vọng ra từ những dòng chảy nội tại, dòng chảy cấm nhuốm màu đen tối lẩn khuất tận sâu
làm tôi bận trí. Trong nửa năm qua tôi đã cao thêm vài inch, và tôi đã sống trên cõi đời này trong bộ dáng gầy gò, lêu nghêu và dở sống dở
chết. Tôi đã đánh mất đi sức hấp dẫn của riêng mình và dường như sẽ chẳng còn ai có thể yêu thương tôi nữa. Tôi hoàn toàn chán ghét bản
thân. Dù đôi lúc tôi cũng có ham muốn mạnh mẽ với Demian, nhưng số lần tôi cảm thấy ghét anh ta, kết tội anh ta vì đã khiến cuộc đời tôi
trở nên vô dụng và để cho sự kiệt quệ kia giữ chặt tôi trong vòng quay của nó như một thứ bệnh dịch hôi hám.

Tôi không được yêu thích cũng chẳng được tôn trọng trong ký túc xá nam. Ban đầu tôi thường bị chọc ghẹo, sau đó lại bị xa lánh và bị nhìn
như một kẻ ăn trộm hay một đứa lập dị không được chào đón. Tôi chấp nhận tình hình này, thậm chí còn phóng đại nó lên, tự dằn bản thân
mình vào một vỏ bọc độc lập. Người ngoài khi nhìn vào hẳn sẽ thấy tôi như một thằng con trai lúc nào cũng tỏ ra bất cần, nhưng thực chất,
tôi thường bí mật buông xuôi trước những nỗi sầu muộn và tuyệt vọng đầy ám ảnh. Ở trường, tôi cố gắng xoay sở với lượng kiến thức đã
học từ lớp tôi đã theo trước đây – vì lớp hiện tại học chậm hơn lớp cũ – và tôi bắt đầu coi khinh những đứa cùng tuổi như thể chúng chỉ là
trẻ con.

Tôi cứ như vậy trong khoảng một năm hoặc hơn. Những chuyến về thăm nhà đầu tiên đều nhạt nhẽo, và tôi đã thấy vui khi có thể quay lại
trường.

Đó là khoảng đầu tháng Mười một. Tôi đã bắt đầu quen với việc đi bộ trên đường và chìm vào suy tưởng trong mọi loại thời tiết, tôi đắm
mình vào cảm giác say mê đượm u buồn, sự khinh miệt của thế giới và căm hờn bản thân. Rồi một tối nọ, tôi lang thang trong bóng tối mịt
mù quanh thị trấn. Con đường rộng dài của công viên công cộng vắng vẻ và hiu quạnh, ra hiệu vẫy gọi tôi bước đến, lối đi phủ dày những
lớp lá rụng mà tôi lấy chân khua loạn không ngừng. Mùi hăng nồng, ẩm thấp, bóng những cái cây cao đổ xuống như những bóng ma khổng
lồ lờ mờ lẩn trong màn sương mỏng.

Tôi dừng lại, lưỡng lự phía bên kia đường, nhìn chằm chặp vào tán lá tối tăm, tôi hít một hơi căng đầy thứ mùi ẩm ướt của sự mục rữa chết
chóc mà có gì đó bên trong tôi lại vui mừng tiếp nhận.

Có ai đó bước ra từ phía bên kia đường, áo gió của cậu ta nâng lên theo từng bước đi, tôi đã định tiếp tục việc đang làm nhưng một giọng
nói lại vang lên.

“Chào, Sinclair.”
Cậu ta tiến tới chỗ tôi. Là Alfons Beck, đứa lớn nhất trong ký túc xá. Tôi thường cảm thấy vui vẻ khi gặp anh ta, không có gì phải phàn nàn
trừ việc anh ta đối xử với tôi, hay bất cứ đứa nào nhỏ hơn, bằng cái kiểu chiếu cố như bề trên. Người ta đồn anh ta khỏe như gấu và có thể
khiến giáo viên trong ký túc nhất nhất phục tùng. Anh ta là người hùng trong hàng tá câu chuyện của lũ học sinh.

“Đang làm gì ở đây thế?” Anh ta gọi tôi bằng thứ giọng niềm nở ân cần mà mấy đứa lớn hơn vẫn thường ra vẻ khi nói chuyện với chúng tôi.

“Tôi cá là em đang làm thơ.”

“Không nghĩ tới,” Tôi đáp lời cộc lốc.

Anh ta cười lớn, đi bên cạnh tôi, gợi ra những cuộc hội thoại ngắn ngủi theo cách mà tôi đã không thể quen nổi trong một thời gian dài.

“Em không cần phải sợ nếu tôi không hiểu, Sinclair. Luôn có gì đó nảy ra khi đi bộ lang thang cùng những suy tưởng nhuốm màu thu sang
trong màn sương mờ buổi tối. Tôi biết người ta thường thích làm thơ vào những lúc như thế này. Về thiên nhiên tàn úa, và tất nhiên, về
tuổi trẻ ai đó đánh mất giống như chính sự suy vong của tạo hóa. Kiểu như Heinrich Heine [30] ấy.”

“Tôi không ủy mị như thế,” Tôi biện hộ.

“Được rồi, quên chuyện đó đi. Nhưng với tôi thì trong thời tiết thế này, việc một người đàn ông nên làm là tìm một nơi yên tĩnh và thưởng
thức vài ly rượu ngon hay gì đó tương tự. Em sẽ đi cùng chứ? Hiện tại thì tôi chỉ có một mình thôi. Hay là em không muốn? Tôi không
muốn là kẻ làm hư em, thế đó, nếu như em muốn trở thành đứa ngoan hiền.”

Không lâu sau chúng tôi đã ngồi ở một quán rượu trái phép ở gần ngoại ô, uống thứ rượu không rõ chất lượng và nghe tiếng leng keng khi
chạm cốc. Ban đầu tôi không thích lắm, nhưng ít nhất đây cũng là trải nghiệm mới mẻ. Cuối cùng vì không quen với rượu cồn, tôi bắt đầu
ba hoa. Cái cảm giác cứ như thể cánh cửa sổ nội tâm tôi bỗng nhiên bật mở, thế giới ngoài kia bỗng trở nên lấp lánh. Đã bao lâu, đã bao lâu
rồi tôi không nói chuyện với bất cứ ai. Trí tưởng tượng tôi bắt đầu tuôn ra và thậm chí tôi đã lỡ miệng kể về câu chuyện của Cain và Abel.

Beck lắng nghe với sự hài lòng hiện rõ – cuối cùng ở đây cũng có người mà tôi có thể sẻ chia! Anh ta vỗ nhẹ vai tôi, gọi tôi là một đứa bạn ra
trò, và trái tim tôi căng tràn ngây ngất trước cơ hội được giải thoát ham muốn được nói và giao tiếp bị dồn nén bấy lâu này, thậm chí còn
được một người lớn tuổi hơn công nhận. Từng chữ khi anh ta gọi tôi là thằng nhóc khốn kiếp thông minh chảy vào hồn tôi như thứ rượu
ngọt ngào. Thế giới lấp lánh những màu sắc tươi mới, những suy nghĩ tuôn trào như trăm con suối xiết. Ngọn lửa đam mê bùng lên trong
tôi. Chúng tôi nói về giáo viên, bạn học, và dường như anh ta và tôi hiểu rất rõ về nhau. Chúng tôi nói về người Hy Lạp, những kẻ bỏ đạo nói
chung, và Beck cứ muốn tôi thú nhận việc mình ngủ với gái. Điều này hoàn toàn không nằm trong phạm vi hiểu biết của tôi. Tôi chưa từng
trải qua chuyện đó bao giờ, chẳng có gì đáng nói cả. Và những gì tôi cảm nhận, những gì tôi tưởng tượng ra giày xéo trong tôi, nhưng vẫn
chưa thể nhờ hơi men của rượu để được nới lỏng và giãi bày. Beck có nhiều kinh nghiệm với con gái, vì thế tôi lắng nghe anh ta khoe thành
tích của bản thân mà chẳng nói được lời nào. Tôi nghe về những điều phi thường, những điều mà tôi chưa bao giờ nghĩ có thể trở thành
chuyện thường ngày. Alfons Beck, mới 18 tuổi, nhưng dường như rất trải đời. Tỉ dụ như anh ta biết rằng con gái rất buồn cười, họ chỉ
muốn tán tỉnh, nhưng đó chỉ là đùa giỡn. Nếu muốn yêu nghiêm túc, người ta nên làm quen với những người phụ nữ trưởng thành. Cô
Jaggelt ở cửa hàng văn phòng phẩm là một ví dụ. Cô ấy có thể bàn chuyện làm ăn trong sáng, nhưng sau quầy thu ngân lại làm những điều
ám muội mà một cuốn sách là không đủ để kể hết.

Tôi ngồi đó, vừa bị hấp dẫn vừa chết lặng. Đương nhiên tôi chưa bao giờ yêu cô Jaggelt – chuyện đó thì hoang đường quá. Hình như có
những nguồn khoái cảm lẩn khuất, ít nhất là dành cho những tên con trai lớn hơn, mà tôi thì chưa bao giờ mơ đến. Có điều gì đó không
đúng, nó tầm thường và ít hấp dẫn hơn mùi vị vốn có của tình yêu. Nhưng ít ra thì đây chính là thực tại, là cuộc sống và là những chuyến
phiêu lưu, người ngồi cạnh tôi thì đã kinh qua hết thảy và coi đó là chuyện quá đỗi bình thường.

Một khi đã qua cao trào, cuộc nói chuyện của chúng tôi bắt đầu chìm xuống. Tôi không còn là thằng nhóc khốn kiếp thông minh nữa, tôi
đơn thuần chỉ còn là một thằng nhóc đang lắng nghe một người đàn ông. Nhưng mọi thứ, nếu so sánh với những gì tôi phải trải qua suốt
bao tháng qua, thì đây là chính là thiên đường. Bên cạnh đó, theo những gì khi tôi lờ mờ nhận ra, những điều này đều bị cấm, từ việc ngồi
trong quán bar đến chủ đề cuộc đối thoại. Ít nhất với tôi, đó là một sự nổi loạn.

Tôi vẫn nhớ như in đêm hôm đó. Khi chúng tôi cùng về nhà trong men rượu, đi qua ánh sáng lờ mờ của những cột đèn đường, lần đ ầu tiên
trong đời, tôi say. Cảm giác không dễ chịu gì, thực tế, còn vô cùng đau đớn, nhưng lại có một sự sung sướng dâng lên, sự ngọt ngào của
cuộc chè chén nổi loạn thuộc về cuộc sống và tinh thần. Beck đã lo cho tôi rất tốt, dù luôn mồm chửi tôi là thằng ma mới, vẫn dìu tôi về nhà.
Anh ta lén lút đưa tôi trèo qua cửa sổ hành lang mà không bị phát hiện.

Tôi tỉnh sau một giấc ngủ say như chết kèm theo cơn đau và sự mệt mỏi điên rồ. Tôi ngồi trên giường, áo sơ mi vẫn còn nguyên. Những
mảnh quần áo còn lại rơi rớt trên sàn, nồng nặc mùi thuốc lá và nôn mửa. Giữa những cơn đau đầu, buồn nôn, khát đến cháy họng trộn lẫn,
một hình ảnh mà đã lâu tôi chưa được nhìn thấy hiện ra trong tâm trí, tôi nhìn thấy ngôi nhà của cha mẹ, mái ấm của tôi, cha mẹ, các chị và
khu vườn. Tôi nhìn thấy chiếc giường thân thuộc, ngôi trường, khu chợ, Demian và lớp Thêm sức. Mọi thứ đều tuyệt vời, thuần khiết, và
giờ tôi nhận ra, tất cả vẫn thuộc về tôi ngày hôm qua, vài tiếng trước, và vẫn chờ đợi tôi trở về. Nhưng bây giờ, vào thời khắc này, tất thảy
đều bị phá hủy và bị đày xuống địa ngục, không còn thuộc về tôi nữa, chối bỏ tôi, ghê tởm tôi. Những gì đáng quý nhất, những gì cha mẹ cho
tôi đã trôi xa như những khu vườn thời thơ ấu, từng nụ hôn của mẹ, mỗi mùa Giáng sinh, mỗi lời cầu nguyện hay những buổi sáng ngập
nắng ở nhà, từng nhành hoa trong vườn, tất cả đều bị phá hủy, bị chính tôi giẫm nát. Nếu bàn tay luật pháp tìm đến tôi, trói chặt và bịt
miệng tôi, dẫn tôi đến giá treo cổ như một tên cặn bã, hay một kẻ báng bổ thần thánh trong đền, tôi sẽ không mảy may chống cự, vui mừng
đi theo, và coi đó là lẽ tất nhiên phải vậy.
Và đó chính là hình hài tâm hồn tôi! Là tôi, kẻ suốt ngày tỏ ra khinh bỉ thế giới! Là tôi, kẻ có linh hồn kiêu hãnh và đồng suy nghĩ với
Demian. Là tôi, một cục phân, một con lợn dơ dáy, say xỉn và bẩn thỉu, khó ưa và non nớt, một con quái vật đê hèn trở nên thấp kém vì sự
tham lam ghê tởm. Cũng chính là tôi, người đã đi ra khỏi những khu vườn thuần khiết – nơi mọi thứ đều sạch sẽ, rực rỡ đầy thương mến,
người từng yêu nhạc của Bach và những vần thơ xinh đẹp. Trong cơn buồn nôn và cảm giác sỉ nhục tôi vẫn nghe thấy tiếng cuộc đời mình,
say xỉn và phóng túng, khục khặc những tiếng cười ngu ngốc. Tôi là như thế đấy.

Bỏ qua mọi thứ, tôi suýt chút nữa đã ăn mừng trong những đau đớn của mình. Tôi là kẻ mù quáng và vô tri, tim tôi đã chết lặng quá lâu rồi,
rúm ró kiệt quệ trong góc tối, thế nên dù thậm chí là việc tự kết tội bản thân, hay sự kinh hãi, tất cả những cảm xúc khủng khiếp nhất tôi
đều vui vẻ đón mừng. Ít nhất, tôi cũng có thể cảm nhận được gì đó, ít nhất đâu đó đã có những ánh hồng le lói, tim tôi ít nhất đã bừng lên
ánh lửa. Trong hoang mang, tôi cảm thấy được có gì đó pha giữa tự do và thống khổ nhen nhóm.

Trong khi đó, nếu nhìn từ bên ngoài, tôi đang trượt dốc. Lần đầu say xỉn điên rồ của tôi đã mở màn cho những màn bê tha kế tiếp. Có rất
nhiều vụ đến quán bar chè chén trong trường. Tôi là một trong những đứa nhỏ tuổi nhất tham gia, nhưng tôi cũng không còn là đứa non
nớt khiến người ta phải miễn cưỡng dắt theo cùng. Tôi trở thành đứa đầu sỏ, một ngôi sao, một kẻ bám lấy quán bar đầy liều lĩnh và tai
tiếng. Một lần nữa, tôi lại chìm vào thế giới bóng tối và ngả mình vào vòng tay ma quỷ, và ở thế giới này, tôi khá là có tiếng tăm.

Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy khổ sở. Tôi sống trong một cuộc say sưa tự hủy hoại bản thân, và khi những người bạn cùng trang lứa coi tôi là
thủ lĩnh hay một chiến hữu vui tính sắc sảo, sâu trong tâm hồn tôi lại chất đống u buồn. Tôi vẫn nhớ những giọt nước mắt tràn ra trên
gương mặt mình khi nhìn thấy lũ trẻ chơi đùa vào một sớm Chủ nhật sau một đêm túy lúy ở quán bar, những đứa trẻ với tóc tai được chải
gọn gàng, diện những bộ đồ chỉn chu để đi dự lễ nhà thờ. Tôi thường lấy những lời phê bình chua cay chưa từng có làm trò tiêu kiển cho
mấy thằng bợm nhậu ngồi cùng tôi, và thậm chí thường làm chúng nó kinh ngạc. Nhưng sâu thẳm trái tim, tôi sợ hãi mọi điều, tôi thu mình
lại và khóc lóc trước Chúa trời, khóc cho tâm hồn tôi, quá khứ của tôi, và mẹ hiền của tôi.

Có những lý do tốt đẹp về việc tôi không bao giờ hòa nhập được với những đứa kia, việc tôi luôn cảm thấy cô đơn giữa họ và vì thế mà có
sức chịu đựng lớn đến vậy. Tôi là một anh hùng quán bar, một tên phê bình giễu cợt có thể thỏa mãn khẩu vị của những kẻ tàn bạo nhất.
Tôi thể hiện trí tuệ và dũng khí qua những ý tưởng và đánh giá về giáo viên, trường học, gia đình và nhà thờ. Tôi đương nhiên dám nghe cả
những câu chuyện kinh tởm nhất và thậm chí mạo hiểm chính bản thân mình, nhưng tôi chưa bao giờ đi cùng bạn bè khi họ đi gặp gỡ phụ
nữ. Tôi chỉ có một mình và bị lấp đầy bằng những khát khao tình yêu cháy bỏng, một ham muốn vô vọng biết bao nhiêu, trong khi đó nếu
dùng lời nói của mình để đánh giá, tôi đã là một kẻ chạy theo nhục dục đầy kinh nghiệm rồi. Không một ai lại dễ tổn thương, không một ai
lại e dè nhút nhát như chính tôi. Và khi tôi tình cờ nhìn thấy những cô gái trẻ, tiết hạnh của thị trấn lướt qua, xinh đẹp và chỉn chu, ngây thơ
và duyên dáng, họ như những giấc mơ thuần khiết tuyệt vời, quá tốt để dành cho tôi. Đã có lúc tôi thậm chí không thể bước chân vào cửa
hàng của cô Jaggelt vì tôi sẽ đỏ mặt mỗi lần nhìn thấy cô và nhớ đến những gì Alfons Beck từng kể.
Càng nhận ra mình vẫn cô đơn và lạc lõng giữa những người bạn mới, tôi càng khó thoát ra. Tôi thực sự không biết việc say sưa rượu chè
và huênh hoang khoác loác có làm tôi vui vẻ nổi không. Hơn thế nữa, tôi vẫn không quen với việc uống say để không có chút cảm giác hổ
thẹn nào sau đó. Như thể tôi bị thứ gì đó ép buộc phải làm những điều này. Tôi chỉ đơn giản làm những việc mình phải làm, vì tôi chẳng
biết phải làm gì khác với bản thân. Tôi sợ hãi cảnh cô đơn trong thời gian quá dài, tôi sợ những cảm giác dịu dàng và tao nhã sẽ khiến tôi
mất tinh thần, sợ những suy nghĩ về tình ái dâng trào trong tim.

Điều tôi nhớ hơn tất thảy mọi thứ là một người bạn. Có hai hay ba đứa bạn cùng lớp mà tôi quan tâm, nhưng chúng quá tốt đẹp còn những
thói hư tật xấu của tôi đã bị phô bày hết. Chúng tránh mặt tôi. Tôi được số đông nhìn nhận như kẻ nổi loạn không thuốc chữa, lúc nào cũng
viển vông trời bể. Các giáo viên cũng đã nghe được mấy chuyện về tôi, tôi đã có vài lần bị phạt nghiêm khắc, bị đuổi học có lẽ chỉ là chuyện
một sớm một chiều. Tôi biết mình là một học sinh yếu kém, nhưng tôi biết mình không thể kéo dài tình trạng cứ phải căng thẳng quằn quại
qua từng bài kiểm tra này thêm chút nào nữa.

Có hàng vạn cách Chúa có thể khiến chúng ta trở nên cô đơn và tìm về với bản ngã của chính mình, Đây là cách Ngài đang đối xử với tôi lúc
đó. Giống như một cơn ác mộng, tôi thấy mình đang bò trên con đường bẩn thỉu ghê tởm, trườn qua những thứ rác tưởi và bùn đất, qua
những mảnh vỡ vỏ chai bia và qua những đêm bất cần hoang phí, như một kẻ mơ mộng bị bỏ bùa, thao thức và phiêu dạt. Có những giấc
mơ mà trong đó ta mắc kẹt trong những vũng lầy trên đường đến gặp nàng công chúa, kẹt trong những con ngõ sau nồng nặc các loại mùi
trộn lẫn và chất thải. Đó là cách mọi việc xảy ra với tôi. Theo cách thức không mấy dễ chịu này, tôi bị kết án phải ôm lấy cô đơn, và tôi dựng
lên một cánh cổng khóa kín ngăn cách bản thân và tuổi thơ với vườn Địa đàng cùng một đạo quân bảo vệ tàn nhẫn chói lòa. Đó chỉ là sự
khởi đầu, sự thức tỉnh của niềm tiếc thương nhớ nhung con người trước đây của tôi.

