You are on page 1of 5

BÀI TẬP THU HOẠCH MÔN TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG

Học viên: Lê Cao Chiến

Đơn vị công tác: Trung tâm TB,MT&ATLĐ – Viện VLXD

Chủ đề: Phân tích khái niệm, đặc điểm của hoạt động và vai trò của hoạt động
đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.

Hoạt động là phương thức tồn tại của con người, con người sống là con người
hoạt động và mọi hoạt động của con người đều có tính mục đích. Con người hiểu
được mục đích hoạt động của mình, từ đó mới định rõ chức năng, nhiệm vụ, động
lực của hoạt động để đạt hiệu quả trong công việc. Hoạt động của con người được
phân biệt với hoạt động của loài vật ở chính tính mục đích của hoạt động. Xét về
phương diện tâm lý học thì: “hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con
người và thế giới khách quan để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía
con người”. Qua quá trình hoạt động con người phát triển bản thân mình, đồng thời
tạo sự thay đổi ở thế giới khách quan. Như vậy, hoạt động là điều kiện để hình
thành và phát triển tâm lý. Không có hoạt động, con người không thể phát triển
tâm lý của chính mình cũng như cải tạo hiện thực xung quanh. Như vậy, trong quá
trình hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm trong thế giới khách quan vừa tạo ra
tâm lý của mình hay nói cách khác đi tâm lý, ý thức và nhân cách được bộc lộ và
hình thành trong hoạt động.

Với ý nghĩa như vậy thì hoạt động có những đặc điểm bao gồm:

1) Tính đối tượng của hoạt động: Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có
đối tượng bởi hoạt động luôn nhằm tác động vào một cái gì đấy để thay đổi nó
hoặc để tiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình. Đối tượng của hoạt động là sự vật,
tri thức,… cái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh, sử dụng nhằm thỏa mãn nhu
cầu.
2) Tính chủ thể của hoạt động: Con người thông qua các hành động, công
việc theo một kế hoạch, ý đồ nhất định chủ động tác động vào đối tượng làm bộc
lộ những đặc tính, đặc điểm của đối tượng để lĩnh hội kiến thức, tri thức mới và
phát triển tâm lý.

1
3) Tính mục đích của hoạt động: Đây là tính chất đặc trưng thể hiện trình độ,
năng lực con người trong việc chiếm lĩnh đối tượng. Hoạt động bao giờ cũng có
tính mục đích là tạo ra sản phẩm có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với việc thoả
mãn nhu cầu của con người và xã hội. Tính mục đích là quy luật điều khiển mọi
hoạt động. Trước khi bắt tay vào hoạt động, con người đã hình dung ra trong đầu
mình hình ảnh về kết quả sẽ đạt tới, và hình ảnh này chi phối các hoạt động. Hình
ảnh trong đầu này sẽ chỉ trở thành mục đích khi chúng ta bắt tay vào hoạt động để
đạt được hình ảnh đó.
4) Tính xã hội của hoạt động: Con người hoạt động không phải chỉ để tồn tại
như một cơ thể sống mà hoạt động để đáp ứng những nhu cầu và lợi ích xã hội.
Những nhu cầu của con người trong xã hội khác nhau là khác nhau và nhu cầu này
thúc đẩy con người hoạt động và phát triển.
5) Tính gián tiếp của hoạt động: Khi tác động vào thế giới khách quan, con
người luôn sử dụng công cụ lao động: công cụ vật chất (cuốc xẻng, máy móc, máy
tính, sách vở, v.v...) và công cụ tinh thần (tâm lý, kiến thức, cảm xúc tình cảm hay
động cơ mục đích, ngôn ngữ...). Chính các loại công cụ này tạo nên tính gián tiếp
của hoạt động. Sự phát triển của công cụ sẽ làm cho hoạt động của con người ngày
càng hiệu quả hơn. Trình độ phát triển của mỗi xã hội phụ thuộc vào sự phát triển
của công cụ lao động.

Hoạt động đóng vai trò quyết định đến sự hình thành và phát triển tâm lý và
nhân cách con người. Theo quan điểm tâm lý học mácxít, không phải con người
mới được sinh ra đã có sẵn nhân cách và cũng không phải nó được bộc lộ dần dần
từ các bản năng nguyên thủy. Nhân cách là một cấu tạo tâm lý mới được hình
thành và phát triển trong quá trình sống, hoạt động và giao tiếp của mỗi người.
Trong quá trình hình thành nhân cách bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó yếu tố
hoạt động đóng vai trò quyết định tới sự hình thành và phát triển nhân cách. Do
hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Hoạt động của con người mang
tính mục đích, xã hội và cộng đồng, được thực hiện bằng những thao tác nhất định
với những công cụ nhất định. Vì vậy, mỗi loại hoạt động có những yêu cầu nhất
định và đòi hỏi ở con người những phẩm chất tâm lý nhất định. Quá trình tham gia
hoạt động làm cho con người hình thành những phẩm chất đó. Vì thế, nhân cách
được hình thành và phát triển. Thông qua hai quá trình đối tượng hóa và chủ thể
hóa trong hoạt động mà nhân cách được bộc lộ và hình thành. Mặt khác cũng thông
qua hoạt động con người đóng góp lực lượng bản chất của mình vào việc cải tạo

