You are on page 1of 13

CÁC GIẢI PHÁP THIẾT KẾ ĐỂ SƠ TÁN KHẨN CẤP

TRONG NHÀ CAO TẦNG KHI XẨY RA HỎA HOẠN


KS. Lê Cao Chiến
TT. Thiết bị, Môi trường & An toàn Lao động, Viện VLXD

TÓM TẮT:
Đang ngày càng nhiều tòa nhà cao tầng xuất hiện tại các thành phố lớn và hiện đại, tuy
nhiên việc sơ tán khẩn cấp trong các tòa nhà cao tầng vẫn đang là một vấn đề khó khăn
trên toàn thế giới. Sự kiện 11/9 tại Mỹ và các vụ cháy nhà cao tầng đã giúp chúng ta hiểu
sâu sắc hơn về các vấn đề liên quan đến các tình huống khẩn cấp trong các tòa nhà cao
tầng, các rủi ro, các mối đe dọa phải đối mặt đối với những người sống và làm việc trong
đó. Hiện nay trên thị trường đang cung cấp rất nhiều các giải pháp và thiết bị sơ tán
khẩn cấp sử dụng cho nhà cao tầng. Bài viết này trình bày những phát triển trong lĩnh
vực giải pháp sơ tán khẩn cấp nhà cao tầng, thảo luận về sự cần thiết của các thiết bị đó,
khả năng ứng dụng và lợi ích của các giải pháp, cách tiếp cận được thực hiện ở một số
quốc gia khác nhau.
Từ khóa: Sơ tán khẩn cấp, thoát hiểm, hỏa hoạn, nhà cao tầng.

The high rising building emergency evacuation solutions from high rise fires
ABSTRACT:
More and more high rising buildings emerged in big and modern cities, but emergency
evacuation of tall buildings has been a worldwide difficult problem. Extreme events such
as 9/11 in America and high-rise fires have deepened understanding of particular
problems associated with emergency situations in high-rise buildings, the risks and the
threats facing those who live and work in them. This paper presents developments in the
area of high-rise building emergency evacuation solutions, discusses the need for such
devices, the applicability and benefits of the different solutions, the approach taken in a
number of other countries.
Keywords: Emergency evacuation, escape, fire, high rising building.

1. Mở đầu
Khi kinh tế phát triển thì các tòa nhà cao tầng ngày càng mọc lên nhiều ở các
thành phố lớn. Trong trường hợp xẩy ra hỏa hoạn, cư dân sinh sống trong các tòa nhà cao
tầng thường phải đối diện với các rủi ro từ sự lây lan đám cháy, sức nóng, khói và khí độc
hại, làm mất phương hướng dẫn đến tử vong. Trong trường hợp không có sự đảm bảo
một cách đầy đủ về mặt thiết kế, thi công hoặc bảo trì công trình, khi xẩy ra hỏa hoạn ở
một tầng thì có thể lan lên tầng trên và đôi khi sang bên cạnh và tầng bên dưới. Do đó,
các nhà thiết kế và quản lý tòa nhà cần phải quan tâm đến các biện pháp nhằm giảm thiểu
1
các nguy cơ và rủi ro tiềm tàng. Các tòa nhà cao tầng hiện đại phải được thiết kế và xây
dựng sao cho bất kỳ đám cháy nào xẩy ra tại một căn hộ hoặc trong trường hợp xấu nhất
xẩy ra tại tầng một phải tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn bao gồm việc cung cấp các biện
pháp phát hiện khói, nhiệt, hệ thống báo cháy, vòi phun nước, bể chứa nước và hệ thống
bơm nước áp lực kết nối với các hệ thống ống dẫn nước trong tòa nhà một cách đầy đủ.
Ngoài ra, cũng cần có hệ thống thông gió với các van gió tự động được đặt đúng vị trí để
cách ly khói và khí độc phát sinh từ các khu vực xẩy ra cháy. Nếu các hệ thống này được
thiết kế đúng vị trí và duy trì khả năng hoạt động tốt thì có thể kiểm soát sự lây lan đám
cháy và nhiệt cho phép người bị nạn di chuyển đến các vị trí thoát hiểm được an toàn [1].
Bên cạnh đó, vấn đề sơ tán khẩn cấp trong tòa nhà cao tầng trong những năm gần đây
cũng đang được chú ý, đặc biệt liên quan tới hệ thống thang bộ thoát hiểm thông thường
tồn tại những vấn đề như khả năng hạn chế, tốc độ di tản chậm. Hơn nữa việc di tản từ
trên cao qua nhiều tầng bằng cầu thang bộ là rất khó khăn ngay cả đối với những người
khỏe mạnh và gần như là điều không thể đối với những người có giới hạn về thể chất.