Nhưng tôi vẫn chưa vô tâm đến mức không có chút cắn rứt và sợ hãi nào khi cha nhận được thư thông báo từ giáo viên, lần đầu tiên đến
trường để gặp tôi một cách bất ngờ. Vào cuối đông, khi ông đến lần thứ hai, chẳng gì có thể lay chuyển tôi được nữa, tôi để ông rầy la và
trách mắng, mặc ông nhắc nhở tôi về mẹ. Cuối cùng, ông giận dữ và nói nếu tôi không chịu thay đổi thì ông sẽ bắt tôi thôi học trong nhục
nhã và ném tôi vào trại cải tạo. Sao cũng được! Khi ông đi khỏi, tôi cảm thấy có chút tiếc cho cha, ông ấy chẳng làm được gì cả, không thể
tìm được cách để hiểu tôi, và đôi lúc tôi cảm thấy ông quả thật đáng bị như vậy.

Tôi chẳng quan tâm những gì đang xảy đến với mình. Trong thế giới kỳ lạ và khó ưa của tôi, việc đến những quán bar và khoác lác là cách
tôi chống đối thế giới này, là cách tôi kháng nghị. Tôi phá hủy chính mình theo kế hoạch nhưng đôi khi tôi lại định nghĩa sự việc rằng nếu
thế giới không cần đến những kẻ như tôi, nếu như thế giới không có một nơi tốt hơn và những việc cao cấp hơn để họ làm, thì trong trường
hợp đó, những người như tôi ấy sẽ trở nên hư hỏng, và đó là mất mát của chính thế giới này.

Giáng sinh năm đó là Giáng sinh nhạt nhẽo nhất. Mẹ tôi giật mình khi nhìn thấy tôi. Tôi lớn hơn trước rất nhiều và khuôn mặt gầy gò của
tôi thì xám ngoét như nghiện thuốc, mang theo dáng điệu uể oải và một đôi mắt vô hồn. Thậm chí hàng ria mép lún phún và đôi kính tôi
mới đeo vẫn làm tôi trông kỳ cục. Các chị nấp một bên và rúc rích cười. Mọi thứ đều xấu xí. Cuộc nói chuyện giữa cha con tôi trong phòng
làm việc của ông tràn ngập gắt gỏng chua cay, và chỉ riêng Giáng sinh đã đặc biệt vớ vẩn khi phải vờ vịt chào hỏi một đống họ hàng. Khi tôi
còn là một đứa trẻ, Giáng sinh là một dịp lễ tuyệt vời. Buổi tối là lễ hội của tình yêu và lòng nhớ ơn, khi mối liên kết giữa đứa con và cha mẹ
chúng được nhắc lại. Nhưng giờ đây, thời khắc này lại vô cùng ngột ngạt và ngượng nghịu. Như mọi khi, cha đọc to đoạn văn về những
người chăn cừu trên đồng “theo dõi đàn con của mình”, như mọi khi, các chị lại đứng bên bàn đầy những món quà tặng. Nhưng giọng cha
nghe đầy cáu kỉnh, khuôn mặt già đi vì căng thẳng, còn mẹ tôi thì buồn bã. Mọi thứ đều trật khỏi đường ray, những món quà hay những lời
chúc Giáng sinh, lời đọc Thánh kinh hay cây thông lấp lánh. Mùi bánh gừng tỏa ra ngọt ngào, ứa ra những ký ức đẹp đẽ nhất. Mùi hương
tỏa ra từ cây thông gợi nhớ về một thế giới đã chẳng còn tồn tại. Tôi chỉ mong buổi tối này và cả kỳ nghỉ mau chóng kết thúc mà thôi.

Tôi cứ như vậy cho đến hết mùa đông. Trước đó không lâu, tôi nhận được một lời cảnh báo nghiêm khắc từ hội đồng giáo viên và bị dọa
đuổi học. Chuyện này không thể đi xa hơn nữa. Tôi lại chẳng thèm quan tâm. Trong tôi dâng lên sự căm hận đối với Max Demian, người mà
đến giờ tôi vẫn chưa một lần gặp lại. Tôi gửi thư cho anh ta hai lần trong tháng đầu tiên học nội trú nhưng chẳng nhận được hồi âm, vì vậy
suốt cả kỳ nghỉ, tôi chẳng thèm gọi anh ta dù chỉ một lần.

Tại công viên nơi lần đầu tôi gặp Alfons Beck vào mùa thu, một cô gái đã bước vào tâm trí tôi hồi đầu mùa xuân, khi những bụi gai bên bờ
rào bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Tôi rảo bước một mình, trong đầu đầy những ý nghĩ hèn hạ và những lo lắng về sức khỏe xấu đi, và mọi việc
trở nên tồi tệ hơn khi tôi lúc nào cũng túng thiếu, nợ nần bạn bè và tiếp tục bịa ra những khoản chi phí để moi tiền từ gia đình. Tôi có một
đống hóa đơn đặc cách để mua xì gà và những thứ tương tự. Tôi chẳng lo lắng gì lắm. Nếu như một ngày nào đó sự tồn tại của tôi đột nhiên
chấm dứt, nếu tôi tự dìm chết mình hay bị gửi đến trại giáo dưỡng, thì thêm vài tội cũng chẳng có vấn đề gì. Nhưng tôi lại bị ép buộc phải
sống và đối mặt với những chuyện nhỏ nhặt đáng ghét, chúng làm tôi trở nên khốn khổ và thảm hại.

Nơi công viên trong ngày xuân ấy, một cô gái trẻ đã hấp dẫn tôi. Nàng cao và mảnh dẻ, mặc trên mình chiếc váy thanh tao cùng khuôn mặt
đầy thông tuệ pha chút nam nhi. Tôi thích cô ấy từ cái nhìn đầu tiên. Cô ấy chính là mẫu người tôi thích nhất, và hình ảnh của cô dần lấp
đầy tâm trí tôi. Cô ấy chắc chắn không lớn hơn tôi quá nhiều nhưng lại mang đến cảm giác chững chạc, hay nói nói rõ hơn, cô giống một
phụ nữ hoàn toàn trưởng thành mang trên mình gương mặt lanh lợi và trẻ con. Và tôi thích tất cả những điều đó.

Tôi chưa bao giờ có ý định tiếp cận cô gái tôi yêu, cũng như chưa từng rơi vào tình cảnh này. Nhưng ấn tượng nàng để lại trong tôi s âu sắc
hơn bất kỳ người nào trước đó, và sự si mê ấy đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời tôi.

Bỗng nhiên một hình ảnh mới mẻ đầy kiêu kỳ và thân thương hiện lên trước mắt tôi. Và không một sự thôi thúc nào sâu sắc hay nồng nhiệt
hơn từ bên trong tôi thoát ra như cảm giác khát khao tôn sùng và ngưỡng mộ. Tôi đặt tên nàng là Beatrice [31], dù tôi chưa từng đọc thơ của
Dante [32], tôi biết về Beatrice qua bức tranh của một họa sĩ người Anh [33] mà tôi có giữ một bản chép. Bức tranh tả một phụ nữ trẻ từ thời
Tiền Raphael [34], tay chân nàng dài và mảnh mai, khuôn mặt dài và hai bàn tay cùng dáng điệu thoát tục. Cô gái trẻ trong lòng tôi không
giống người trong tranh, thậm chí cô ấy còn thể hiện ra những cử chỉ yếu ớt và trẻ con mà tôi luôn yêu mến, và có gì đó trên gương mặt
thanh tao và dạt dào tình cảm này.
Mặc dù tôi chưa nói lời nào với Beatrice, cô ấy đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi vào thời điểm đó rồi. Cô dựng lên ảo ảnh của chính mình
trong tôi, cho tôi quyền được tiếp cận ngôi đền thánh, biến tôi thành kẻ sùng kính trong đền.

Ngày hôm sau và cả hôm sau nữa, tôi tránh mặt khỏi mọi quán bar và những cuộc thác loạn về đêm. Tôi lại có thể trở về gặm nhấm nỗi cô
đơn của chính mình, thưởng thức một cuốn sách hay, hay dạo bước trên con đường dài.

Sự chuyển biến đột ngột của tôi kéo theo một loạt những lời chế nhạo phía sau. Nhưng giờ tôi đã có một ai đó để yêu và tôn kính, tìm được
lý tưởng trở lại, cuộc sống lại ngập đầy những gợi ý về bí ẩn và cảm xúc thuở ban đầu, khiến tôi miễn dịch với mọi lời chế nhạo. T ôi lại trở
về là chính mình, dù cho chỉ như một tên nô lệ hay kẻ hầu cận cho một bóng hình dấu yêu.

Mỗi khi hồi tưởng lại quãng thời gian ấy, một cảm giác thương mến ấm áp liền bao phủ lấy tim tôi. Một lần nữa tôi cố gắng hết sức để vun
đắp lại “thế giới ánh sáng” thân thuộc kia từ những vụn vỡ đổ nát trong thời kỳ sụp đổ, một lần nữa tôi hy sinh mọi thứ trong tâm để xua đi
bóng tối và quỷ dữ trong chính mình. Và hơn cả thế, “thế giới ánh sáng” này theo nghĩa nào đó thì chính là do tôi tạo ra. Thế giới ấy không
còn là lối thoát, không còn vòng tay an yên của mẹ để tôi lần về vô tư, và không còn là nơi an toàn cho sự vô trách nhiệm náu thân. Giờ đây
nó là thế giới tự tôi khao khát và sáng tạo, mang theo một bổn phận mới cùng trách nhiệm và sự tự chủ. Dục vọng của tôi, ngọn nguồn dằn
vặt mà tôi luôn trốn chạy, sẽ được lửa thiêng của thế giới kia biến thành một linh hồn sùng đạo. Nào những tối tăm, nào những căm hờn, sẽ
đều bị xóa sạch, sẽ chẳng còn những đêm dài thống khổ, chẳng còn kích thích trước những bức tranh khiêu gợi, không còn những lần nghe
trộm ngoài cửa cấm, không còn tồn tại chút ham muốn nào. Giữa những ngổn ngang tôi dựng nên một bệ thờ hòng tôn vinh Beatrice, bằng
cách hiến dâng mình cho cô ấy, tôi đã dâng bản thân cho thần linh và những vị thánh, hiến tế một phần cuộc đời trộm lại từ bóng tối cho
thế giới của ánh sáng. Mục tiêu tôi hướng đến chẳng phải niềm vui mà là những gì thuần khiết, chẳng phải hạnh phúc mà là cái đẹp vĩnh
hằng, và sự duy linh. Việc sùng bái Beatrice thực sự đã thay đổi đời tôi. Mới hôm qua tôi còn là thằng nhóc thích chỉ trích và tỏ ra hơn
người, hôm nay tôi đã là một thầy tu non nớt mang theo ý nguyện hóa thánh thần. Không những trốn tránh khỏi cuộc sống bê tha mà tôi đã
quá quen thuộc, tôi còn phải biến bản thân thành một người hoàn toàn mới, thuần khiết và thanh cao trong từng hơi thở. Theo đó, tôi nghĩ
đến thói quen ăn uống, ngôn từ tôi nói và quần áo mình mang. Tôi bắt đầu buổi sáng của mình bằng một màn tắm nước lạnh mà ban đầu
phải cố gắng lắm mới làm được. Tôi cư xử nghiêm túc và đường hoàng, biến bản thân thành kẻ cứng nhắc và điều chỉnh dáng đi chậm rãi
trang nghiêm. Người ngoài nhìn vào sẽ thấy thật khôi hài, nhưng với tôi đây là hành động chân thực nhất để biểu hiện sự tôn thờ của mình.

Trong số tất cả những cố gắng thể hiện việc tôi đã giác ngộ, có một điều đã trở nên thực sự quan trọng với tôi. Tôi bắt đầu vẽ. Khởi đầu của
việc này là khi tôi cố gắng chép lại bức Beatrice mà tôi có, nhưng bức tranh đó không thể khắc họa được Beatrice của tôi. Tôi muốn vẽ một
bức chân dung Beatrice cho chính mình. Cùng niềm vui và ngập tràn hy vọng, tôi sắm giấy mới, màu vẽ mới, cọ mới và mang hết vào phòng
riêng mới được cấp của mình, rồi tôi chuẩn bị bảng pha màu, cốc đựng nước, đĩa sứ và bút chì. Tôi hài lòng với những gam màu tao nhã
trong tuýp mua về. Trong số đó có màu xanh ngọc mà khi bóp từ tuýp ra đĩa sứ lần đầu tiên, cho đến hôm nay tôi vẫn mường tượng ra màu
sắc ấy.
Tôi bắt đầu bằng tất cả sự cẩn thận mình có. Vẽ khuôn mặt của một người cho giống quả thật rất khó. Tôi muốn thử vẽ bản thân mình hoặc
vẽ cái gì đó khác trước khi thực sự bắt đầu. Tôi vẽ những đồ trang trí, hoa, những khung cảnh nhỏ xinh tôi tự tưởng tượng ra, có thể là một
cái cây bên cạnh nhà thờ, một cây cầu của người La mã vắt qua hàng bách tươi xanh. Đôi khi tôi hoàn toàn đắm chìm vào trong trò chơi
này, tựa như đứa trẻ vui vẻ bên hộp màu của nó. Cuối cùng tôi quyết định bắt đầu vẽ chân dung Beatrice.

Một vài cố gắng ban đầu đều thất bại hoàn toàn, tôi đã phải bỏ hết đi. Càng cố tưởng tượng khuôn mặt cô gái mà tôi bắt gặp trên phố, tôi
càng lâm vào bế tắc. Cuối cùng tôi bỏ cuộc, để mặc trí tưởng tượng và trực giác của bản thân thỏa sức tung hoành trong những nét cọ đầu
tiên, như thể chính chúng đưa bút vậy. Thế rồi một khuôn mặt trong mơ hiện ra, tôi không thể không hài lòng. Nhưng tôi vẫn kiên trì tiếp
tục và mỗi bức phác thảo mới lại càng trở nên rõ ràng, gần giống như hình mẫu mà tôi hằng khao khát, dù nó giờ đã khác xa thực tế.

Càng ngày tôi càng lún sâu vào việc nguệch ngoạc những nét vu vơ với những đường cọ mơ hồ và việc tạo nên những mảng màu ngẫu
nhiên tùy hứng, đó là kết quả của những vụng về khôi hài trong tiềm thức của chính tôi. Cuối cùng, vào một ngày khi tôi gần như không để
ý, tôi đã tạo ra một khuôn mặt mà thậm chí đã gây ra phản ứng mạnh mẽ hơn bất kỳ gương mặt nào trước đó. Đó không phải khuôn mặt
của cô gái ấy —và nó không cần phải là cô gái ấy nữa. Nó là một thứ gì đó, một thứ vô thực, nhưng không kém phần quan trọng với tôi.
Khuôn mặt có phần giống con trai hơn là con gái, mái tóc cũng không còn mang màu vàng nhạt như mấy cô gái xinh đẹp, thay vào đó là
màu nâu đỏ sậm. Đường cằm mạnh mẽ và quyết đoán, khuôn miệng tựa như bông hoa đỏ thắm. Tóm lại, khuôn mặt ấy có chút gì đó cứng
nhắc như tượng tạc, nhưng ẩn chứa vẻ uy nghi và chôn đầy bí mật.

Khi tôi ngồi đối diện với bức vẽ hoàn chỉnh, một hiệu ứng kỳ lạ ập đến. Tựa như một hình ảnh của Chúa hay chiếc mặt nạ thánh, nửa nam,
nửa nữ, không có tuổi, vừa rõ ràng nhưng cũng quá đỗi mơ hồ, vừa cứng nhắc nhưng cũng vừa ẩn chứa sự sống bí mật. Khuôn mặt d ường
như muốn gửi đến tôi một thông điệp, nó thuộc về tôi, nó đang đòi hỏi điều gì đó từ tôi. Bức chân dung giống một ai đó n hưng tôi thực sự
không thể nhớ ra. Trong suốt một thời gian bức tranh đã ám ảnh suy nghĩ của tôi và trở thành một phần cuộc sống của tôi. Tôi giấu kín nó
trong tủ để không ai nhìn thấy và chế nhạo thôi. Nhưng mỗi khi tôi chỉ có một mình trong phòng, tôi lại lấy bức tranh ra và nói chuyện với
nó. Vào buổi tối tôi sẽ treo tranh lên tường đối diện giường của mình và nhìn chằm chằm cho đến khi cơn buồn ngủ ập đến. Và khi bình
minh gõ cửa, khuôn mặt ấy sẽ là thứ tôi nhìn thấy đầu tiên.

Chính xác vào thời điểm đó, tôi lại bắt đầu mơ, tựa như khi còn bé. Dường như trong hàng năm trời tôi đã không mơ. Giờ thì những giấc
mơ quay lại với những hình ảnh hoàn toàn mới, và hết lần này qua lần khác, bức chân dung lại liên tục hiện ra, đầy sức sống mãnh liệt, có
lúc mang theo sự thân thiện cũng có lúc tràn ngập thái độ thù địch với tôi, đôi khi nhăn nhó vặn vẹo, đôi khi lại đẹp đẽ vô vàn, hài hòa, và
quý phái.

Thế rồi vào một buổi sáng, khi tôi choàng tỉnh giấc sau một giấc mơ, tôi bàng hoàng nhận ra. Khuôn mặt ấy đang nhìn thẳng vào tôi bằng
ánh mắt vô cùng quen thuộc và dường như đang gọi tên tôi. Dường như nó biết tôi là ai, như một người mẹ, như thể ánh mắt ấy gắn chặt
lên người tôi từ khi thời gian bắt đầu trôi. Tôi nhìn bức tranh bằng con tim run rẩy, mái tóc nâu đậm, khuôn miệng mang một nửa nữ tính,
vầng trán cứng cáp sáng ngời một cách kỳ lạ (bức tranh đã hong ráo những vết mực theo ý muốn của chính nó), và tôi cảm thấy mình ngày
một gần với đáp án, một lần nữa, tìm lại điều tôi đã lỡ lãng quên.

Tôi nhảy khỏi giường, tiến gần đến khuôn mặt, và mở to mắt nhìn vào nó, đôi mắt cứng cỏi màu lục, mắt phải có chút cao hơn mắt trái.
Bỗng nhiên con mắt phải khẽ giật, không thể nhầm được dù cái nháy mắt có mờ nhạt và tinh tế đến thế nào, và tôi bàng hoàng nhận ra bức
tranh…

Tại sao lâu đến vậy tôi mới nhận ra? Đó là gương mặt của Demian. Sau đó tôi liên tục so sánh bức chân dung với gương mặt thật của
Demian trong trí nhớ của tôi. Đương nhiên nó không giống hệt, nhưng vẫn có nét tương đồng. Dù thế nào, đó vẫn là Demian.

Khi ánh mặt trời rực đỏ ngày chớm hạ xiên nghiêng qua cửa sổ hướng tây, bóng tôi bắt đầu bao phủ căn phòng. Tôi treo bức trân dung của
Beatrice, hay Demian lên khung cửa sổ và ngắm nhìn ánh sáng của buổi đêm qua nó. Đường nét khuôn mặt trở nên mờ nhạt trừ nơi viền
mắt đỏ, ánh sáng từ vầng trán, và đôi môi hồng nhạt

Tôi ngồi đó ngắm nhìn bức tranh một lúc lâu, thậm chí đến khi mặt trời đã biến mất hẳn, và tôi bắt đầu từng chút cảm nhận rằng đây không
phải cả Beatrice lẫn Demian mà là chính tôi. Bức tranh không giống tôi, tôi không hề cảm thấy vậy, nhưng đó là thứ quyết định cuộc đời tôi,
đây là bản chất thật trong tôi, là số mệnh, hay chính là phần ác quỷ trong tôi. Đó cũng có thể là bạn của tôi nếu tôi có tìm lại nổi dù chỉ một
người. Đó cũng là người phụ nữ tôi sẽ yêu nếu tôi thực sự yêu ai đó. Đó là sự sống cũng như cái chết của tôi, là thanh âm và giai điệu của số
mệnh an bài.