2
thế giới khách quan. Ví dụ học viên phải thuyết trình một bài học thì người học sẽ
phải sử dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ và tình cảm của mình về bài học đó để
thuyết trình. Trong khi thuyết trình mỗi người lại có một tâm lý khác nhau như
người thì tự tin, nói to, rõ ràng và mạch lạc; người thì thiếu tự tin, run, lo sợ, nói
nhỏ, không mạch lạc. Cho nên phụ thuộc vào tâm lý mà bài thuyết trình sẽ đạt yêu
cầu hay không đạt yêu cầu. Đó chính là việc chủ thể chuyển năng lực và phẩm chất
tâm lý của mình tạo thành sản phẩm. Sau lần thuyết trình lần đầu tiên thì cá nhân
đó đã rút ra được rất nhiều kinh nghiệm cho bản thân, và đã biết làm thế nào để có
một bài thuyết trình đạt hiệu quả tốt. Nếu lần sau có cơ hội được thuyết trình thì sẽ
phải chuẩn bị một tâm lý tốt, đó là: phải tư tin, nói to, rõ ràng, mạch lạc, logic, phải
làm chủ được mình trước mọi người, đây chính là quá trình chủ thể hóa.

Hoạt động để lại những dấu ấn lên chính con người, tâm lý được hình thành
và phát triển trong hoạt động và bằng hoạt động. Mỗi một dạng hoạt động đều đề
ra cho con người những yêu cầu nhất định, đòi hỏi con người thực hiện nó và tạo
điều kiện cho con người thực hiện các yêu cầu đó.

Thông qua các dạng hoạt động khác nhau mà con người có điều kiện thể hiện
năng lực, phẩm chất của bản thân, có cơ hội thể nghiệm một cách thực tế những
mặt mạnh, mặt yếu, những điểm cần rèn luyện, những điểm nên phát huy của bản
thân. Ví dụ, trong công việc học tập của sinh viên, sinh viên nào hăng say nghiên
cứu, học tập, tìm tòi tự khắc sẽ phát hiện ra những ưu nhược điểm của mình và sẽ
có cách phát huy cũng như hạn chế những ưu khuyết điểm đó, mục đích là để hoàn
thiện nhan cách bản thân.

Mối quan hệ giữa hoạt động và sự phát triển nhân cách là mối quan hệ biện
chứng. Tuỳ thuộc vào tính chất và nội dung của hoạt động khác nhau, mà hoạt
động có thể tạo điều kiện cho sự phát triển nhân cách ở những mức độ khác nhau.
Nói chung, hoạt động càng phong phú, phức tạp sẽ càng thuận lợi và tạo điều kiện
cho cá nhân phát triển hơn. Mặt khác, cá nhân càng phát triển thì càng có thể tham
gia vào các hoạt động phức tạp hơn.

Hiểu được mối quan hệ giữa hoạt động và nhân cách nên hoạt động phải được
coi là một phương tiện giáo dục cơ bản. Nhưng không phải ở tất cả các giai đoạn
hay thời kỳ phát triển và cũng không phải tất cả các dạng hoạt động đều có tác
động như nhau đến sự hình thành và phát triển nhân cách. Sự hình thành và phát

3
triển nhân cách phụ thuộc vào hoạt động chủ đạo của từng thời kỳ, ví dụ: Giai đoạn
mầm non hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi, trẻ bắt trước các hành động sử
dụng đồ vật, nhờ đó khám phá, tìm hiểu sự vật xung quanh. Giai đoạn tiểu học hoạt
động chủ đạo là hoạt động học tập, hoạt động học là hoạt động có ý thức được điều
khiển một cách tự giác nhằm lĩnh hội chi thức, kỹ năng, kỹ xảo, nó vừa là động lực
vừa là cơ sở cho sự xuất hiện các phẩm chất tâm lý mới. Nó tạo ra cơ sở cho những
biến đổi quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách con người. Giai đoạn học
sinh trung học cơ sở thì hoạt động chủ đạo là hoạt động giao lưu tâm tình; Giai
đoạn học sinh trung học phổ thông thì hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập,
hướng nghiệp; Giai đoạn sinh viên đại học thì hoạt động chủ đạo là hoạt động học
tập, trang bị tri thức và kỹ năng nghề nghiệp; Giai đoạn trưởng thành là hoạt động
lập nghiệp, lập thân; Giai đoạn trung niên là hoạt động lao động, chăm lo con cái,
phụng dưỡng cha mẹ và giai đoạn về già là hoạt động nghỉ ngơi, hoài niệm về quá
khứ. Muốn hình thành nhân cách, con người phải tham gia vào các dạng hoạt động
khác nhau, trong đó đặc biệt chú ý tới vai trò của hoạt động chủ đạo. Vì thế phải
lựa chọn, tổ chức và hướng dẫn các hoạt động đảm bảo tính giáo dục và tính hiệu
quả đối với việc hình thành và phát triển nhân cách ở từng giai đoạn phát triển của
mỗi người.

4
BÀI TẬP THU HOẠCH MÔN TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM ĐẠI HỌC

Học viên: Lê Cao Chiến

Đơn vị công tác: Trung tâm TB,MT&ATLĐ – Viện VLXD

Chủ đề: Xây dựng bảng mô tả nghề mà các thầy cô đang đào tạo sinh viên
hoặc nghề mà các thầy cô được đào tạo trong trường ĐH

Do lĩnh vực hoạt động của em là nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu xây dựng
nên để có thể nắm bắt rõ hơn những kiến thức của môn học tâm lý sư phạm đại
học. Em xin phép lựa chọn xây dựng bảng mô tả nghề “nghiên cứu vật liệu xây
dựng”, em mong nhận được sự đóng góp của thầy để em có thể nhận thức rõ hơn
về nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn cũng như xác định được những hướng đi
đúng trong tương lai để phát triển nghề nghiệp bản thân.