Hình 1 –Vụ cháy và sơ đồ thiết kế chung cư 24 tầng Grenfell (Anh) năm 2017
Vụ cháy làm chấn động thế giới năm 2017 nhấn chìm tòa chung cư 24 tầng
Grenfell – phía tây London đã làm ít nhất 12 người chết và 75 người bị thương. Từ thiết
kế của chung cư cho thấy lối thoát hiểm khẩn cấp trong tòa nhà bị giới hạn trong một cầu
thang. Lối thoát hiểm hạn chế như vậy đã gây ra sự hỗn loạn khi xẩy ra cháy, vì dân cư và
lính cứu hỏa đều đang sử dụng cùng một cầu thang, trong khi dân cư đang đổ xuống mặt
đất thì lực lượng lính cứu hỏa đang phải leo lên để cứu nạn các cư dân đang bị mắc kẹt
bên trong tòa nhà. Ngoài ra, giới hạn không gian nằm ở lõi tòa nhà cũng cho thấy một
thiết kế kém trong việc sơ tán khẩn cấp. Hiện nay một số quốc gia đang khuyến nghị
trong thiết kế các tòa nhà cao tầng cần đáp ứng việc sơ tán toàn bộ người cư ngụ kịp thời,
các lối thoát hiểm cần được thiết kế để tối đa hóa khả năng thoát hiểm. Các công nghệ
mới được đánh giá để sử dụng nhằm tạo điều kiện cho người cư ngụ sơ tán khẩn cấp, kịp
thời và cho phép tất cả mọi người có cơ hội bình đẳng như nhau, bao gồm cả người
khuyết tật. Trên thị trường hiện nay cũng đã đáp ứng mối quan tâm này với nhiều thiết bị
hỗ trợ thoát hiểm khẩn cấp như dù thoát hiểm, hệ thống dây tụt thoát hiểm, hệ thống
thang hạ, máng trượt và thậm trí là máy bay cất cánh và hạ cánh thẳng đứng. Bài viết này
sẽ tập trung vào các giải pháp thoát hiểm bên ngoài bao gồm: Hệ thống sơ tán kiểu sàn
nâng hạ (Platform Rescue System - PRS), thiết bị dạng ống (Chute Devices) và hệ thống
thiết bị tụt thoát hiểm (Controlled Descent Devices).
2
2. Hệ thống sơ tán kiểu sàn nâng hạ
Thiết bị sơ tán kiểu sàn nâng hạ được định nghĩa là một thiết bị dạng cabin kín di
chuyển dọc theo các bộ phận dẫn hướng ở bên ngoài tòa nhà sử dụng để di tản nhiều cư
dân ra khỏi tòa nhà cao tầng. Thiết bị PRS có thể là loại cố định được lắp đặt trên tòa nhà,
thường tại các vị trí bị che khuất như trên mái tòa nhà hoặc loại di động được đưa lên tòa
nhà bởi nhân viên cứu hộ khi cần thiết.