Trong suốt những tuần qua tôi bắt đầu đọc sách, một cuốn sách ấn tượng nhất trong mọi cuốn tôi từng đọc qua. Dù cho sau này t ôi cũng
hiếm có cuốn sách nào khiến tôi ham mê đến thế, có lẽ chỉ trừ Nietzsche [35]. Trong một cuốn của Novalis [36], có kèm cả những bức thư và
cách ngôn dù tôi chỉ hiểu một chút nhưng lại hấp dẫn tôi theo một cách khó lý giải. Một trong những câu tuyên ngôn đó nảy ra trong tâm
trí, và tôi đã viết vào dưới bức tranh: “Số phận và tính cách tuy là hai từ nhưng cùng chỉ một khái niệm.” Tôi giờ đã thấu hiểu nó rồi.

Tôi thường bắt gặp cô gái tôi gọi là Beatrice, nhưng tôi chẳng cảm thấy gì trong những lần chạm mặt đó, chỉ có chút hài hòa nhẹ nhàng, một
linh cảm rằng giữa cô ấy và tôi có một mối liên kết, nhưng không phải cô ấy, chỉ là bức tranh mà thôi; còn cô ấy là một phần thuộc về số
mệnh của tôi.

Ham muốn đối với Demian một lần nữa lại chiếm lấy tôi. Tôi đã chẳng nghe tin tức gì về anh ấy trong nhiều năm rồi. Có lần tôi gặp anh ta
trong kỳ nghỉ, tôi nhận ra rằng mình đã giấu kín cuộc gặp thoáng qua này trong cuốn tập. Và giờ tôi nhận ra mọi sự lúc ấy thật phù phiếm
và đáng hổ thẹn Tôi cần phải sửa chữa chuyện này. Vì thế trong một kỳ nghỉ, khi tôi dạo khắp thị trấn, khoác trên mình chiếc blazer, mang
cái bộ dạng mệt mỏi của những ngày rượu chè sa đọa, nhìn chằm chặp vào khuôn mặt già nua tuyệt vọng của lũ người Philistine, tôi nhìn
thấy người bạn cũ đang tiến đến gần. Thoáng thấy anh ta tôi đã giật mình. Khi ấy tôi không thể ngăn mình nghĩ đến Franz Kromer. Giá mà
Demian đã quên sạch chuyện đó rồi. Thực sự rất khó chịu khi phải mắc nợ anh ta. Đó thực sự chỉ là một câu chuyện trẻ nít ngu ngốc, nhưng
sự hàm ơn thì hẳn là không…

Anh có vẻ như đang chờ đợi. Liệu tôi có nên tiến tới và chào anh ấy? Khi tôi cố gắng tỏ ra tự nhiên hết sức có thể, anh ấy đưa tay ra. Và
đúng vậy, anh ôm chặt lấy tôi, mạnh mẽ, ấm áp nhưng cũng lạnh lùng và đàn ông hơn bao giờ hết.

Anh ấy chăm chú nhìn tôi rồi nói:

“Sinclair à cậu đã trưởng thành thật rồi.”

Còn Demian thì không thay đổi mấy, vẫn già dặn nhưng cũng tươi trẻ hơn tất thảy

Anh ấy cùng đi dạo với tôi, nhưng cả hai chỉ nói về những chuyện vụn vặt. Tôi nhớ ra mình đã từng viết thư cho anh vài lần mà chưa từng
nhận được hồi âm. Tôi mong là anh quên luôn cả chuyện này đi, mấy cái lá thư ngớ ngẩn ấy thật đáng xấu hổ. Và Demian cũng chẳng đề cập
đến mấy lá thư đó.

Vào thời điểm đó tôi vẫn chưa gặp Beatrice và vẫn chưa cho ra đời bức chân dung nào cả. Tôi vẫn đang loạng choạng chìm đắm trong
những trận rượu say. Anh ấy nhận lời đề nghị cùng nhau uống rượu ở vùng ngoại trấn của tôi. Ngay lập tức tôi ra oai thể hiện, gọi nguyên
một chai rượu, rót đầy ly của Demian, chạm ly của tôi vào ly của anh ấy, và tỏ ra như một đứa đã quá quen với rượu chè bằng cách nốc cạn
ly đầu tiên.

“Cậu hẳn là đi bar nhiều lắm nhỉ?” Anh ấy hỏi.

“Phải,” Tôi đáp lời. “Thì cũng có gì khác để làm đâu? Dù sao thì nó cũng vui hơn những trò khác.”

“Cậu nghĩa vậy sao? Chắc thế nhỉ. Về mặt nào đó thì đương nhiên nó rất ổn – chuyện nhậu nhẹt say sưa. Nhưng tôi nghĩ phần lớn những kẻ
hay lui tới mấy quán bar thì không thể say nổi nữa. Với tôi thì việc này chỉ là cách hành xử của lũ tầm thường. Ừ thì có thể uống một bữa
thật say! Nhưng cứ lặp lại như vậy, hết ly này đến ly khác, thậm chí còn không biết là rượu thật hay không. Cậu có nhìn thấy Faust đêm nào
cũng ngồi bẹp ngoài cửa quán bar không?”

Tôi nuốt một hơi rồi nhìn anh ta.


“Đâu phải ai cũng giống Faust chứ.” Tôi cộc lốc.

Anh ta nhìn tôi bằng ánh mắt ngỡ ngàng. Sau đó Demian cười vào mặt tôi theo cái kiểu già dặn thanh tao của anh ấy.

“Thôi, chẳng có gì đáng để cãi nhau cả. Dù sao thì cuộc đời của một kẻ say có lẽ còn vui vẻ hơn cuộc đời của một công dân mẫu mực. Và tôi
có đọc được ở đâu đó, rằng những kẻ huyền bí trước đó đều sống một đời truy cầu khoái lạc. Mấy người như Thánh Augustine [37] đều là
những người nhìn xa trông rộng. Nhưng cũng chính ông ta, lại là kẻ đầu tiên theo đuổi thuyết duy cảm, tôn thờ nhục dục.”

Tôi không tin và cũng chẳng muốn anh ta chiếm thế thượng phong trong mọi hoàn cảnh, vậy nên tôi nói một cách khinh khỉnh:

“Ai chẳng có sở thích riêng. Như tôi đây, chẳng hề có nhu cầu trở thành người nhìn xa trông rộng hay bất kỳ kiểu người nào từa tựa thế.”

Demian ném cho tôi một cái nhìn sắc lẻm qua đôi mắt hững hờ nửa nhắm nửa mở.

“Sinclair yêu dấu của tôi ơi,” Anh ấy nói một cách chậm rãi, “tôi không có ý làm phật lòng cậu đâu. Bên cạnh đó, chẳng ai trong chúng ta biết
tại sao giờ đây cậu lại tự nhiên uống rượu cả. Đó là thứ nằm bên trong nội tại của cậu và vốn đã đưa đường dẫn lối cho cuộc đ ời cậu rồi.
Thật tốt khi nhận ra rằng trong chúng ta có một người biết rõ mọi chuyện, có ý chí và dám làm mọi điều tốt hơn chính chúng ta. Nhưng xin
lỗi nhé, tôi phải về nhà rồi.”

Chúng tôi chào nhau ngắn gọn. Tôi ủ rũ ngồi lại trong quán và cố uống nốt rượu trong chai. Khi chuẩn bị rời đi, tôi phát hiện Demian đã trả
tiền rồi, điều đó càng khiến tôi trở nên nực cười.

Tôi hồi tưởng lại cuộc gặp ngắn ngủi cùng Demian, tôi thực sự không thể quên anh ta. Và những lời anh nói với tôi trong quán bar ven rìa
thị trấn ngày hôm ấy không ngừng quấn lấy tâm trí tôi, vẹn nguyên và tươi mới một cách lạ kỳ. “Thật tốt khi nhận ra bên trong mỗi chúng
ta đều có một người biết rõ mọi thứ.” Tôi đã muốn gặp Demian đến nhường nào. Tôi không biết giờ anh ấy ở đâu, cũng chẳng biết cách liên
lạc. Tất cả những gì tôi biết chỉ là anh ấy có lẽ đang theo học một đại học nào đó, và rằng mẹ của anh ấy đã rời thị trấn sau khi Demian tốt
nghiệp trường dự bị.

Tôi cố nhớ mọi thứ có thể về Max Demian, cố nhớ lại tất cả kể từ hồi xảy ra chuyện với Kromer. Bao điều anh ấy nói với tôi trong suốt
những năm qua dội ngược về tâm trí, và cho đến hôm nay vẫn thật ý nghĩa, vẫn thích hợp và liên quan đến cuộc đời tôi! Và điều anh nói
trong lần gặp cuối cùng không mấy hòa thuận của hai người về việc phung phí cuộc đời sẽ mở lối đi đến con đường thần thánh bỗng hiện
ra trước mắt tôi thật rõ ràng. Chẳng phải đó chính xác là những gì đang diễn ra với tôi sao? Chẳng phải tôi đã sống say sưa và bẩn thỉu, u
mê và lạc lối, cho đến tận khi những tư tưởng chân chính sinh ra bên trong chính mình mang theo những điều mới mẻ của cuộc sống, ham
muốn sự thuần khiết và khát vọng đối với thánh thần hay sao?

Rồi tôi tiếp tục theo đuổi những kỷ niệm cũ kỹ của chính mình. Đêm đã buông và mưa bắt đầu nặng hạt. Trong hồi ức của tôi, tiếng mưa
cũng rơi như thế, đó là một ngày dưới những tán cây dẻ khi anh ấy dò hỏi tôi về Franz Kromer và đoán ra những bí mật đầu tiên của tôi.
Từng việc nối tiếp nhau hiện về, những cuộc nói chuyện trên đường đến trường, những buổi học Thêm sức, và cuối cùng là lần đầu tiên tôi
gặp Demian. Anh ấy đã nói về điều gì? Ban đầu tôi đã không thể nhớ ra, nhưng tôi tự cho mình thời gian để tập trung hướng về mảnh ký ức
ấy. Và giờ đến nó cũng đã trở về. Chúng tôi đứng trước cửa nhà của cha mẹ tôi sau khi anh nói tôi nghe một phiên bản khác cho câu chuyện
về Cain. Rồi anh nhắc đến bức phù điêu cũ kỹ đã mòn đi một nửa trên viên đá đỉnh vòm nơi cổng nhà. Anh nói rằng những thứ đó thu hút
anh và anh nghĩ nó cần được chăm chút hơn.

Đêm đó tôi đã mơ về Demian và bức phù điêu. Giấc mơ liên tục biến đổi. Demian cầm nó trong tay, lúc thì nó nhỏ bé và xám ngắt, có lúc lại
mang đầy quyền lực và bung tỏa sắc màu, nhưng anh ấy giải thích cho tôi rằng dù thế nào đó vẫn chỉ là một vật. Cuối cùng Demian ép tôi ăn
miếng phù điêu đó. Và tôi đã nuốt, mang theo cảm giác kinh dị rằng mảnh phù điêu hình con chim đó sẽ sống dậy bên trong tôi, bắt đầu
phình ra và nuốt chửng lấy tôi từ bên trong.

Tôi tỉnh như sáo trên giường cùng cảm giác sợ hãi cái chết. Tôi choàng tỉnh lại giữa đêm và nghe tiếng mưa đang trút vào phòng. Khi tôi
đứng dậy để đóng cửa sổ, tôi dẫm phải cái gì đó tỏa ra ánh sáng nhàn nhạt trên sàn. Buổi sáng hôm sau tôi phát hiện ra đó là bức tranh của
tôi, nằm trên một vũng nước và giấy thì quăn lại. Tôi kẹp bức tranh vào giữa hai lớp giấy thấm trong một cuốn sách dày cộp. H ôm sau khi
tôi kiểm tra lại, giấy đã khô nhưng bức tranh đã thay đổi. Sắc đỏ trên đôi môi đã nhạt đi và khuôn miệng có nhỏ lại một chút. Giờ thì nó
chính xác là miệng của Demian. Tôi quyết định vẽ một bức tranh mới, một bức phù hiệu hình một chú chim. Tôi không thể nhớ chính xác
trông nó như thế nào cũng như những chi tiết trên đó, nhưng tôi biết dù có nhớ rõ cũng chẳng khá hơn, vì bức phù điêu đã quá cũ và suốt
ngày phải sơn sửa lại. Con chim đang đứng hay đang đậu trên cái gì đó, có lẽ là một đóa hoa hay một cái giỏ, cũng có thể là một cái tổ, hoặc
trên ngọn cây. Tôi không thể để mấy thứ tiểu tiết đó quẩn chân lần nữa, tôi bắt đầu bằng những gì mình có thể tưởng tượng được rõ ràng.
Thoát khỏi mơ hồ tôi lập tức trét ra một mảng màu lớn, vẽ ra đầu con chim lấp lánh ánh vàng kim. Mỗi khi có cảm hứng, tôi lại cắm đầu vào
vẽ, và hoàn thành bức tranh trong vài ngày ngắn ngủi.

Trước mặt tôi đây là hình dáng một con chim săn mồi với cái đầu của loài diều hâu kiêu hãnh, một nửa thân mình kẹt trong quả cầu bóng
tối, chật vật xoay sở tìm đường ra, như thể đang cố giải phóng mình khỏi một quả trứng khổng lồ – tất cả những thứ này đều đối nghịch với
màu nền xanh da trời phía sau. Khi tôi chăm chú nhìn kỹ bức tranh, tôi càng cảm thấy nó giống bức phù điêu với muôn vàn màu s ắc trong
giấc mơ.
Tôi không thể viết thư cho Demian cho dù tôi có địa chỉ của anh ấy đi chăng nữa. Tuy nhiên tôi đã quyết định – giống như linh cảm mơ hồ
mà tôi dựa vào đó để làm mội việc – gửi cho anh ấy bức tranh diều hâu này, cho dù anh ấy có thể sẽ không bao giờ nhận được. Tôi không
gửi kèm lời nhắn nào, thậm chí cả tên mình cũng không, cẩn thận cắt gọn các đường viền và viết địa chỉ cũ của Demian lên đó. Tôi gửi đi.

Kỳ thi sắp đến và tôi phải học nhiều hơn mọi khi. Giáo viên đưa tôi trở lại danh sách yêu thích của họ kể từ khi tôi đột nhiên thay đổi lối
sống đáng khinh trước kia. Tôi không biến thành một đứa học sinh nổi bật, nhưng giờ đây cả tôi hay tất cả những người khác đều không
nghĩ lại về chuyện tôi gần như bị đuổi học nửa năm trước.

Những bức thư cha gửi đã không còn mang những lời chỉ trích đe dọa nữa. Nhưng tôi không hề cảm thấy mình cần phải giải thích cho ông
hay bất cứ ai những sự thay đổi trong tôi đã nảy sinh như thế nào. Chẳng qua sự biến đổi của tôi tình cờ vừa vặn hợp ý cha mẹ và giáo viên
mà thôi. Thay đổi này không khiến tôi hòa nhập hơn với những người khác, cũng không khiến tôi trở nên thân thiết với ai, mà thậm chí tôi
còn cảm thấy cô đơn gấp vạn lần. Sự hoàn lương của tôi dường như đi theo sự chỉ dẫn của Demian, nhưng ngay cả việc này cũng không
phải là một số mệnh đã được định đoạt rõ ràng. Tôi không hiểu rõ chính mình nữa, bởi tôi đã dấn quá sâu vào con đường ấy. Mọi chuyện
bắt đầu từ Beatrice, nhưng cũng có đôi khi tôi lại sống trong một thế giới không thực cùng những bức vẽ và suy tư về Demian, mau chóng
quên đi mọi thứ về cô ấy. Tôi không thể thốt ra từ nào về những giấc mơ và kỳ vọng của mình, về sự thay đổi tận sâu bên trong tôi với bất
cứ ai, cho dù tôi có muốn đi chăng nữa. Nhưng sao tôi có thể muốn làm chuyện đó được đây?

Chương 5 “Chim non phá vỏ chào đời”

Bức họa con chim lý tưởng của tôi đang trên đường tìm đến Demian. Bằng một cách có thể coi là kỳ lạ nhất, tôi nhận được lời hồi âm.

Sau giờ giải lao giữa hai tiết, tôi tìm thấy một tờ giấy nhắn kẹp trong cuốn sách đặt trên bàn. Tờ giấy được gấp theo đúng kiểu mà mấy đứa
cùng lớp tôi vẫn bí mật truyền nhau trong giờ. Tôi chỉ ngạc nhiên rằng tại sao mình lại nhận được tờ giấy đó, tôi vốn chẳng c ó một mối
quan hệ kiểu vậy với bất kỳ ai trong lớp. Tôi đã nghĩ đó có thể là lời mời tham gia vào trò bịp nào đó mà hẳn là tôi sẽ không muốn liên
quan. Tôi không đọc mà để mặc tờ giấy nhắn trên quyển sách, và mãi đến lúc ngồi học mới lại để mắt đến nó.

Vân vê tờ giấy một hồi, tôi mở nó ra một cách tùy tiện, trên đó có viết vài chữ. Một cái nhìn liếc qua đã quá đủ. Một chữ thôi và tôi chết
sững. Hoảng loạn, tôi lần đọc tiếp trong khi nỗi sợ hãi bóp nghẹt lấy trái tim mình:
“Chim non cựa mình tìm cách phá vỏ chào đời. Vỏ kia là cả thế giới của chim non. Kẻ nào muốn tái sinh, trước tiên phải hủy diệt thế giới.
Chim kia tìm về với Chúa, về với vị Thánh có tên Abraxas [38].”

Sau khi đọc đi đọc lại dòng chữ đó, tôi chìm sâu vào mộng tưởng. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, đây là lời hồi đáp của Demian. Không ai khác
biết về bức vẽ của tôi. Anh ta nắm được ý nghĩa của bức tranh và giúp tôi diễn đạt nó. Nhưng tất cả những điều này đã ăn nhập với nhau
bằng cách nào? Và – thứ đè nặng tôi hơn tất thảy – Abraxas biểu thị điều gì? Tôi chưa bao giờ nghe cũng như đọc được từ này. “Tên của vị
thánh đó là Abraxas.”

Tôi không chú tâm nổi vào bài học nữa. Tiết tiếp theo là tiết cuối của buổi sáng, là tiết học của một trợ giảng trẻ, Giáo sư Pollens, người vừa
tốt nghiệp Đại học, người được lòng chúng tôi đơn giản vì anh ta còn trẻ và khiêm tốn.

Giáo sư Pollens dạy chúng tôi về lịch sử – một trong những môn học hiếm hoi mà tôi cảm thấy thú vị. Nhưng hôm nay ngay cả Lịch sử cũng
không thể níu kéo sự chú ý của tôi. Tôi mở sách một cách máy móc nhưng không hề đọc mà chỉ chìm vào suy tư của chính mình. Bên cạnh
đó, tôi thường nghĩ về những điều Demian đã nói trong một buổi học Thêm sức: cậu có thể đạt được mọi điều cậu muốn, chỉ cần cậu có đủ
đam mê. Nếu tôi có đột nhiên chìm vào suy nghĩ trong giờ học, tôi cũng không mảy may lo lắng rằng giáo viên sẽ gọi đến tên. Nếu tôi lơ
đãng, thầy sẽ đột nhiên xuất hiện bên cạnh. Việc đó thực sự đã xảy ra với tôi. Nhưng nếu tôi thực sự tập trung, hoàn toàn chìm đắm vào
dòng suy nghĩ của mình, tôi lại cảm thấy bản thân được bảo vệ. Tôi cũng đã thử nghiệm trò hướng ánh nhìn xuống một người và tôi nhận
ra nó thực sự hữu dụng. Hồi mà tôi vẫn ở bên cạnh Demian, tôi chưa một lần thành công trong việc đó, nhưng giờ đây tôi thường cảm thấy
rằng một ánh nhìn và suy nghĩ sắc bén có thể mang lại một món hời.

Hiện tại tôi hoàn toàn không đặt tâm trí ở tiết Lịch sử hay trường học. Bỗng nhiên giọng của thầy giáo cất lên như một tia sét đánh thẳng
vào tiềm thức của tôi, khiến tôi bàng hoàng tỉnh dậy. Tôi đã nghe được giọng thầy, anh ta đứng ngay bên cạnh tôi, tôi thậm chí còn nghĩ
thầy đã gọi tên tôi. Nhưng anh ta không nhìn vào tôi, tôi thở phào nhẹ nhõm.

Rồi giọng nói của anh ta một lần nữa cất lên. Một cách to và dõng dạc, chữ “Abraxas” vang lên.

Trong suốt phần diễn giải dài ngoằng mà tôi đã lỡ bỏ qua phần đầu, Giáo sư Pollens tiếp tục: “Chúng ta không nên đứng trên quan điểm
duy lý để đánh giá những quan điểm của những giáo phái bí ẩn là ngây ngô như cái cách mà chúng truyền đạt. Cổ nhân không hề biết đến
khoa học như chúng ta ngày nay. Thay vào đó, họ bận tâm đến những nhận định đầy tính triết lý và bí ẩn được xây dựng và trau chuốt thời
bấy giờ. Thứ vượt lên trên cả những ưu tư ấy về khía cạnh nào đó đơn giản chỉ là ma thuật tẻ ngắt và sự phù phiếm mà thôi. Có lẽ nó
thường dẫn đến những lọc lừa và tội ác, nhưng thứ phép thuật này, cũng sở hữu những gì cao quý trong một triết lý sâu sắc. Ví dụ như việc
dạy những điều liên quan đến Abraxas mà tôi vừa nói khi nãy. Cái tên này gắn với những thể thức ma thuật của người Hy Lạp và thường
được cho là tên của một phụ tá thầy phù thuỷ theo quan niệm của một số bộ lạc chưa được khai sáng. Nhưng rõ ràng là Abraxas còn có một
tầm ảnh hưởng sâu đậm hơn nữa. Chúng ta có thể quan niệm rằng đây là cái tên của một vị thánh, với nghĩa vụ tượng trưng là hòa hợp
những điều thần thánh và ác quỷ.”

Người đàn ông có học thức nói kèm theo sự thông tuệ và tất cả say mê, nhưng chẳng ai thèm chú ý, và vì cái tên Abraxas không được nhắc
đến nữa, tâm trí tôi lại trở về với những trăn trở của chính mình.

Câu “hòa hợp giữa cả những điều thần thánh và ác quỷ” vang lên trong đầu tôi. Đây chính là thứ mà những suy nghĩ tôi cần bám lấy. Ý
tưởng này thật quá quen thuộc với tôi sau những cuộc nói chuyện cùng Demian. Trong những ngày tháng cuối cùng của mối quan hệ của
chúng tôi, anh ta nói rằng chúng tôi được ban tặng một vị Chúa trờ để thờ phụng, người chỉ đại diện cho một nửa thế giới tách biệt một
cách tùy tiện (đó là thế giới chính thống, được thừa nhận, và rực rỡ hào quang), nhưng chúng ta nên thờ phụng cả thế giới, có nghĩa rằng
chúng ta hoặc phải có cho mình cả một vị thần kiêm ác quỷ, hoặc ta phải tôn sùng một ác ma bên cạnh thờ phụng thần thánh. Và giờ đây,
Abraxas chính là vị thánh mang trong mình cả chúa và ác ma.

Đã có khi tôi theo đuổi suy nghĩ của mình một cách hăm hở mà không có tiến triển gì. Tôi thậm trí đã lục tung cả thư viện lên để tìm tư liệu
về Abraxas. Nhưng bản tính của tôi chưa bao giờ sẵn sàng làm mấy việc nghiên cứu một cách trực tiếp và tỉnh táo đến vậy, để rồi ban đầu
chỉ tìm thấy những sự thật nặng nề, không dẫn tới đâu.

Bóng hình của Betrice đã từng một thời tràn ngập trong tôi đầy gần gũi và nhiệt thành, nay đã đã dần chìm xuống, hay chính xác hơn, là
chầm chậm rút lui, về phía chân trời ngày một xa xôi, trở nên mờ nhạt và xa hơn, nhạt nhòa hơn. Cô ấy đã không còn có thể thỏ a mãn
những ham muốn trong tâm hồn tôi nữa.

Trong thế giới cô lập riêng biệt mà tôi tự tạo ra, tại nơi đó tôi tồn tại như một kẻ mộng du, một cái gì đó bắt đầu sinh sôi thành hình bên
trong tôi. Đó là ham muốn được sống – hay đúng hơn là ham muốn được yêu. Thôi thúc dục vọng mà tôi đã từng chế ngự bằng cách nghĩ về
sự tôn sùng với Beatrice, đòi hỏi những hình ảnh và những điều mới mẻ hơn. Nhưng những đòi hỏi nơi tôi vẫn mãi không được lấp đầy, và
thậm chí còn trở nên vô vọng hơn bao giờ hết khi tôi tự dối lừa những ham muốn và hy vọng của mình về một điều gì đó từ những người
phụ nữ mà bạn bè quanh tôi thường chơi đùa cùng. Tôi lại mơ những giấc mơ sống động, thậm chí mơ giữa ban ngày thay vì ban đêm.
Những hình ảnh, những bức tranh, những khát khao sinh sôi trong tôi, kéo tôi rời xa thế giới ngoài kia để tôi có thể liên kết với thế giới
trong tâm hồn mà tôi tạo ra, thay vì thế giới thực quanh tôi, một cách bền vững và sống động nhất.

Một giấc mơ hay một hình ảnh huyễn hoặc cứ tiếp tục lặp lại, dần trở nên ý nghĩa với tôi. Giấc mơ, thứ quan trọng và mãi là đặc biệt nhất
trong đời tôi lại trở nên thế này: khi tôi trở về nhà của cha – phía trên cánh cổng bức phù điêu hình con chim tỏa ra ánh sáng vàng kim trên
nền xanh dương mờ phủ. Mẹ từ trong nhà bước về phía tôi – nhưng khi tôi bước vào và muốn ôm lấy bà, tôi lại nhìn thấy một thân hình
không phải mẹ, cao lớn, mạnh mẽ, giống hệt Max Demian và bức tranh tôi từng vẽ, nhưng điểm khác biệt là, dù có phô trương sức mạnh
thế nào, đây vẫn là phụ nữ. Tôi bị kéo về hướng nó và được bao bọc trong một cái ôm chặt đầy rung động. Tôi cảm thấy mê ly nhưng cũng
đồng thời kinh hãi – cái ôm ngay lúc ấy là một hành động sùng bái thiêng liêng, đồng thời cũng là tội ác. Có quá nhiều mối liên kết giữa mẹ
và người bạn của tôi đan xen hòa lẫn trong tấm thân đang ôm lấy tôi trọn vẹn. Cái ôm đó xâm phạm mọi cảm giác tôn sùng nơi tôi, nhưng
tôi vẫn cảm thấy vô vàn hạnh phúc. Đôi khi tôi tỉnh giấc khỏi cơn mơ mang theo cảm giác mê ly ngây ngất, đôi khi lại là nỗi sợ hãi ghê gớm
cùng với một lương tâm bị giày vò như thể tôi đã phạm tội gì khủng khiếp lắm vậy.

Một cách từ từ và vô thức, chính hình ảnh vô cùng thân thết này lai liên quan tới manh mối về vị Chúa Trời mà tôi đang tìm kiếm, một gợi ý
tìm đến tôi từ thế giới ngoài kia. Mối liên kết ngày một thu hẹp dần và trở nên gần gũi hơn, giờ tôi bắt đầu cảm nhận được rằng tôi đang
tìm gọi Abraxas, đặc biệt là trong giấc mơ này. Vui sướng và sợ hãi, đàn ông và đàn bà hòa lẫn vào nhau, những gì thuộc về thần thánh và
những thứ khủng khiếp nhất quấn quít lấy nhau, tội lỗi vụt xuyên qua sự vô ưu nhẹ nhàng nhất, đó chính là hình hài của thứ tôi yêu trong
giấc mơ, và Abraxas cũng vậy. Tình yêu đã không còn gắn với ham muốn nhục dục tối tăm mà tôi từng trải nghiệm lần đầu trong sợ hãi,
cũng không còn sự biến chuyển đầy nhiệt tình mà tôi dành cho Beatrice. Nó là cả hai, thậm chí còn hơn thế. Đó là hình ảnh của một thiên
thần và cả một con quỷ Satan, nam và nữ chảy chung dòng máu, con người và quái vật, thứ cao đẹp nhất và thứ độc ác nhất. Dường như
định mệnh bắt tôi phải sống thế này, giống như là số phận tôi đã được định đoạt từ trước. Tôi mong mỏi, tôi khát khao nhưng đồng thời tôi
cũng sợ hãi vô cùng. Chưa bao giờ, sự do dự băn khoăn cứ mãi luẩn quẩn trong đầu tôi.

Mùa xuân tới là tôi sẽ tốt nghiệp trường dự bị và vào đại học. Nhưng tôi vẫn không thể quyết định mình sẽ học ở đâu và học ngành gì. Tôi
nuôi một hàng ria mép mỏng, tôi trở thành một người đàn ông trưởng thành, và tôi vẫn hoàn toàn vô dụng, không có nổi cho mình một
mục tiêu trong đời. Chỉ có một điều duy nhất mà tôi chắc chắn: giọng nói bên trong tôi và những hình ảnh trong giấc mơ của tôi. Tôi cảm
thấy bất luận thế nào mình cũng phải đi theo tiếng nói ấy dù nó dẫn tôi về đâu. Nhưng thật khó khăn làm sao, và mỗi ngày tôi lại một lần
nữa chống lại nó. Có lẽ tôi điên rồi, đôi khi tôi đã nghĩ như vậy, có lẽ tôi không giống những người khác? Nhưng tôi vẫn có thể làm được
những việc người khác vẫn làm, chỉ cố gắng một chút tôi có thể đọc được triết học Plato, có thể giải các bài lượng giác hay phân tích hóa
học. Điều duy nhất tôi không thể làm được đó là cố lấy hết những bí mật u ám ra khỏi chính mình và giữ nó phía trước như những người
khác vẫn làm, những người biết chính xác họ muốn gì – giáo sư, luật sư, bác sĩ, nghệ sĩ – dù họ phải mất bao lâu và dù cho khó khăn hay lợi
ích có thế nào, quyết định này vẫn sẽ như cũ. Đó là điều tôi không thể làm. Có lẽ tôi sẽ trở thành điều gì tương tự, nhưng sao tôi có thể biết
được? Có lẽ tôi sẽ tiếp tục cuộc tìm kiếm trong hàng năm trời và rồi chẳng thể trở thành một ai đó, và chẳng thể với tới nổi một mục tiêu.
Có lẽ tôi sẽ đạ được mục tiêu ấy, nhưng nó lại hóa quỷ ma có bao nhiêu nguy hiểm và kinh hãi.

Tôi chỉ muốn cố gắng sống yên bình với những sự thúc giục từ sâu thẳm thâm tâm. Cớ sao điều đó lại khó khăn đến vậy?

Tôi đã vài lần cố gắng vẽ nên một ác quỷ vĩ đại trong mơ, nhưng chẳng một lần thành công. Nếu có chăng một lần toại nguyện, tôi sẽ gửi
bức tranh cho Demian. Dù tôi chẳng hề hay biết anh ấy đang ở nơi nào, nhưng tôi biết rằng chúng tôi được kết nối lại với nhau. Và khi nào
thì tôi mới có thể gặp lại anh ấy đây?
Sự thanh bình suốt mấy tháng trong mối quan hệ với Beatrice của tôi đã sớm qua đi. Tại thời điểm đó tôi cảm giác như mình đã tìm được
một bến đỗ an toàn, một hòn đảo yên bình. Nhưng mọi khi, ngay khi tôi vừa thích nghi được với hoàn cảnh, ngay khi có một giấc mơ mang
đến cho tôi đầy hy vọng, thì mọi thứ lại sụp đổ và trở nên vô dụng. U sầu sau mất mát phỏng có ích lợi gì. Giờ tôi như đang ngồi tr ên đống
lửa của những ham muốn không được thỏa mãn, của sự khát khao tột cùng, những thứ cảm xúc thường hay biến tôi trở thành một kẻ điên
cuồng. Tôi thường thấy con quỷ dấu yêu trong mơ rõ ràng còn hơn cả thực tại, rõ ràng hơn cả bàn tay tôi, tôi nói với nó, khóc dưới chân nó,
nguyền rủa nó. Tôi gọi nó là mẹ và quỳ gối phủ phục trước nó trong nước mắt. Tôi gọi nó là tình yêu của tôi và có linh cảm về một nụ hôn
đủ đầy chín chắn. Tôi gọi nó là ác quỷ và loài đĩ điếm, là quỷ hút máu, là kẻ giết người. Nó dụ dỗ tôi vào giấc mơ tình yêu dịu dàng nhất, rồi
lại đến sự vô liêm sỉ tàn tệ nhất, không có gì là quá quý giá hay tốt đẹp, và cũng chẳng có gì là xấu xa và thấp hèn đối với nó.

Tôi trải qua cả mùa đông trong sự bất an vô tận mà tôi khó có thể diễn tả được. Tôi đã quá quen với cô đơn – tôi chẳng còn cảm thấy áp lực
nữa, tôi sống với hình ảnh của Demian, với con chim ưng, với con quỷ hung tàn trong giấc mơ, giống loài vừa là sốmệnh vừa là tình yêu của
tôi. Chừng ấy điều đã là quá đủ để tôi tiếp tục cuộc sống này, bởi tất thảy mọi thứ đã hướng về một khoảng không bao la – tất cả đều hướng
về Abraxas. Nhưng không một giấc mơ nào, không một ý nghĩ nào tuân theo tôi, không một điều gì nghe theo lệnh của tôi, tôi không thể tô
vẽ cho bất cứ thứ gì như tôi muốn. Chúng đến và bắt lấy tôi, tôi nghe theo những gì chúng sai bảo, tôi trở thành hiện thân của chúng.

Dù vậy, tôi đã được trang bị kỹ càng để đối đầu với thế giới ngoài kia. Tôi đã không còn sợ con người nữa, kể cả những đứa bạn học cũng
biết điều đó và họ đối xử với tôi kèm theo một lòng kính trọng bí ẩn mà thường khiến tôi không thể kiềm chếmà mỉm cười. Nếu m uốn, tôi
có thể nhìn thấu phần lớn bọn họ thậm chí đôi khi còn khiến họ phải giật mình. Chỉ là tôi chẳng bao giờ cố làm việc đó. Tôi vẫn luôn bận
tâm về chính mình. Và tôi ước muốn đến tuyệt vọng có thể sống thực sự dù chỉ một lần, có thể thể hiện bản thân mình với thế giới, có thể
có một mối quan hệ và đấu tranh đến cùng với nó. Có đôi khi vào những buổi tối khi tôi chạy băng qua những dãy phố tối tăm và không
bao giờ có thế trở về trước nửa đêm vì thao thức bồn chồn, tôi có cảm giác sẽ gặp được tình yêu của mình vào ngay lúc ấy – khi nàng lướt
qua tôi nơi góc phố tiếp theo, cất tiếng gọi tôi từ ô cửa số sát kề. Còn những lúc khác, tất cả trở thành một nỗi đau đến tận xương và tôi đây
đang sẵn sàng tự sát.

Ngay khi ấy, tôi tìm thấy một nơi ẩn náu kỳ lạ – “một cách tình cờ”, như người ta vẫn nói – dù cho tôi tin rằng chẳng có chuyện gì là ngẫu
nhiên. Khi người ta ham muốn thứ gì đó đến điên cuồng rồi có được, thì đó không phải là bỗng nhiên, mà chính khát khao và sự cưỡng ép
bản thân đã dẫn họ đến với nó.

Có đôi lần tôi nghe thấy tiếng đàn organ vang ra từ một nhà thờ nhỏ bên rìa thị trấn. Tôi đã không dừng lại để lắng nghe. Lần tiếp theo đi
qua nhà thờ, tiếng nhạc lại vọng ra và tôi nhận ra đó là nhạc của Bach. Tôi tiến về cánh cửa và nhận ra nó đã bị khóa, và bởi vì con phố vắng
tanh chẳng có nổi một bóng người, tôi ngồi phịch xuống phiến đá lát đường bên cạnh nhà thờ, dựng thẳng cổ chiếc áo khoác lên và lắng
nghe. Âm thanh ấy không thuộc về một cây đàn to lớn, nhưng âm vực lại tuyệt hảo làm sao. Nó được chơi với sự phô bày ý chí cá nhân một
cách lạ kỳ và sự bền bỉ cao độ. Tôi cảm thấy người chơi biết rõ những báu vật ẩn sâu trong từng khuông nhạc, rằng người ấy đang cố gắng
theo đuổi, không ngừng đập phá cánh cổng, vật lộn tranh đấu vì kho báu này cũng như vì cuộc đời của chính mình. Kiến thức về âm nhạc
của tôi rất có hạn, nhưng từ ngày bé tôi đã có trực giác cảm nhận âm nhạc bên trong mình như một điều gì đã quá đỗi hiển nhiên.

Người nhạc công cũng chơi cả nhạc hiện đại hơn, hình như là Max Reger. Nhà thờ gần như chìm vào bóng tối, chỉ còn lại vài tia sáng le lói
xuyên qua cửa sổ gần nhất nơi tôi đứng. Tôi chờ đến khi tiếng nhạc ngừng hẳn, đi đi lại lại trước nhà thờ cho đến khi thấy người nhạc công
bước ra. Anh ta vẫn còn trẻ, có vẻ lớn tuổi hơn tôi, dáng người béo lùn, vai ngang, và anh ta đi có phần gấp gáp, bước những bước dài mạnh
mẽ nhưng lại có phần miễn cưỡng.

Từ đó tôi thường ngồi ngoài nhà thờ hay đứng lên ngồi xuống trước cửa cả buổi tối. Thậm chí có lần tôi đã phát hiện ra cánh cửa để mở và
đã ngồi nơi băng ghế trong nhà thờ suốt nửa tiếng đồng hồ, rùng mình vì rét, nhưng chừng nào người nhạc công còn chơi đàn nơi giáo
đường, chừng đó tôi vẫn còn cảm thấy hạnh phúc. Tôi không chỉ nhận ra tính cách của anh ta thông qua âm nhạc anh ta chơi, mỗi bản nhạc
anh ta trình diễn cũng đều có sự kết nối với bài kế tiếp, một mối dây liên kết bí mật. Bản nhạc nào anh ta đàn cũng ngập tràn đức tin, sự
quy phục và dâng hiến. Nhưng đó không phải là sự tôn sùng theo lề thói của những người cầu nguyện hay những vị mục sư, lòng mộ đạo
giống như những người hành hương và hành khất thời Trung Cổ, cũng không phải kiểu sùng bái bằng sự quy thuận vô điều kiện tới một
cảm xúc chung vượt qua cả mọi lời xưng tội. Anh ta cũng chơi những bản nhạc trước thời Bach, và những nhạc sĩ già nua của Ý. Và tất cả
những bài nhạc cùng thể hiện một điều, hay có chăng là chính tâm hồn người chơi nhạc: sự khao khát, sự đền tội sâu sắc nhất với thế giới
này và sự giải tỏa nỗi đau một cách mãnh liệt, một sự tha thiết lắng nghe góc tối trong tâm hồn một người, một sự quy hàng say sưa và sự
tò mò mạnh mẽ về những điều kỳ diệu.

Một lần khi tôi đi theo người nhạc công sau khi anh ta rời khỏi nhà thờ, tôi thấy anh ta bước vào một quán rượu nhỏ ở ven thị trấn. Tôi
không thể ngăn bản thân mình cất bước đi theo. Và lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh ta một cách rõ ràng. Anh ta ngồi ở một góc xa trong căn
phòng nhỏ, đội một chiếc mũ nỉ màu đen kèm theo một bình rượu trước mặt. Gương mặt anh ta giống như tôi tưởng tượng, xấu xí và có
chút hoang dã, bướng bỉnh và có nét tọc mạch, thất thường nhưng lại quyết đoán, nhưng miệng anh ta lại mang một nét trẻ con nhẹ nhàng.
Tất cả nét nam tính và sức mạnh đều tập trung ở đôi mắt và vùng trán, trong khi phần dưới của khuôn mặt lại mang theo nét nhạy cảm và
chưa trưởng thành, không bị kiềm chế và có phần mềm mại. Đường cằm trẻ con mang theo vẻ phân vân đối lập hoàn toàn với vầng trán và
đôi mắt – bộ phận mà tôi thích, đôi mắt nâu sậm ấy, ngập đầy kiêu hãnh và thái độ thù địch.

Tôi ngồi xuống đối diện anh ta mà chẳng nói lời nào. Chúng tôi đơn giản chỉ là hai vị khách trong một quán rượu nhỏ. Anh ta nhìn tôi như
thể muốn đuổi tôi đi, nhưng tôi chẳng hề nhúc nhích, bất động nhìn chằm chằm vào anh ta cho đến khi anh ta phải càu nhàu khinh khỉnh:

“Rốt cuộc cậu đang nhìn cái quái gì hả? Cậu muốn gì đây?”

“Không, tôi chẳng muốn gì từ anh cả.” Tôi nói. “Anh đã cho tôi một món đủ hời rồi.”
Anh ta nhíu chặt đôi lông mày.

“Vậy ra cậu là một người yêu nhạc. Tôi phát tởm mấy đứa điên vì âm nhạc.”

Không để cho anh ta dọa dẫm, tôi nói:

“Tôi thường nghe anh đàn nơi nhà thờ. Nhưng tôi không hề muốn gây rắc rối cho anh. Tôi chỉ là nghĩ mình vừa tìm thấy một điều gì đó đặc
biệt. Tôi thực sự không biết nó là gì. Nhưng mà xin đừng để ý đến tôi. Tôi đã nghe tiếng đàn của anh trong nhà thờ.”

“Nhưng tôi lúc nào cũng khóa cửa.”

“Không lâu trước đây anh đã quên và tôi đã vào bên trong ngồi. Còn thường thì tôi vẫn đứng phía ngoài hoặc là ngồi bên lề đường.”

“Thật sao? Lần tới cậu có thể vào trong, bên trong ấm hơn đấy. Cậu chỉ cần gõ cửa là được. Nhưng phải gõ mạnh vào và nhớ đừng có gõ
trong lúc tôi đang đàn. Giờ đi thẳng vào vấn đề, cậu muốn nói gì với tôi? Cậu nhìn vẫn còn trẻ, có thể là sinh viên hay gì đó. Cậu là nhạc công
à?

“Không. Tôi chỉ thích nghe nhạc mà thôi, nhưng chỉ loại nhạc mà anh chơi ấy, một thứ âm nhạc không hề dè dặt, thứ nhạc khiến người ta
cảm thấy rằng một người đang khuấy tung thiên đường và địa ngục. Tôi tin rằng tôi yêu thứ nhạc ấy vì nó vượt xa mọi rào cản l uân lý. Tất
cả những thứ ngoài kia đều khoác trên mình thứ vỏ bọc đạo đức mà đó không phải điều tôi hằng tìm kiếm. Tôi chưa bao giờ phù hợp với
mấy thứ phẩm hạnh đó. Tôi không biết phải giải thích sao cho tốt nữa. Anh có biết có một vị thần vừa là Thần thánh lại vừa là Ác quỷ cùng
một lúc không? Chắc chắn phải có một người như thế. Tôi đã nghe về điều này rồi.”

Người nhạc công đẩy chiếc mũ rộng về phía sau một chút và hất tóc che khỏi mắt và nhìn tôi chằm chằm. Anh ta hạ thấp gương mặt xuống
bàn và hỏi tôi một cách mềm mỏng đầy mong chờ:

“Vị thần cậu nói đến tên là gì?”

“Tiếc là trừ cái tên ra thì tôi chẳng biết gì thêm về vị thần đó. Tên của ngài là Abraxas.”

Người nhạc công đánh mắt xung quanh như thể sợ ai đang nhìn trộm. Rồi anh ta lại gần tôi và thì thầm:
“Đó chính là những gì tôi nghĩ. Cậu là ai?”

“Một sinh viên ở trường dự bị.”

“Sao cậu lại biết về Abraxas?”

“Tình cờ thôi.”

Anh ta đập bàn khiến cho rượu sánh cả ra ngoài.

“Tình cờ ấy hả? Đừng có nói vớ vẩn, anh bạn trẻ! Một người không thể tình cờ nghe về Abraxas được, và đừng quên, tôi sẽ kể cho cậu nghe
thêm về ngài. Tôi có biết chút chút đấy.”

Anh ta im lặng và đẩy chiếc ghế về vị trí cũ. Khi tôi nhìn anh ta bằng ánh mắt đầy mong chờ, anh ta làm mặt: “Không phải ở đây. Để khi
khác. Đây, cầm lấy đi.”

Anh ta kéo áo khoác vẫn đang mặc trên người, lấy ra một ít hạt dẻ nướng và ném về phía tôi. Tôi không nói gì liền bắt lấy, ăn và cảm nhận
hương vị của nó.

“Được rồi,” sau một lúc anh ta lại thì thầm. “Cậu tìm thấy thông tin về Ngài ở đâu?”

Tôi đã không đắn đo mà kể cho anh ta.

“Tôi đã có một thời gian cô đơn và tuyệt vọng,” tôi bắt đầu. “Rồi tôi nhớ đến một người bạn tôi có vài năm trước, người mà theo tôi nghĩ là
thông tuệ hơn tôi rất nhiều. Tôi đã vẽ một bức tranh, về một con chim đang cố vùng vẫy thoát khỏi một quả cầu. Tôi gửi nó cho anh ấy. Sau
một thời gian tôi đã tìm thấy một mảnh giấy có ghi dòng chữ: “Chim non cựa mình tìm cách phá vỏ chào đời. Vỏ kia là cả thế giới của chim
non. Kẻ nào muốn tái sinh, trước tiên phải hủy diệt thế giới. Chim kia tìm về với Chúa, về với vị Thánh có tên Abraxas.””

Anh ta không nói gì. Chúng tôi bóc vỏ hạt dẻ rồi uống rượu.

“Một ly nữa nhé?” Anh ta hỏi.


“Không cảm ơn. Tôi không thích uống cho lắm.”

Anh ta cười, kèm theo chút thất vọng.

“Được rồi. Chuyện của tôi thì khác. Tôi sẽ ở đây nhưng nếu cậu muốn rời đi thì tùy.”

Lần tiếp theo chúng tôi gặp nhau, sau khi anh ta chơi đàn xong, anh ta có vẻ không nói nhiều như trước nữa. Anh ta dẫn tôi qua một con
ngõ nhỏ, đi vào một ngôi nhà cũ kỹ và tới một căn phòng lớn nhưng có phần tối tăm hoang hoải. Ngoài cây đàn piano, chẳng có gì trong căn
phòng cho thấy anh ta là một nhạc công, nhưng giá sách đồ sộ đã khiến căn phòng trở nên sặc mùi học giả.

“Anh có nhiều sách quá!” Tôi thốt lên.

“Một phần thuộc về thư viện của cha tôi – tôi sống cùng nhà với ông ấy. Được rồi, chàng trai trẻ. Tôi sống cùng cha mẹ nhưng tôi không thể
giới thiệu cậu với họ được. Người lạ không được chào đón cho lắm trong căn nhà này. Tôi là một đứa lạc loài. Cha tôi là một mục sư đức
cao vọng trọng và thường thuyết giảng trong thị trấn. Còn tôi, nói ra để cho cậu nhìn thấy ngay vấn đề, là đứa con trai tài năng đầy hứa hẹn
của ông ấy, một kẻ lầm đường lạc lối, và về mặt nào đó, đã phát điên. Tôi đã từng một sinh viên theo học thần thọc, nhưng không lâu trước
bài kiểm tra, tôi đã bỏ học tại cái khoa vô cùng đáng kính này; Nhưng điều đó không có nghĩa là tôi đã từ bỏ ngành này hoàn toàn, bởi đối
với cá nhân tôi mà nói, tôi vẫn mong muốn tìm hiểu con người ta đã dựng nên loại thần thánh gì cho họ. Hơn nữa, hiện tại tôi còn là một
nhạc công và có vẻ như tôi sẽ nhận được lời đề nghị nhỏ nào đó với tư cách người đánh đàn. Sau đó tôi sẽ trở lại làm việc cho nhà thờ.”

Ánh đèn bàn leo lắt tỏa ra những tia sáng yếu ớt, tôi nương vào đó mà nhìn một loạt sách trên giá, tôi chú ý đến những tựa sách viết bằng
tiếng Hy Lạp, Latinh và Do thái cổ trong khi người nhạc công kia đã nằm xuống sàn nhà để làm gì đó.

“Nằm xuống đây,” sau một lúc thì anh ta gọi. “chúng ta sẽ luyện tập một ít học thuyết Triết học. Điều đó nghĩa là ngậm miệng lại, nằm sấp
xuống và ngẫm nghĩ.”

Anh ta quẹt một que diêm để đốt giấy và củi trong lò rồi vươn vai. Ngọn lửa bốc cao, anh ta cời mồi lửa và chăm chút nó thật cẩn thận. Tôi
nằm xuống bên cạnh anh ta trên chiếc thảm cũ mòn. Chúng tôi đã im lặng nằm sấp cả giờ đồng hồ trước ánh lửa lung linh, ngắm n hìn
những ngọn lửa bốc lên thét gào rồi chìm xuống lặp đi lặp lại, bập bùng rồi lại co cụm, và cuối cùng nhẹ nhàng lụi tắt chỉ còn lại chút tàn
tro.
“Sự sùng bái lửa là thứ ngu ngốc nhất người ta từng nghĩ ra,” có lúc anh ta lại tự lẩm bẩm. Còn không thì chẳng ai trong chúng tôi nói lời
nào. Tôi nhìn chằm chằm vào đống lửa, để bản thân lạc vào những giấc mơ và sự tịch mịch, nhận ra những hình hài nhảy múa trong màn
khói và những bức tranh trong đám tro tàn. Bỗng tôi giật mình, người kia ném một miếng nhựa cây vào đám lửa, một ngọn lửa mảnh mai
bốc lên và tôi nhận ra con chim ưng đầu vàng. Từ đám tro đang lụi dần, những đường sáng đỏ vàng le lói đan thành lưới, những con chữ,
ký ức về những khuôn mặt, con vật, cây cối, sâu trùng và rắn dần hiện ra. Thoát khỏi mơ màng, tôi nhìn vào người bên cạnh, tay anh ta
đang đưa lên cằm, ánh nhìn say mê hướng về đám tàn tro với sự quy thuận hoàn toàn.

“Tôi phải đi rồi.” Tôi nói nhỏ.

“Đi đi. Tạm biệt.”

Anh ta không ngồi dậy. Đèn đã tắt, tôi mò mẫm tìm đường ra khỏi căn phòng tối và hành lang của ngôi nhà u mê cũ kỹ. Ra đến ng oài, tôi
ngừng lại và nhìn một lượt mặt tiền. Các ô cửa sổ đều tối đen như mực. Ánh đèn đường hắt vào một mảnh đồng nhỏ treo nơi cửa trước,
trên đó có ghi: “Mục sư nhất đẳng, Pistorius.”

Cho đến khi tôi về nhà và ngồi trong căn phòng nhỏ sau bữa đêm, tôi mới nhận ra mình chưa được nghe điều gì liên quan đến Abraxas hay
Pistorius – chúng tôi đã nói với nhau không nổi vài từ. Nhưng tôi vẫn rất thỏa mãn với chuyến viếng thăm này. Và anh ta đã hứa sẽ chơi
một bản nhạc cũ nhẹ nhàng vào lần gặp tiếp theo của chúng tôi, một điệu nhạc của Buxtehude [39].

Và khi tôi không hề để ý, nhạc công Pistorius đã tặng cho tôi bài học đầu tiên khi chúng tôi nằm trên sàn trước đống lửa trong căn phòng
khổ hạnh u buồn của anh ta. Nhìn chăm chú vào ngọn lửa như thuốc dành cho tôi, đó là những khuynh hướng luôn tồn tại trong tôi nhưng
chưa bao giờ được nuôi dưỡng. Và dần dần tôi đã lĩnh hội được một vài trong số đó.

Dù khi còn bé tôi có thói quen nhìn chằm chằm vào những hiện tượng tự nhiên kỳ lạ, không hẳn là quan sát chúng theo kiểu quy phục phép
màu của chúng, sự mơ hồ hay ngôn ngữ nào sâu xa. Những mảnh rễ cây dài, những hòn đá khoác trên mình ngàn đường vân đầy màu s ắc,
những mảng dầu loang trên mặt nước, sự khúc xạ ánh sáng ở những mảnh thủy tinh – tất cả những thứ này đều mang cho tôi một cảm giác
diệu kỳ: đặc biệt là nước và lửa, khói, những cuộn mây, và bụi, nhưng phần lớn tất cả những vòng xoáy sắc màu đều tụ lại trước mắt tôi
ngay khi tôi nhắm lại. Tôi bắt đầu nhớ về những điều này sau chuyến viếng thăm tới nhà Pistorius, bởi tôi cảm nhận được một sức mạnh
và sự hân hoan và sự tự nhận thức bản thân mình một cách mãnh liệt từ buổi tối hôm ấy. Nhờ vào việc tiếp tục nhìn vào đống lử a, tôi thật
sự thấy vô cùng thoải mái và mang theo cả cảm giác tưởng thưởng.

Tôi đã thêm điều này vào một trong số những trải nghiệm ít ỏi giúp mình trên con đường tìm kiếm mục tiêu đích thực của cuộc đời: việc
quan sát những hình thể này. Sự quy phục những điều phi lý, kỳ lạ và mơ hồ của tự nhiên tạo ra trong chúng ta một cảm giác sự hài hòa nội
tại cùng với sức mạnh tạo ra những hiện tượng thiên nhiên này. Chúng ta sẽ sớm trở thành nạn nhân của sự cám dỗ, coi chúng như tâm
trạng của chính mình, như những sáng tạo của riêng ta, và nhìn những lằn ranh chia cách ta khỏi mẹ thiên nhiên rung lên rồi t an biến.
Chúng ta sẽ trở nên quen thuộc với việc không thể quyết định liệu những hình ảnh phản chiếu qua võng mạc là do cảm giác đến từ bên
ngoài hay bên trong. Không nơi đâu như trong cái lối suy nghĩ này, chúng ta có thể tìm tòi phạm vi sáng tạo, hay biết rõ tâm hồn ta có thể
tham gia vào sự kiến tạo bền vững của thế giới sâu sắc đến đâu, một cách dễ dàng hơn và giản đơn hơn. Bởi lẽ chỉ có một vị thánh thần
đồng nhất hiện hữu trong chúng ta và mẹ Thiên nhiên, và nếu thế giới ngoài kia bị hủy diệt, thì mỗi chúng ta sẽ phải đủ khả năng xây dựng
lại: núi và sông, cây và lá, rễ và hoa, phải, từng tạo vật thuộc về thiên nhiên đều đang âm ỉ bên trong chúng ta, hình thành trong tâm hồn bất
diệt, khi mà ta không thể biết rõ bản chất nhưng lại nhận thức được thông qua sức mạnh của tình yêu và sáng tạo mà nó biểu hiện ra.

Tôi xác nhận được những quan sát của mình chỉ vài năm sau đó, trong một cuốn sách của Leonardo da Vinci, người đã có lần miêu tả việc
nhìn vào một bức tường mà rất nhiều người khạc nhổ vào đó thú vị cực độ đến thế nào. Khi đối diện với từng vết ố bẩn trên bức tường ẩm
ướt, ông ta hẳn sẽ có cảm giác giống với Pistorius và tôi trước ngọn lửa kia.

Trong lần gặp tiếp theo, người nhạc công ấy giải thích cho tôi rằng:

“Quan niệm của chúng ta về giới hạn của bản thân luôn quá hạn hẹp. Nói chung là chúng ta chỉ chấp nhận một phần bản ngã, phần mà
chúng ta coi như nét riêng của cá nhân hay là sự khác biệt so với những quy chuẩn thông thường. Nhưng ta lại được tạo nên bằng mọi thứ
mà thế giới này chứa đựng, từng người chúng ta, và vì như cơ thể chúng ta mang theo phả hệ của quá trình tiến hóa từ loài cá hay thậm chí
những loài cổ xưa hơn nữa, chúng ta phải nhớ kỹ rằng tất cả những gì trong tâm hồn ta đều từng hiện hữu trong tâm hồn của con người.
Mỗi một vị thánh hay một con quỷ từng tồn tại, dù là người Hy Lạp, người Trung Quốc hay người Zulu [40], đều ngự ở bên trong chúng ta,
manh nha những nguy cơ tiềm tàng, như những điều ước, hay như những lựa chọn khác nhau. Nếu loài người biến mất khỏi bề mặt trái
đất chỉ để lại một đứa trẻ tài năng nhưng lại không được giáo dục chính quy tử tế, đứa trẻ ấy cũng sẽ một lần nữa phát hiện ra toàn bộ quá
trình tiến hóa, và rồi những vị Thánh, những ác ma, những thiên đường, những lời răn, thậm chí cả kinh Cựu ước và Tân ước cũn g sẽ một
lần nữa ra đời.”

“Phải, sao cũng được,” Tôi đáp lại. “Nhưng giá trị của một con người trong trường hợp đó là gì? Tại sao ta cứ luôn cố đấu tranh không
ngừng trong khi mọi thứ đều đã hoàn chỉnh vẹn toàn bên trong mỗi người?”

“Dừng!” Pistorius la lên. “Có một điểm khác biệt rất lớn giữa việc chỉ mang theo thế giới nội tại và việc nhận thức được nó. Một kẻ điên có
thể nảy ra những ý tưởng khiến cậu nhớ đến Plato, và một sinh viên lễ độ theo trường dòng cân nhắc lại sự tương quan mang tính thần
thoại sâu sắc trong số những tín đồ của Hiên giáo [41]. Nhưng anh ta lại không hề nhận thức được chúng. Chừng nào chưa nhận ra, anh ta
sẽ chỉ mãi là cái cây hay hòn đá, hoặc hơn cả thì cũng chỉ là một con vật. Nhưng ngay khi tia sáng đầu tiên của bình minh giác ngộ gõ cửa
trong tâm, anh ta hoàn chỉnh là một con người. Cậu không thể coi tất cả những sinh vật hai chân mà cậu gặp trên phố là con ng ười chỉ bởi
vì chúng có thể đi thẳng lưng và mang thai chín tháng! Trong số đó có bao nhiêu là cá hay là cừu, bao nhiêu là sâu bọ hay thiên sứ, bao
nhiêu là kiến, bao nhiêu là ong, điều đó quá rõ ràng! Những kẻ ấy đều có thể trở thành người, nhưng chỉ khi nhận thức được khả năng đó
mà thôi, thậm chí có thể học để khiến bản thân nhận thức được những điều này, nhưng khả năng đó chỉ tồn tại khi anh ta thực sự lưu tâm.”

Đó là ý nghĩa của những cuộc nói chuyện giữa chúng tôi. Tôi không phải đối diễn với bất cứ thứ gì hoàn toàn mới, hay quá bất ngờ. Nhưng
mọi thứ, dù là những sự việc bình thường nhất cũng đều giống với những cú đập búa nhẹ nhàng liên tục vào cùng một chỗ trong tôi, tất cả
những việc đó giúp chính tôi thành hình nên dạng, tất cả đều bóc trần từng lớp da thịt, phá vỡ vỏ trứng, và sau mỗi cú đánh t ôi lại ngẩng
cao đầu hơn một chút, tự do hơn một chút, cho đến khi con chim vàng của tôi ló đầu ra khỏi lớp vỏ của quả cầu thế gian.

Thường thì chúng tôi cũng nói về cả những giấc mơ của mỗi người. Pistorius biết cách diễn giải chúng ra như thế nào. Tôi chợt nghĩ đến
một ví dụ. Tôi đã mơ rằng mình có thể bay, nhưng lại bay bằng cách phóng thẳng vào không trung để rồi không thể điều khiển được nữa.
Cảm giác được bay khiến tim tôi hồ hởi, nhưng sự vui vẻ ấy lại mau chóng biến thành nỗi sợ hãi khôn cùng khi tôi nhận ra bản thân càng
ngày càng bay cao, cao mãi, và trở nên ngày một bất lực. Ngay lúc đó tôi đã khám phá ra rằng tôi có thể điều chỉnh việc bay lên hoặc bay
xuống bằng cách điều hòa hơi thở.

Và Pistorius nói thế này:

“Sức đẩy giúp cậu bay là một vật sở hữu vĩ đại của con người. Ai cũng có khả năng đó. Đó là cảm giác được kết nối với nguồn gốc của sức
mạnh, nhưng người ta cũng sẽ sớm thấy sợ hãi cái cảm giác này. Vì nó quá nguy hiểm! Đó là lý do tại sao phần lớn con người đều lột bỏ đôi
cánh để chọn cách bước đi và tuân theo luật lệ. Nhưng cậu thì khác. Cậu sẽ tiếp tục bay. Và nhìn xem! Cậu đã phát hiện ra rằng cậu có thể
dần dần điều khiển được đường bay của mình, rằng trong cái sức mạnh lớn lao kéo cậu vút lên cao, còn lẩn khuất một sức mạnh nhỏ bé mà
tinh tế của chính cậu, một cơ quan, một thiết bị định hướng. Tuyệt quá phải không! Nếu không có nó, cậu sẽ bị nhấc lên cao trong khi bản
thân vô phương điều khiển – chính là điều sẽ xảy ra với những kẻ điên rồ. Họ có được sự nhận thức sâu sắc hơn những kẻ chôn chân mình
dưới mặt đất, nhưng lại chẳng có chìa khóa và kỹ thuật định hướng rồi biến mất trong cõi vô cùng. Nhưng còn cậu, Sinclair, cậu sẽ đi đúng
hướng. Như thế nào ư? Cậu hẳn không biết. Cậu đang đạt được điều đó bằng một cơ quan mới, bằng một thứ có thể điều khiển hơi thở của
cậu. Và giờ cậu sẽ nhận ra tâm hồn mình nhỏ bé vị kỷ đến nhường nào khi chạm tới nơi sâu thẳm nhất. Vì nó không phát minh ra cách để
điều chỉnh hơi thở này! Nó không hề mới! Cậu đã vay mượn nó: nó đã tồn tại cả ngàn năm rồi. Đó là bộ phận giúp loài cá giữ được sự cân
bằng – là bong bóng cá. Và trong số lũ cá sẽ vẫn có một vài loài viễn cổ kỳ lạ khi mà bong bóng khí của chúng lại thực hiện chức năng như
phổi và có thể sử dụng như một cơ quan điều hòa hô hấp. Nói cách khác, cậu đã sử dụng chính phổi của mình để bay lượn trong mơ.”

Anh ta thậm chí còn mua một cuốn sách về động vật và chỉ cho tôi tên và hình minh họa của loài cá cổ đại đó. Và tôi đã cảm thấy rùng mình
khi nhận ra cơ quan tồn tại từ thời sơ khai của quá trình tiến hóa vẫn đang tồn tại bên trong mình.
Chương 6 – Jacob Wrestling

Thật khó để nói lại chi tiết tất cả những điều mà người nhạc công lập dị Pistorius nói cho tôi về Abraxas. Điều quan trọng nhất là những gì
tôi học hỏi được từ anh ta giúp tôi tiến xa hơn trên con đường tìm kiếm chính bản thân mình. Vào thời điểm đó, tôi là một thanh niên mười
tám tuổi lạ thường, sớm trưởng thành theo cả theo cả trăm hướng thật ấu trĩ và vô dụng. Khi tự so sánh bản thân với những đứa con trai
khác cùng lứa tuổi, tôi thường thấy tự hào và có chút kiêu ngạo nhưng cũng không ít lần cảm thấy bẽ bàng và sầu muộn. Tôi thường xuyên
coi bản thân là thiên tài, đồng thời là một kẻ điên. Tôi thất bại trong việc sống một cuộc đời giống những cậu trai khác, tôi thường tự trách
bản thân rồi lo lắng chẳng ngừng. Không có cách nào tách bản thân ra khỏi những cảm xúc ấy, tôi đã bị cách ly khỏi cuộc sống.

Pistorius, con người kỳ lạ này dạy tôi cách duy trì dũng khí và lòng tự trọng. Bằng cách luôn tìm được giá trị nào đó trong những lời tôi nói,
trong những giấc mơ, trong những suy tư và tưởng tượng của tôi, bằng cách không bao giờ xem nhẹ chúng, luôn đưa ra những cân nhắc
nghiêm túc cẩn trọng, anh ta đã trở thành hình mẫu mà tôi muốn hướng đến.

“Cậu nói với tôi,” anh ấy nói, “rằng cậu yêu âm nhạc vì nó phi luân lý. Tôi hiểu điều đó. Nhưng trong trường hợp đó cậu cũng sẽ không thể
cho phép bản thân mình trở thành một nhà đạo đức học. Cậu không thể so sánh bản thân với người khác, nếu mẹ Thiên nhiên sinh ra cậu
là con dơi, thì cậu đừng cố trở thành đà điểu. Có lúc cậu tự cho rằng mình khác biệt, tự buộc tội bản thân vì đã đi con đ ường khác với mọi
người. Cậu phải gạt bỏ hết những điều đó đi. Nhìn chằm chằm vào lửa, vào những vầng mây, và ngay khi tiếng nói bên trong cậu cất lên,
hãy quy hàng, đừng ngay lập tức hỏi liệu điều đó có được cho phép hay không hay có khiến giáo viên, cha, hay những vị thánh thần hài
lòng hay không. Nếu làm vậy cậu sẽ tự phá hủy bản thân. Bằng cách đó cậu sẽ chôn chặt thân mình nơi mặt đất, như một cọng rau mà thôi.
Sinclair, vị thánh chúng ta thờ phụng tên là Abraxas, và ngài ấy vừa là Thánh vừa là quỷ Satan, chứa đựng cả thế giới quang minh lẫn thế
giới tăm tối khôn cùng. Abraxas không lỡ bất cứ suy nghĩ hay giấc mơ nào của cậu. Đừng bao giờ quên điều đó. Nhưng ngài sẽ bỏ rơi cậu
một khi cậu trở nên vô tội và bình thường. Rồi ngài sẽ rời bỏ cậu và tìm kiếm một kẻ khác để gieo rắc mầm mống suy tư của ngài.”

Trong số tất cả những giấc mơ của tôi, giấc mơ về tình yêu tăm tối là chân thực nhất. Không biết bao lần tôi đã mơ thấy mình bước dưới
bức phù điêu để vào nhà, muốn kéo mẹ theo tôi thay vì đưa tay nắm lấy một người phụ nữ to lớn, nửa nam tính, nửa nữ tính, người đã cho
tôi cảm giác sợ hãi nhưng cũng hấp dẫn tôi mãnh liệt. Và tôi sẽ không bao giờ có thể kể về giấc mơ này cho người bạn của tôi. Tôi giữ kín
nó ngay cả khi tôi đã nói hết mọi thứ khác cho anh ấy. Đó là góc tối của tôi, bí mật của tôi, nơi nương náu của tôi.

Khi cảm thấy tồi tệ, tôi đòi Pistorius chơi một bản của Buxtehude. Rồi tôi sẽ ngồi trong nhà thờ bụi phủ và hoàn toàn đắm chìm vào thứ âm
nhạc riêng tư kỳ lạ, âm nhạc dường như lắng nghe chính nó, mỗi lần như thế tôi đều cảm thấy thoải mái và sẵn sàng hơn để lắng nghe
thanh âm bên trong chính mình.
Có đôi khi chúng tôi ngồi lại ngay cả khi nhạc đã ngừng, ngắm nhìn tia sáng yếu ớt len qua những ô cửa sổ hình vòm trên cao và biến mất
trong nhà thờ.

“Lạ quá nhỉ,” Pistorius nói, “rằng tôi từng là một sinh viên thần học và gần như chắc chắn sẽ trở thành mục sư. Nhưng tôi lại mắc lỗi. Nhiệm
vụ và mục tiêu của tôi vẫn là trở thành giám mục. Nhưng tôi đã cảm thấy hài lòng quá sớm và giao bản thân mình cho Jehovah trước khi
biết đến Abraxas. Ồ phải, mỗi tôn giáo đều có nét đẹp riêng của nó, tôn giáo là tâm hồn, không quan trọng cậu thuộc về Chúa Jesus hay
chọn kiếp sống ở Mecca [41].”

“Nhưng trong trường hợp đó,” tôi cắt ngang, “chắc chắn anh đã có thể trở thành một mục sư.”

“Không, Sinclair. Tôi sẽ phải nói dối. Tôn giáo của chúng ta đi theo một lối riêng như thể nó là một cái gì đó khác, một thứ hoàn toàn không
mang lại kết quả như mong muốn. Cùng lắm thì, tôi có thể trở thành một người theo Công giáo, nhưng một mục sư theo đạo Tin lành sao –
không! Có vài tín đồ thực sự – tôi có biết một số – thích cách diễn giải theo nghĩa đen tầm thường. Tỉ dụ như tôi sẽ không thể nói với họ
rằng Chúa đối với tôi không đơn thuần là một con người mà là một người hùng, một thần thoại, một hình ảnh đặc biệt mà nhân loại tự vẽ
ra trên bức tường của sự vĩnh hằng. Và những người khác, họ tới nhà thờ để được nghe vài ba cụm từ thông thái, để hoàn thành nghĩa vụ,
để không bỏ lỡ điều gì, và nếu thế thì tôi nên nói gì với họ chứ? Khiến họ thay đổi đức tin? Ý cậu là thế phải không? Nhưng tôi hoàn toàn
không muốn làm vậy. Một mục sư không muốn cải đạo, anh ta chỉ đơn giản muốn sống chung với những tín đồ, cùng với giống loài của anh
ta. Anh ta muốn trở thành một công cụ hay một sự biểu đạt cho cảm xúc mà từ đó ta tạo ra thần thánh của chính mình mà thôi.”

Anh ta ngừng lại. Rồi tiếp tục:

“Bạn của tôi ơi, tôn giáo mới của chúng ta, cái tên Abraxas mà chúng ta đã lựa chọn, thật đẹp đẽ biết bao. Đó là điều tốt nhất đối với chúng
ta. Nhưng nó vẫn quá non nớt. Đôi cánh của nó vẫn chưa phát triển. Nhưng nó cũng không phải là một đức tin cô đơn. Chắc chắn phải có
một cộng đồng, một sự sùng bái và những kẻ say mê, những ngày lễ và những điều bí ẩn …”

Anh ta chìm đắm và lạc vào mơ màng.

“Vậy một người hay một nhóm rất ít người không thể tự mình cử hành nghi lễ bí truyền hay sao?” Tôi ngập ngừng hỏi.

“Có thể chứ.” Anh ta gật đầu. “Tôi đã từng làm như vậy một mình trong quá khứ. Tôi có những sự sùng bái của riêng mình, nếu có ai phát
hiện ra thì tôi có thể bị tống vào tù trong nhiều năm đấy. Và tôi cũng biết việc đó là sai.”
Đột nhiên anh ta vỗ vào vai tôi khiến tôi giật nảy.

“Nhóc,” anh ta nói một cách hùng hồn, “cậu, cũng có nghi thức bí truyền của riêng mình. Tôi biết rằng cậu có những giấc mơ chưa nói với
tôi. Tôi cũng không muốn biết. Nhưng tôi phải nói, hãy sống cùng những giấc mơ đó, chơi đùa với chúng, thờ phụng chúng. Đó có thể chưa
lý tưởng nhưng nó chắc chắn đang hướng cậu đi đúng đường. Không biết được tôi và cậu và vài người khác một ngày nào đó có thể cải tạo
thế giới hay không, nhưng ta cần làm mới chính mình mỗi ngày, nếu không chúng ta sẽ chỉ là những kẻ chưa nghiêm túc. Đừng có quên
điều đó! Cậu đã mười tám tuổi rồi, Sinclair, cậu không chạy đến chỗ mấy con điếm. Cậu phải có những giấc mơ về tình yêu, phải có khát
khao của chính mình. Có thể cái cách cậu lớn lên khiến cậu cảm thấy sợ hãi chúng. Nhưng đừng. Đó là những thứ tốt nhất mà cậu có. Tin tôi
đi. Tôi đã phải trả giá đắt khi còn ở tuổi của cậu chỉ vì cố vùi dập những giấc mơ đó. Một người không nên làm như vậy. Khi cậu đã biết về
Abraxas, cậu càng không được làm vậy nữa. Cậu không được phép sợ hãi bất cứ điều gì, cậu không được cấm đoán hay gò bó tâm hồn cậu
khỏi những khát khao của riêng nó.”

Giật mình, tôi phản bác:

“Nhưng anh không thể làm bất cứ thứ gì anh nghĩ đến được. Anh không thể giết một người chỉ vì anh anh ghét hắn.”

Anh ta lại gần tôi.

“Trong một vài trường hợp nhất định, kể cả điều đó cũng có thể xảy ra. Nhưng đó thường là một sai lầm. Tôi không có ý rằng cậu nên làm
mọi thứ nảy ra trong đầu. Không. Nhưng cậu không nên làm tổn hại hay trốn tránh khỏi những ý tưởng tích cực bằng cách xua đuổi hay áp
những đạo đức tầm thường lên chúng. Thay vì hành hạ bản thân hay người khác, cậu có thể thưởng thức một ly rượu lễ và lặng ngắm điều
bí ẩn của sự hy sinh. Hay thậm chí khi không có những nghi thức ấy, cậu vẫn có thể thiết đãi nghị lực và những thứ gọi là sự cám dỗ của
bản thân bằng lòng thành kính và tình yêu. Rồi chúng sẽ hé mở ý nghĩa thực sự – mọi thứ đều có ý nghĩa riêng mà. Nếu cậu đột nhiên lại
nghĩ đến điều gì thực sự điên rồ và tội lỗi, nếu cậu muốn giết ai đó hay muốn làm việc gì dã man ác độc, Sinclair, hãy nghĩ rằng vào lúc đó
chính là Abraxas đang thúc giục bên trong cậu! Người mà cậu sẽ muốn tiêu diệt chắc chắn không phải là Ngài X nào mà đơn giản chỉ là một
lớp ngụy trang mà thôi. Nếu cậu ghét ai đó, nghĩa là cậu ghét bỏ điều gì đó của anh ta mà đồng thời chính là một phần của cậu. Những thứ
không thuộc về chúng ta sẽ không bao giờ khiến chúng ta phiền lòng.”

Tôi chưa bao giờ xúc động vì những gì Pistorius nói mạnh mẽ như lần này. Đến mức tôi chẳng thể đáp lời. Nhưng điều tác động đ ến tôi
mạnh mẽ nhất theo cách kỳ lại nhất chính là sự tương đồng giữa lời hô hào này và những lời Demian từng nói, những lời nói tôi đã mang
theo bên mình hàng năm trời. Hai người họ không biết nhau, nhưng cả hai lại nói với tôi về cùng một vấn đề.
“Điều mà ta thấy,” Pistorius nhẹ nhàng nói, “giống với những gì bên trong chúng ta. Không có một thực tếnào trừ thứ được chứa đựng bên
trong chúng ta. Đó là lý do tại sao có quá nhiều người lại sống một cuộc đời vô thực như thế. Họ coi những hình ảnh bên ngoài là thực tế và
không cho phép thế giới bên trong được tự khẳng định chính mình. Cậu có thế sẽ thấy vui nếu sống như thế. Nhưng một khi cậu biết đến
thế giới kia, cậu sẽ không còn quyền được chọn sống theo đám đông nữa. Sinclair, con đường nhiều người lựa chọn thì dễ dàng, còn đường
chúng ta đi thì gập ghềnh trắc trở.”

Vài ngày sau đó, sau hai lần chờ đợi một cách vô vọng, tôi gặp anh ta vào một buổi đêm muộn khi anh ấy dường như bị làn gió đêm lạnh lẽo
thổi quay mòng mòng, tự vấp ngã, và say khướt. Tôi không muốn gọi anh ta nữa. Anh ta đi qua tôi mà chẳng nhìn tôi lấy một lần , chỉ chăm
chăm nhìn về phía trước bằng đôi mắt sáng hoang dại, như thể anh ta đang đi theo tiếng gọi từ một thế lực tối tăm nào đó. Tôi đi theo anh
suốt con phố dài, anh ta đánh võng như thể bị kéo bởi một sợ dây vô hình, dáng điệu như kẻ cuồng tín, nhưng phóng túng, tựa n hư bóng
ma vậy. Tôi buồn bã trở về nhà, về với những giấc mơ hoài trống trải.

Vậy hóa ra đó là cách anh ta làm mới thế giới nội tại của mình! Tôi cũng đã có một thời như vậy. Cùng lúc đó tôi cảm thấy suy nghĩ ấy thật
thấp hèn và giáo điều làm sao. Tôi biết cái gì về những giấc mơ của anh ta chứ? Có thể khi say xỉn anh ta còn đi trên con đường chắc chắn
hơn cả tôi trong giấc mơ của mình.

Tôi có để ý vài lần những khi nghỉ giữa giờ có một bạn học tôi chưa từng chú ý tới trước đây dường như đang tìm tôi. Cậu ta là một cậu trai
thanh tú có vẻ ngoài hơi yếu ớt, mái tóc đỏ cam mỏng và ánh nhìn cũng như hành vi có điểm lạ kỳ. Một buổi tối khi tôi đang vì nhà, cậu ấy
đã đứng đợi ở ngõ. Cậu ta để tôi bước qua, sau đó đi theo cho đến khi tôi dừng lại trước cửa nhà.

“Cậu có điều gì cần ở tôi sao?” Tôi hỏi.

“Tôi chỉ muốn nói chuyện với cậu một lần,” cậu ấy ngượng nghịu đáp lại.

“Có thể đi với tôi một nói chuyện một đoạn không.”

Tôi theo sau cậu ta, có cảm giác rằng cậu ta đang hào hứng và đầy kỳ vọng. Tay cậu ta run lên.

“Cậu là người theo thuyết duy linh [42]?” cậu ta đột nhiên hỏi.

“Không, Knauer,” tôi cười lớn.


“Điều gì khiến cậu nghĩ như vậy?”

“Vậy hẳn cậu theo thuyết thần trí [43]?”

“Cũng không.”

“Ôi xin đừng dè dặt như thế! Tôi có thể cảm nhận được sự đặc biệt ở cậu. Ánh mắt của cậu… Tôi tin là cậu có thể giao tiếp với các linh hồn.
Tôi không hỏi vì tò mò, Sinclair ạ. Không, bản thân tôi cũng là một người tìm kiếm, cậu biết đấy, tôi rất cô đơn.”

“Tiếp đi, kể tôi nghe xem nào,” tôi khích lệ. “Tôi không biết nhiều về những linh hồn. Tôi sống trong những giấc mơ – đó là điều mà cậu cảm
nhận được. Những người khác cũng sống trong mơ, nhưng những giấc mơ đó không thuộc về chính họ. Đó chính là điểm khác biệt.”

“Phải, có lẽ chính là như thế,” cậu ta thầm thì. “Cậu đang sống trong những giấc mơ kiểu gì không quan trọng. Cậu đã từng nghe đến ma
thuật trắng chưa?”

Tôi buộc phải nói không.

“Đó là khi cậu học được cách điều khiển bản thân mình. Cậu có thể trở nên bất tử và bỏ bùa được kẻ khác. Cậu đã từng tập thử bài tập nào
chưa?”

Tôi cố hỏi rõ những “bài tập” đó là gì thì cậu ta liền giữ kẽ. Cho đến khi tôi định quay đầu bỏ về, cậu ta bèn nói ra tất cả.

“Ví nhụ nhé, khi tôi muốn ngủ hay muốn tập trung vào điều gì đó, tôi sẽ thực hiện một trong những bài tập này. Tôi nghĩ về một thứ gì đó,
ví dụ như về một từ, một cái tên hay một khối hình học nào đó. Rồi tôi tưởng tượng thứ đó đi vào bên trong mình bằng tất cả khả năng có
thể. Tôi cố tưởng tượng nó cho đến khi tôi thực sự cảm nhận được nó tồn tại trong đầu. Sau đó tôi nghĩ về nó trong cổ họng, và tiếp tục cho
đến khi tôi thực sự bị thứ đó lấp đầy. Rồi sau đó tôi sẽ trở nên vững vàng như thể đã hóa thành đá và thế là chẳng điều gì có thể làm tôi mất
tập trung được nữa.

Tôi mơ hồ hiểu được ý cậu ta nói. Nhưng tôi cảm thấy chắc chắn rằng có gì đó đang quấy rầy cậu ta, trông cậu ta hào hứng và bồn chồn đến
kỳ lạ. Tôi cố gắng giúp cậu ta có thể nói thoải mái, và không lâu sau đó thì cậu ta bày tỏ hết suy nghĩ thực sự của mình.
“Cậu cũng là trai tân đúng không? cậu ta hỏi một cách miễn cưỡng.

“Ý cậu là gì, về chuyện tình dục ấy hả?”

“Phải. Tôi đã kiềm chế tình cảm và ham muốn của mình được hai năm rồi – kể từ khi tôi biết về những bài tập kia. Trước đấy tôi đã sống
một cuộc đời trụy lạc, cậu hiểu ý tôi chứ. – Vậy là cậu chưa bao giờ gần gũi phụ nữ đúng không?”

“Không,” Tôi nói. “Tôi chưa tìm được người phù hợp.”

“Vậy nếu tìm được người cậu cho là phù hợp, cậu sẽ ngủ với cô ta chứ?”

“Phải, theo lẽ thường thôi, nếu cô ấy không phản đối,” tôi mỉa mai.

“Ôi cậu đi sai đường rồi! Cậu chỉ có thể mài dũa sức mạnh nội tại khi cậu hoàn toàn kiềm chế bản thân mình. Tôi đã từng như vậy, trong
suốt hai năm. Hai năm và thêm hơn một tháng. Điều đó quá khó khăn! Đôi khi tôi còn nghĩ mình không thể chịu đựng thêm nữa.”

“Nghe này, Knauer, tôi không tin việc phải tránh xa dục vọng quan trọng đến thế.”

“Tôi biết,” cậu ta phản đối. “Đó là tất cả những gì họ nói. Nhưng tôi không nghĩ ngay cả cậu cũng nói như vậy. Nếu cậu muốn vươn cao hơn,
con đường tinh thần của cậu phải hoàn toàn thanh sạch.”

“Tốt thôi, ừ thì thanh sạch! Nhưng tôi không hiểu tại sao một người lại thanh cao hơn người khác khi kìm nén ham muốn tình dục của
mình. Hay là cậu có khả năng gạt bỏ hết nhục dục ra khỏi những suy nghĩ và giấc mơ?”

Cậu ta nhìn tôi một cách tuyệt vọng.

“Không, vấn đề chính là ở đó. Chúa ơi, nhưng tôi cần phải làm thế. Tôi có những giấc mơ vào ban đêm mà chính tôi cũng chẳng thể nhớ nổi.
Những giấc mơ kinh hoàng.”
Tôi nhớ lại điều mà Pistorius dã từng nói. Dù tôi có đồng tình với những suy nghĩ của anh ta thế nào, tôi cũng không thể nói ra với người
khác được. Tôi không có khả năng đưa ra lời khuyên về những việc mà mình chưa từng trải nghiệm hay những việc mà bản thân tôi không
có đủ dũng khí để làm. Tôi chìm vào yên lặng và cảm thấy bẽ bàng khi không thể đưa ra lời khuyên cho một người đang cần nó.

“Tôi đã thử mọi cách!” Knauer rên rỉ bên cạnh tôi. “Tôi đã làm mọi thứ có thể. Nước lạnh, tuyết, thể dục và chạy, nhưng chẳng ích gì. Mỗi
đêm khi tôi tỉnh lại từ những cơn mơ mà tôi thậm chí không được phép nghĩ về – và điều khủng khiếp nhất là trong lúc mơ tôi đã dần lãng
quên tất cả những thuộc về tâm linh đã học. Tôi hầu như chẳng bao giờ thành công trong việc tập trung hay ru bản thân vào giấc ngủ nữa.
Tôi thường trải qua những đêm nằm thức trắng trên giường. Chuyện này không thể kéo dài hơn nữa. Nếu tôi không thể chiến thắng chính
mình, nếu đến cuối cùng tôi bị đánh bại và trở nên ô uế, tôi sẽ trở thành kẻ còn tệ hại hơn cả những người chưa từng đấu tran h trong tâm
trí. Cậu hiểu mà phải không?”

Tôi chỉ lặng lẽ gật đầu mà chẳng thốt được lời nào. Cậu ta bắt đầu khiến tôi cảm thấy phiền và tôi giật mình khi nhận ra sự đòi hỏi và tuyệt
vọng rõ rệt từ cậu ta không khiến tôi có thêm chút ấn tượng nào. Suy nghĩ duy nhấ của tôi chỉ là: Tôi không giúp được.

“Vậy là cậu không biết gì sao?” cuối cùng cậu ta hỏi một cách buồn bã và tuyệt vọng. “Không chút nào sao? Nhưng chắc chắn phải có một
cách chứ. Cậu làm thế nào vậy?”

“Tôi không biết phải nói gì Knauer ạ. Chúng ta không thể giúp đỡ được bất kỳ ai khác. Tôi cũng chỉ có một mình thôi. Cậu cần phải tự mình
tìm ra đáp án và phải biến khát khao sâu thẳm nhất trong tim cậu thành sự thực. Không có cách nào khác đâu. Nếu cậu không thể tự tìm ra,
cậu cũng sẽ không thể tìm được những linh hồn.”

Anh bạn nhỏ nhìn tôi, thất vọng rồi bỗng im bặt. Chợt ánh mắt cậu ta lóe lên một tia căm hờn, cậu ta nhăn nhó rồi rít lên:

“À vâng, cậu hẳn là một vị thánh tốt đẹp lắm! Cậu đang tự hủy hoại bản thân, tôi biết mà. Cậu cứ giả vờ thông minh nhưng thực ra cậu lại bí
mật bám vào những thứ dơ bẩn như những kẻ khác mà thôi! Cậu là đồ con lợn, một con lợn, như tôi mà thôi. Tất cả chúng ta là một lũ lợn
ngu ngốc!”

Tôi bỏ đi để cậu ta lại một mình. Cậu ta theo tôi thêm hai ba bước rồi quay đầu bỏ chạy. Tôi cảm thấy thương hại và kinh tởm đến buồn
nôn, và cảm xúc này vẫn quấn chặt lấy tôi cho đến khi tôi bao trọn chính mình với những bức tranh trong phòng và trở về quy thuận
những giấc mơ của riêng tôi. Ngay khi giấc mơ kia trở lại, trước cửa nhà, và bức phù điêu, mẹ, và người phụ nữ lạ mặt, và tôi có thể nhìn
thấy bộ dáng của bà ta rõ ràng đến mức ngay tối hôm đó tôi đã vẽ lại chân dung người phụ nữ ấy.
Khi bức tranh hoàn thành sau vài ngày cần mẫn, khi phác ra tôi chỉ cần mười lăm phút. Tôi treo nó lên tường, để cây đèn bàn ở phía trước,
rồi đứng ngắm nhìn như đang đứng trước một bóng ma mà tôi đã phải đấu tranh đến cuối cùng. Đó là một khuôn mặt có điểm tương tự với
bức tranh trước đó – có đôi nét thậm chí giống với chính tôi. Một con mắt cao hơn bên còn lại và ánh nhìn phóng ra vượt qua đầu tôi, một
ánh mắt chỉ chìm đắm vào chính bản thân mình kèm theo sự cứng rắn và ngập tràn sự hủy hoại.

Tôi đứng trước nó và dần thấy lòng ớn lạnh vì mệt mỏi. Tôi chất vấn bức tranh, mắng nhiếc nó, yêu thương nó, khẩn cầu nó; tôi gọi nó là
mẹ, là điếm, gọi nó là tình yêu, là Abraxas. Những lời Pistorius, hay Demian nói bỗng hiện ra giữa những lời nguyền rủa của tôi. Tôi không
còn nhớ ai đã nói nhưng tôi cảm giác mình đang một lần nữa nghe thấy những lời này. Đó là những lời về cuộc vật lộn của Jacob [44] với
thiên sứ của Chúa trời và câu nói của anh ta “Ta sẽ không để ngươi đi trừ khi ngươi ban phước cho ta.”

Bức tranh dưới ánh đèn thay đổi theo từng theo từng lời nhiếc mắng và dỗ dành của tôi – trở nên sáng sủa rực rõ, cũng có thể u ám tối
tăm, mí mắt nhợt nhạt che đi đôi mắt chết chóc, rồi khi mở mắt ra lại thấy những cái liếc nhìn chớp nhoáng. Đó là một người phụ nữ, hay
đàn ông, một cô gái, một đứa trẻ, hay một con vật, nó tan ra thành những mảng màu vụn vỡ, lớn dần rồi tách biệt. Cuối cùng, tôi nhắm mắt
lại vì một sự thôi thúc mãnh liệt, và tôi nhìn thấy bức tranh bên trong chính mình, mạnh mẽ và đồ sộ hơn trước rất nhiều. Tôi muốn quỳ
trước nó nhưng nó lại ăn sâu vào tôi khiến tôi không thể tách ra, như thể nó đã biến thành cái tôi của chính tôi vậy.

Rồi tôi nghe thấy một tiếng gầm nặng nề và tối tăm giống như trước cơn bão mùa xuân ập đến. Tôi bỗng run rẩy, mang một cảm xúc khó
hình dung về một trải nghiệm mới mẻ đầy sợ hãi. Những ngôi sao lóe lên trước tôi rồi vụt tắt: những kỷ niệm xa xưa từ những ngày thơ ấu
tôi sớm đã quên, phải, thậm chí còn từ khi tôi chưa tồn tại, từ những ngày đầu của tiến hóa, bỗng vây lấy tôi. Nhưng những ký ức đó dường
như tua lại từng bí mật của đời mình cho tôi và không chỉ dừng lại ở quá khứ hay hiện tại. Chúng vượt qua nó, phản chiếu tương lai, tách
tôi ra khỏi hiện tại và đưa tôi vào những dạng thức mới của cuộc sống, với hình ảnh tỏa sáng nhập nhằng – về sau tôi không còn nhớ rõ bất
kì cái nào nữa.

Tôi tỉnh dậy từ giấc ngủ sâu trong đêm, nằm chéo trên giường với bộ đồ chưa thay. Tôi bật đèn, cảm thấy mình cần phải nhớ lại điều gì đó
quan trọng lắm, nhưng tôi lại chẳng nhớ được gì trong suốt một giờ trước. Tôi dần dần có một ý niệm mơ hồ. Tôi tìm bức tranh, nó đã
không còn ở trên tường nữa, trên bàn cũng không. Rồi tôi lờ mờ nhớ ra có lẽ tôi đã đốt bức tranh rồi. Hoặc có thể trong mơ tôi đã đốt nó
trong tay và rồi nuốt trọn đám tro tàn?

Sự bồn chồn bủa vây tôi. Tôi đội mũ lên và ra khỏi nhà, đi qua con ngõ như thể bị cưỡng ép, chạy qua hàng tá những con phố và quảng
trường như kẻ điên, lắng nghe qua loa trước nhà thờ tối tăm của bạn tôi, kiếm tìm, không ngừng kiếm tìm dù chẳng biết đang tìm kiếm cái
gì. Tôi đi qua khu phố đầy rẫy những nhà chứa nơi tôi có thể nhìn thấy cửa sổ sáng đèn ở bất cứ đâu. Đi xa hơn nữa, tôi tới một khu toàn
nhà mới xây, với nào ống nào gạch phủ tuyết xám ngổn ngang khắp nơi. Tôi nhớ lại – khi tôi từng loạng choạng lảng vảng qua những con
phố như kẻ mộng du – tòa nhà mới xây ở quê nhà, nơi mà kẻ bắt nạt Kromer đưa tôi đến trong lần trả nợ đầu tiên. Một ngôi nhà tương tự
sừng sững trước mặt tôi trong màn đêm xám xịt, cổng vào tối tăm hé mở trước mặt tôi. Nó dẫn dụ tôi bước vào trong, vì muốn thoát ra mà
rôi vấp phải cát và rác rưởi. Thế lực thúc ép tôi trở nên mạnh hơn nữa: tôi bị ép phải bước vào.

Đi qua đống đổ nát, tôi bước vào một căn phòng tồi tàn quẩn quanh mùi ẩm thấp và cái lạnh từ xi-măng. Có một đụn cát, một mảng vữa trát
màu xám nhạt, còn lại đều đen kịt.

Rồi một giọng nói khiếp sợ cất lên:

“Chúa ơi, Sinclair, cậu chui ra từ đâu thế?”

Một người hiện ra từ bóng tối phía sau tôi, một cậu bạn nhỏ bé gầy còm, tựa như bóng ma lẩy khấy, và dù có kinh hãi, tôi vẫn nhận ra
người bạn cùng lớp Knauer.

“Sao đột nhiên cậu lại tới đây?” cậu ta hỏi, phát điên lên vì vui sướng. “Sao cậu tìm được tôi?”

Tôi không hiểu.

“Tôi không tìm cậu,” tôi lạnh nhạt nói. Tôi phải cố hết sức mới có thể phát ra vài tiếng ngập ngừng qua đôi môi cứng đờ.

Cậu ta nhìn tôi chằm chằm.

“Cậu không tìm tôi ư?”

“Không. Có thứ gì đó đã dẫn tôi đến đây. Cậu gọi tôi sao? Hẳn là thế. Cậu làm gì ở nơi này vậy? Đêm rồi.”

Cậu ra đưa hai cánh tay gầy gò ra quấn chặt lấy tôi.

“Phải, đêm rồi. Bình minh sẽ sớm tới thôi. Cậu tha lỗi cho tôi được không?”

“Tha thứ cái gì?”


“Tôi đã quá tồi tệ.”

Tôi nhớ lại cuộc đối thoại của chúng tôi. Chẳng phải đã bốn năm ngày trước rồi hay sao? Từ đó đến nay dài như cả đời rồi. Nhưng bỗng
nhiên tôi tỏ tường tất cả. Không chỉ là những gì đã xảy ra giữa hai chúng tôi mà còn cả lý do tôi đến nơi này và việc Knauer đang làm ở đây.

“Cậu muốn tự sát sao, Knauer?”

Cậu ta run lên vì lạnh và sợ hãi.

“Phải, tôi đã muốn thế. Tôi cũng chẳng biết liệu tôi có thể tự sát không nữa. Tôi muốn đợi đến sáng.”

Tôi đưa cậu ta ra cửa. Tia sáng bình minh đầu tiên chiếu thẳng xuống xua đi cái lạnh và rồi chìm vào bình minh xám xịt.

Tôi dắt tay cậu ta một lúc. Tôi nghe thấy mình đang nói:

“Nào giờ thì hãy về nhà và đừng hé răng cho bất cứ ai cả! Cậu đi sai đường rồi. Chúng ta không phải loài lợn như cậu nghĩ, chúng ta là con
người. Chúng ta tạo ra những vị thần vị thánh và đấu tranh với họ, và họ sẽ ban phước cho chúng ta.”

Chúng tôi tiếp tục bước cùng nhau mà chẳng nói lời nào.

Khi tôi về đến nhà, trời đã sáng.

Điều tuyệt vời nhất mà tôi có được trong những tuần còn lại tại trường St.—— là những khi ở bên Pistorius bên cây đàn organ hay trước
sự nhiệt thành của anh ấy. Chúng tôi đang nghiên cứu một bản văn viết bằng tiếng Hy Lạp về Abraxas và anh ta đọc cho tôi vài đoạn trích
trong bản dịch Kinh Vệ Đà [45] và dạy tôi cách phát âm thánh ngữ “om”. Nhưng những thứ thần bí này không phải cái đã nuôi dưỡng tinh
thần trong tôi. Thứ tiếp sinh lực cho tôi là quá trình tự khám phá chính bản thân mình, sự tự tin tăng dần qua mỗi giấc mơ, những suy tư,
điềm báo và sự nâng tầm kiến thức về sức mạnh đang cuộn trào trong tôi.

Pistorius và tôi thấu hiểu nhau trên mọi phương diện. Tất cả những gì tôi cần làm là chỉ cần hình dung ra anh ta, và tôi có thế chắc chắn
rằng anh ta – hay thông điệp anh ta muốn nhắn nhủ – sẽ tới bên tôi. Tôi có thể đòi hỏi anh bất cứ điều gì, như đã từng đòi hỏi Demian, mà
anh ta không cần xuất hiện trước mắt tôi bằng xương bằng thịt, tôi chỉ cần tưởng tượng ra dáng hình anh ấy và hỏi trực tiếp bằng cách tập
trung suy nghĩ. Và rồi tất thảy những nỗ lực thần giao cách cảm đưa câu hỏi đi sẽ trở về bên tôi nguyên dạng, mang theo câu t rả lời. Chỉ có
điều, hình ảnh mà tôi triệu hồi trong tâm trí và chất vấn không phải là hình hài của Pistorius hay Max Demian, mà là bức tranh tôi đã mơ về
và vẽ nên, hình ảnh về một con quỷ nửa nam nửa nữ. Sinh vật đó đã không còn bị kìm hãm trong những giấc mơ của tôi, cũng không còn là
hình hài trên giấy trắng nữa, giờ đây nó trú ngụ trong tôi như một bản thể sâu sắc và mẫu mực.

Giữa một kẻ có ý định tự sát như Knauer và tôi hình thành một mối quan hệ lạ kỳ, có khi là hài hước. Kể từ cái đêm tôi bị ma xui quỷ khiến
tìm đến cậu ta, Knauer dính lấy tôi như một kẻ bề tôi tận tụy hay như một chú chó trung thành, cố hết sức để gắn chặt đời cậu ta vào đời
tôi, và vâng lời tôi một cách mù quáng. Cậu ta đến gặp tôi mang theo hàng tá câu hỏi và yêu cầu lạ lùng, tỉ như muốn nhìn thấy những linh
hồn, học về bí thuật và sẽ không tin khi tôi quả quyết rằng mình chẳng biết gì về những thứ đó. Cậu ta nghĩ sức mạnh của tôi là tối thượng.
Nhưng lạ là cậu ta thường đến tìm tôi với một đống những câu hỏi ngu ngốc và hóc búa ngay khi tôi cũng đang vật lộn với những câu đố
của chính mình, thế rồi những quan niệm và đòi hỏi kỳ quái của cậu ta đôi lúc lại mang đến cho tôi chìa khóa giải quyết mọi vấn đề.
Thường thì khi cậu ta làm phiền, tôi sẽ cương quyết đuổi cậu ta đi, nhưng tôi cũng cảm thấy cậu ta chính là món quà được gửi đến, và cũng
từ cậu ta mà tôi nhận được gấp đôi những điều tôi cho đi; cậu ấy cũng là người soi đường cho tôi – hay ít nhất cũng là người dẫn lối. Những
cuốn sách và ghi chép thần bí cậu ta mang cho tôi xem, và trong đó cậu ta kiếm tìm sự cứu rỗi, đã dạy tôi nhiều điều hơn những gì tôi nhận
thức được vào thời điểm đó.

Về sau Knauer lặng lẽ ra khỏi cuộc đời tôi. Chúng tôi chưa bao giờ xảy ra mâu thuẫn, chẳng có lý do gì để cãi nhau cả. Cậu ta không giống
như với Pistorius, người mà tôi vẫn có thể cùng sẻ chia những trải nghiệm lạ kỳ cho đến những ngày tháng cuối cùng tại St. ——-.

Một hay vài lần trong cuộc sống, ngay cả những người vô hại nhất cũng không thể tránh khỏi mâu thuẫn với chính những phẩm hạnh và
lòng biết ơn tốt đẹp. Sớm hay muộn mỗi chúng ta đều phải tự tách khỏi cha, khỏi những người thầy thông thái, mỗi chúng ta đều phải tự
mình nếm qua những trải nghiệm cô đơn đến tuyệt vọng – dù cho phần lớn con người đều không thể chịu nổi điều ấy mà sớm lần hồi trở
về đường cũ. Bản thân tôi không hề chật vật để tách mình ra khỏi cha mẹ và thế giới rực rỡ “chói lòa” của họ, tôi trở thành người lạ một
cách thật từ từ và hầu như không thể nhận ra. Tôi cảm thấy buồn vì chuyện này bắt buộc phải diễn ra theo cách đó, và điều đó khiến tôi
luôn không thoải mái trong những lần về thăm nhà, nhưng nó không ảnh hưởng quá mạnh mẽ đến tôi, tôi hoàn toàn có thể chịu đựng
được.

Nhưng tại nơi ta thể hiện tình yêu và lòng thành kính bằng chính sự chân thành chứ không phải thói quen, nơi ta trở thành nhữ ng môn đồ
và bạn hữu vượt ra khỏi những nơi sâu kín nhất trong tim mình, thì thời khắc ta bỗng nhận ra rằng bản thể bên trong ta muốn kéo ta ra
khỏi những gì thân thương nhất thật đắng cay và khủng khiếp. Rồi từng suy nghĩ chối bỏ bạn bè và thầy giáo biến thành cái gai độc ghim
vào tim, và từng cú đánh hòng tự vệ bản thân lại làm đau chính mình, hai chữ “phản bội” và “vô ơn” giáng xuống kẻ nghĩ mình đức đạo vẹn
toàn tựa như những tiếng nguýt dài hay dấu sắt nung tội lỗi, và con tim sợ hãi bèn rụt rè trốn đi, quay về náu mình trong tuổi thơ mê mị,
không bao giờ tin vào sự nứt vỡ này đã thành sự thật, hay mối liên kết này bỗng chốc biến tan.
Theo thời gian, những cảm xúc trong tôi dần chống lại việc nhận thức một cách không kiêng dè rằng Pistorius là một người thầy. Tình bạn
của tôi với anh ta, với những lời anh ta chỉ dạy hay sự thoải mái anh ta mang lại cho tôi, sự gần gũi của anh ta đã trở thành trải nghiệm cần
thiết nhất trong suốt những tháng ngày quan trọng nhất của tuổi thanh niên của tôi. Chúa đã nói chuyện với tôi thông qua anh ta. Những
giấc mơ của tôi đã được giải thích một cách rõ ràng rành mạch qua lời anh ấy. Anh cho tôi niềm tin vào chính bản thân mình. Và giờ tôi lại
có ý muốn dần dần kháng cự lại anh ta. Những lời anh ta nói đầy tính giáo điều và tôi cảm thấy anh ta chỉ thấu hiểu một phần trong tôi mà
thôi.

Giữa chúng tôi không xảy ra bất cứ cãi vã hay mâu thuẫn nào, không rạn nứt hay thậm chí là chuyện ăn miếng trả miếng. Tôi chỉ thốt ra
một cụm từ vô hại, nhưng ngay vào thời khắc ấy ảo ảnh vội tiêu tan.

Một linh cảm mơ hồ về chuyện đó đôi khi đè nặng tôi quá đỗi, cảm giác đó trở nên rõ ràng vào một sáng Chủ nhật trong buổi học với anh
ta. Chúng tôi nằm dài trước đống lửa khi anh ta lảm nhảm về những điều huyền bí và những dạng thức của tôn giáo mà anh ta đượ c học,
cũng như những khả năng trong tương lai khiến anh ta bận tâm.

Mọi thứ đều quá xa lạ và đậm tính triết học, không quan trọng với tôi, có vài điều phảng phất tính sư phạm, tựa như một nghiên cứu nhạt
nhẽo trong tàn tích của thế giới trước kia. Và cùng một lúc, tôi thấy ác cảm với anh ta, vì sự sùng bái những thứ thần thoại này, vì trò chơi
ghép hình bằng thứ đức tin thứ cấp của anh ta.

“Pistorius,” tôi bỗng cất lời mang theo chút độc ác khiến chính mình còn phải ngỡ ngàng và hoảng sợ. “Anh nên nói lại với tôi về những giấc
mơ của anh đi chứ? Một giấc mơ thật sự mà anh mơ vào ban đêm ấy. Những điều anh đang nói với tôi trước giờ đều quá – quá cổ lỗ rồi.”

Anh ta chưa bao giờ nghe tôi nói những lời như vậy trước đây, và cùng lúc đó tôi cũng nhận ra nỗi xấu hổ và kinh hãi xẹt ngan g qua, khi
mũi tên tôi vừa bắn đã xuyên thủng trái tim anh ta lại đến từ chính những điều anh ta tự hào: tôi giờ đang lao mình vào những phê phán
mà đôi lúc chính anh ta dùng để chỉ trích và gần như mỉa mai bản thân mình.

Pistorius lập tức chìm vào im lặng. Tôi sợ hãi nhìn anh ta dần trở nên tái nhợt.

Sau một lúc lâu, anh ta đặt củi mới vào trong đống lửa và nói với tôi bằng thứ giọng khe khẽ:

“Cậu nói đúng, Sinclair, cậu là một đứa thông minh. Từ giờ trở đi tôi sẽ chỉ dành cho cậu những thứ cũ kỹ đó.”

Anh ta nói một cách bình tĩnh, nhưng rõ ràng anh ấy đã tổn thương. Tôi đã làm cái quái gì vậy chứ?
Tôi muốn nói gì đó động viên anh ta, nài xin anh ta tha thứ, cam đoan rằng tình yêu và sự kính trọng sâu sắc của tôi đối anh là thật. Những
từ ngữ cảm động cứ thế ùa vào tâm trí tôi, nhưng tôi lại chẳng thể cất lời. Tôi chỉ nằm đó nhìn mãi vào ngọn lửa và lặng im. Anh ấy cũng
vậy, yên tĩnh và rồi chúng tôi tiếp tục nằm đó cho đến khi ngọn lửa lụi dần, và với mỗi tàn lửa tôi lại cảm thấy điều gì đó thật đẹp tuyệt vời,

“Tôi nghĩ là anh có chút hiểu lầm tôi rồi,” cuối cùng tôi cũng nói ra được bằng cái giọng nhanh và gượng ép. Những từ ngu ngốc vô nghĩa
tiếp tục được tôi nhả ra một cách máy móc như thể tôi đang đọc từ một tạp chí vậy.

“Tôi hiểu,” Pistorius nhẹ nhàng nói. “Cậu nói đúng.”

Tôi đợi. Rồi anh ta chậm rãi tiếp tục:

“Vì luôn sẽ phải có một người đúng.”

Không, không! Tôi sai rồi, một giọng nói gào thét bên trong tôi, nhưng tôi lại không thể nói gì. Tôi biết với vốn từ hạn hẹp của mình, tôi đã
động đến nơi yếu đuối nhất, đến nỗi đau buồn và vết thương của anh ấy. Tôi đã lỡ chạm vào phần cảm xúc mà bản thân anh ấy cảm thấy hồ
nghi nhất. Anh là người theo lý tưởng “cổ xưa”, luôn tìm kiếm nó trong quá khứ và đắm trong mộng mơ. Và bỗng nhiên trong thâm tâm tôi
nhận ra: những gì Pistorius cho tôi chính xác là những gì anh ta không thể cho chính bản thân mình. Anh ta hướng tôi đi trên con đường
mà tôi có thể vượt qua, thậm chí bỏ anh ta, người dẫn đường, lại phía sau.

Chúa mới biết tại sao một người có thể nói những điều như vậy. Tôi không hề có ác ý, không hề có chút ý niệm nào về việc tôi có thể gây
tổn thương cho anh ấy. Tôi đã nói ra mà không lường được hậu quả. Tôi đã thành nạn nhân của một cơn bốc đồng yếu đuối, phần nào hóm
hỉnh nhưng vô cùng ác độc và điều đó đã trở thành số mệnh. Tôi đã gây ra một hành động độc ác, tầm thường và thiếu thận trọng mà anh
ấy cho rằng đó là sự trừng phạt.

Tôi mong anh ấy sẽ phát điên lên, tự bào chữa cho bản thân và nhiếc móc tôi biết bao nhiêu. Nhưng anh chẳng làm gì như thế cả, thế nên
tôi sẽ là người tự làm chuyện đó. Nếu có thể thì anh ấy đã cười, nhưng anh ấy không thể vì sự thật là tôi đã làm tổn thương đến anh quá
sâu sắc rồi.

Bằng việc chấp nhận cú đòn này một cách lặng lẽ, từ tôi – người học trò hỗn xược và vô ơn của anh ấy, bằng việc giữ im lặng và thừa nhận
rằng tôi đã đúng, và bằng việc công nhận những lời tôi nói là định mệnh, anh ấy khiến tôi chán ghét bản thân mình đến tận họng và thậm
chí còn khiến sự vô lý của tôi tăng thêm nhiều lần. Khi dùng những lời lẽ đó, tôi đã nghĩ mình sẽ ra đòn với một người cứng rắn và được
trang bị kỹ càng, nhưng anh ấy lại im lặng, bị động, không hề chống trả, như một người chấp nhận đầu hàng mà không phản kháng.
Trong suốt khoảng thời gian chúng tôi ngồi trước đống lửa tàn, nhìn những hình bóng lập lòe sáng lên, mỗi một cành củi quằn quại lụi tàn
lại nhắc tôi về những khoảng thời gian hạnh phúc của hai người, lại càng gia tăng mặc cảm tội lỗi của tôi về sự vô ơn với Pistorius. Cuối
cùng, tôi đã không thể chịu đựng thêm nữa, tôi đứng dậy và rời đi. Tôi đứng chết lặng một lúc lâu trước cửa phòng anh ấy, lại một lúc lâu
nơi cầu thang tối tăm, và còn lâu hơn ngoài cửa chỉ để chờ một dấu hiệu rằng anh ấy sẽ đi theo tôi. Và rồi tôi đi, đi hàng gi ờ trong thị trấn,
nơi ngoại ô, công viên và rừng cây, cho đến tận tối muộn. Trong suốt quãng đường ấy, lần đầu tiên tôi cảm nhận được dấu ấn của Cain đang
in hằn trên trán.

Dần dần tôi cũng nghĩ thoáng hơn về những điều đã xảy ra. Đầu tiên, trong đầu tôi ngập tràn ân hận, và biện hộ cho Pistorius. Nhưng tất cả
đều đi ngược lại mong muốn của tôi. Hàng ngàn lần tôi đã hối hận và muốn rút lại những câu nói hấp tấp của mình, nhưng nó đã lỡ trở
thành sự thật. Đến giờ tôi mới hiểu hết về Pistorius và dựng nên được toàn mộ giấc mơ của anh ta. Giấc mơ này đã có thể trở thành một
người thầy tế, để tuyên thệ về một tín ngưỡng hoàn toàn mới, để giới thiệu ra một dạng thức mới để người ta tán tụng, yêu thương, tôn
thờ, để dựng nên một biểu tượng hoàn toàn mới. Nhưng đó không phải sức mạnh hay chức năng của anh ta. Anh ta chần chừ quá lâu trong
quá khứ, kiến thức về quá khứ ấy chính xác, anh ta biết quá nhiều về Ai Cập và Ấn độ, Ba Tư và Abraxas. Tình yêu của anh gắn liền với
những hình ảnh về thế giới thuở sơ khai, thế nhưng tận sâu trong tim mình, anh ta nhận ra rằng Thế giới Mới phải hoàn toàn tân tiến và
khác biệt, rằng nó phải giống như mầm non đâm chồi từ đất xốp và không phải thứ lấy ra từ bảo tàng hay thư viện. Nhiệm vụ của anh ta có
lẽ là dẫn đường cho người ta về với bản ngã của chính họ như anh đã từng dẫn dắt tôi, còn việc nói cho họ nghe về những vị thần mới chưa
từng nghe tên, thì không phải việc của anh ta.

Tại thời điểm đó, tôi bỗng nhận thức mãnh liệt rằng: mỗi người đều có “chức năng” của riêng mình nhưng không ai được quyền tự lựa
chọn, xác định hay thực hiện như anh ta mong muốn. Việc khát cầu những vị thần thánh mới là sai lầm, mong muốn mang đến thế giới này
điều gì đó là hoàn toàn sai lầm. Một người được giác ngộ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất – tìm ra con đường cho chính anh ta, tìm ra được
bản ngã trong sâu thẳm chính mình, để mò mẫm ra con đường về phía trước, dù cho nó có dẫn đến đâu chăng nữa. Sự nhận thức này khiến
tôi rung động sâu sắc, nó như là thành quả thu được từ trải nghiệm này. Tôi thường tự biên ra những hình ảnh về tương lai, mơ tới những
nhiệm vụ tôi được chỉ định, có lẽ giống như một nhà thơ, nhà tiên tri, một họa sĩ, hay cái gì tương tự.

Tất cả đều vô ích, tôi không tồn tại để viết thơ, để thuyết giáo hay vẽ vời, chẳng một ai được như thế cả. Tất cả đều chỉ là tình cờ mà thôi.
Mỗi người đều chỉ có một thiên chức duy nhất – đó là tìm ra con đường cho chính mình mà thôi. Anh ta cuối cùng có lẽ sẽ trở thành nhà
thơ hay kẻ điên, nhà tiên tri hay tội phạm – điều đó chẳng phải là vấn đề, cho đến cùng cũng chẳng phải. Nhiệm vụ của anh ta là phải khám
phá ra số mệnh của chính mình – thứ mà không thể tùy ý quyết định – và sống hết mình với số mệnh đặt ra và cương quyết với bản thân.
Mọi thứ khác chỉ là phù du, hay một lý do để trốn tránh, để tìm về những lý tưởng của số đông, sự thuần phục và sợ hãi bản ng ã bên trong
mỗi người. Ảo cảnh mới mẻ hiện lên trước mắt tôi, lướt qua hàng trăm lần, thậm chí có thể đã từng xảy ra trước đó nhưng giờ t ôi mới
được trải nghiệm lần đầu tiên. Tôi chỉ là một vật thử nghiệm của Tạo hóa, một canh bạc may rủi trong sự vô thường, có lẽ vì một mục đích
nào đó, cũng có thể chẳng vì gì cả, và sứ mệnh duy nhất của tôi là phó mặc cho canh bạ c củ a những bả n năng sơ khai diẽ n ra, cả m nhạ n ý
chí của nó ở trong tôi, và bié n canh bạc ấy thà nh củ a tôi. Hoặc là như vậy, hoặc là không gì cả.
Tôi vốn đã cảm thấy đủ cô đơn, giờ còn cô đơn hơn nhiều lần nữa, mà tôi lại chẳng thể thoát ra.

Tôi không hề có ý định giảng hòa với Pistorius. Chúng tôi vẫn là bạn nhưng mối quan hệ đã thay đổi. Tuy nhiên vẫn có đôi điều mà chúng
tôi vẫn cùng nói được với nhau, thực ra là chỉ mình Pistorius đang cố gắng nhắc đến mà thôi. Anh ấy nói:

“Cậu biết là tôi muốn trở thành một mục sư. Hơn tất thảy tôi muốn trở thành một tư tế của một tôn giáo mới, mà cả tôi và cậu đều đã có rất
nhiều điềm báo. Vị trí đó sẽ không bao giờ thuộc về tôi – tôi nhận ra điều đó, và dù cho tôi có không chấp nhận hoàn toàn, thì có đôi khi tôi
cũng nhận biết được. Vì thế thay vào đó tôi sẽ thực hiện chức trách của một mục sư, có thể bên cây đàn, có thể bằng cách khác. Nhưng tôi
luôn phải đảm bảo mọi thứ xung quanh tôi đều đẹp đẽ và thuộc về thánh thần, tiếng nhạc và những điều bí ẩn, những biểu tượng và những
chuyện thần thoại hoang đường. Tôi cần và tôi không thể bỏ những điều đó được. Đó chính là điểm yếu của tôi. Có đôi khi, Sinclair ạ, tôi
biết rằng mình không nên có những mong ước như thế, rằng chúng là sự mềm yếu lại còn xa xỉ. Chỉ khi tôi không dè dặt mà đặt mình vào
sự xếp đặt của số mệnh, đó mới là cao thượng. Nhưng tôi không làm thế được, tôi không đủ khả năng. Có lẽ một ngày nào đ ó cậu sẽ là
người làm được điều đó. Nó khó, nhưng đó là điều duy nhất thực sự khó khăn. Tôi luôn mơ được làm điều đó, nhưng tôi không thể. Những
ý nghĩ khiến tôi khiếp sợ: tôi không đủ khả năng để đơn độc và trần trụi phơi mình. Tôi cũng chỉ là một sinh vật yếu hèn, tha thiết hơi ấm
và thức ăn và đôi khi cả nguồn an ủi mà tình người mang lại. Có một người chẳng truy cầu điều gì nhưng số mệnh của anh ta định rằng anh
ta chẳng có lấy một người bầu bạn, anh ta sống một mình và bao quanh anh ta là một không gian lạnh lẽo. Đó là Chúa Jesus nơi Vườn Cây
Dầu [46], cậu biết mà. Đã có những kẻ tử vì đạo sẵn sàng để bản thân mình bị ghim trên thập giá, nhưng kể cả những người đó thì cũng
chẳng phải anh hùng, chẳng hề tự do, vì dù cho họ có ham muốn cái mà họ yêu thương và quen thuộc, thì họ vẫn có những hình mẫu và lý
tưởng của riêng mình. Nhưng người mà chỉ đi tìm định mệnh của anh ta sẽ chẳng có một hình mẫu hay lý tưởng nào cả, sẽ chẳng yêu
thương và điều gì vỗ về hết! Và thực ra đó chính là con đường mà một người nên theo đuổi. Người như tôi và cậu thực ra khá cô đơn,
nhưng chúng ta vẫn có nhau, chúng ta có được sự thỏa mãn bí mật vì chúng ta khác biệt, cứng đầu và ham muốn thứ gì đó phi thường.
Nhưng cậu cũng phải thể hiện nó ra cơ, nếu cậu muốn đi hết đến tận cùng con đường. Cậu không thể biến bản thân trở thành một nhà cách
mạng, hay ví dụ như một kẻ tử vì đạo. Điều đó là ảo tưởng –“

Phải, là ảo tưởng. Nhưng tôi có thể mơ, mong chờ và cảm nhận thấy. Có đôi lần tôi còn mường tượng ra được – trong một giờ đồng hồ chỉ
có sự tĩnh lặng tuyệt đối. Rồi tôi sẽ nhìn thẳng vào bản thân và đối diện với định mệnh của chính mình. Đôi mắt của nó sẽ đầy sự thông
thái, cũng ngập sự điên cuồng, chúng sẽ tỏa ra tình yêu hay sự hiểm độc sâu xa, như nhau cả. Bạn không được phép lựa ch ọn hay truy cầu
bất kỳ điều gì trong số đó. Bạn chỉ được phép ham muốn chính mình, chính định mệnh của mình mà thôi. Cho đến điểm này, Pistorius vẫn
là người dẫn đường cho tôi.

Trong những ngày đó tôi dạo bước như một kẻ mù lòa. Tôi cảm thấy phát điên – mỗi bước chân đều mang theo nguy hiểm xa lạ. Tôi chẳng
nhìn thấy gì trước mắt ngoài bóng tối sâu thẳm, nơi mọi con đường tôi đi cho đến giờ đều hướng đến và biến mất. Và tôi thấy trong tôi
hình hài của một bậc thầy, giống như Demian, và trong đôi mắt người đó, số mệnh của tôi đã được viết nên.
Tôi viết lên một mảnh giấy: “Một người dẫn dắt đã rời bỏ tôi, tôi bị bao vây trong bóng tối. Tôi chẳng thể bước tiếp một mình. Hãy cứu tôi.”

Tôi muốn gửi cho Demian, nhưng tôi đã không làm vậy. Mỗi lần tôi định làm điều đó, tôi lại thấy nó ngớ ngẩn và vô vị biết bao nhiêu.
Nhưng tôi thuộc nằm lòng lời nguyện cầu bé nhỏ ấy, và thường tự nói lại với chính mình. Nó theo tôi từng phút từng giờ và dần dần tôi bắt
đầu thấu hiểu nó.

Những tháng ngày đi học của tôi đã kết thúc. Theo lời cha, tôi đã có một chuyến đi trong kỳ nghỉ trước khi vào đại học. Nhưng tôi cũng
chẳng biết tôi sẽ học ngành nào. Nhưng chắc chắn tôi sẽ học một kỳ về triết học. Còn lại thì môn nào cũng không quan trọng.