Hình 2 – Hình ảnh thiết bị sơ tán PRS


Hình 2 là một thiết kế thiết bị sơ tán PRS điển hình. Trong một tòa nhà có thể bao
gồm hai hay nhiều thiết bị. Mỗi thiết bị là một dãy gồm 5 cabin. Hệ thống được gắn cố
định trên mái nhà tại một vị trí khuất. Khi triển khai, từng mảng hạ xuống mặt đất sau đó
được mở ra cho phép nhân viên cứu hộ lên cabin. Hệ thống PRS sẽ di chuyển lên trên cho
đến khi đối diện với 5 sàn đồng thời. Hệ thống cho phép di tản 150 người cho một lần di
chuyển, như vậy 2 hệ thống sơ tán được cùng lúc 300 người trong vòng 8 phút [2]. Hệ
thống PRS có những ưu điểm sau:
- Có thể di tản được nhiều người cho mỗi chu kỳ sơ tán;
- Hệ thống là một giải pháp cho các tòa nhà rộng và có thể cho phép nhân viên
cứu hộ kiểm soát quá trình sơ tán;
- Có khả năng vận chuyển nhân viên cứu hộ và thiết bị vào hiện trường tòa nhà
nhanh chóng;
- Hệ thống có hiệu quả với các tòa nhà rất cao;
- Không cần có kỹ năng đặc biệt đối với dân cư khi thoát hiểm qua hệ thống;
- Phù hợp với người di tản mọi lứa tuổi và điều kiện thể chất kể cả người khuyết
tật.
Tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật cho thiết bị PRS hiện nay là ASTM E2513 - Standard
Specification for Multi-Story Building External Evacuation Platform Rescue Systems.
3
Tiêu chuẩn này bao gồm các thông số kỹ thuật, yêu cầu an toàn, các hướng dẫn về tính
năng, thiết kế, lắp đặt, ghi nhãn và phương pháp thử nghiệm đối với hệ thống sơ tán bên
ngoài tòa nhà (PRS) để thoát hiểm khẩn cấp cho những người không thể sử dụng phương
tiện thông thường đến khu vực an toàn và để vận chuyển nhân viên cứu hộ.

3. Hệ thống sơ tán kiểu ống


Hệ thống thiết bị sơ tán kiểu ống (Escape Chute) là thiết bị hình trụ hoặc máng,
thường được làm bằng vải hoặc lưới chống cháy. Việc lắp đặt máng có thể là dốc ra ngoài
hoặc thẳng đứng, và mỗi máng có thiết kế riêng để kiểm soát tốc độ tụt của người di tản.
Thiết kế dốc thường được lắp đặt và sử dụng cho một tầng cụ thể, trong khi thiết kế dọc
có thể cho phép sơ tán từ nhiều tầng thông qua cùng một máng. Thiết bị máng hoặc ống
sơ tán có thể lắp đặt cố định ở một nơi khuất bên trong hoặc trên tòa nhà, kết nối với một
lối vào bên ngoài cụ thể hoặc của một thiết bị di động có thể di chuyển đến các địa điểm
sơ tán khác nhau. Hệ thống sơ tán kiểu máng, ống cũng có thể được lắp đặt trên phương
tiện di chuyển, và được đưa đến tòa nhà bởi lực lượng cứu hộ trong trường hợp khẩn cấp.

Hình 2 – Thiết bị sơ tán kiểu ống


Ống tụt thoát hiểm có một số ưu điểm như:
- Triển khai dễ dàng và nhanh chóng;
- Bảo vệ người di tản với lửa, khói và nhiệt trong khi di chuyển nhanh chóng ra
khỏi tòa nhà;
- Có thể sơ tán dòng người di tản liên tục;
- Có ít hoặc không có yêu cầu về hướng dẫn sử dụng;
- Yêu cầu ít về thể chất trong việc trượt xuống và một số có thể phù hợp cho
người bị thương, tàn tật, người già hoặc thậm chí là người bất tỉnh.

Việc xác định các đặc trưng nhiệt của cửa sổ & cửa đi là một thành phần quan
trọng không thể thiếu của tất cả các chương trình sử dụng năng lượng hiệu quả trên thế
giới. Trong các hệ thống tiêu chuẩn hiện nay có ba phương pháp chính để có thể xác định
các đặc trưng nhiệt của cửa sổ cửa đi bao gồm 3 thông số cơ bản là hệ số SHGC, U-Value

4
và hệ số VLT cho hệ thống cửa cũng như vật liệu thành phần. Thứ nhất là tiêu chuẩn tính
toán như ISO 15099, NFRC 200, EN 410, EN 13663, JIS A 2103. Đây là tiêu chuẩn tính
toán ba thông số đặc trưng nhiệt của toàn bộ hệ thống cửa trên cơ sở các thông số vật lý
của từng thành phần cấu tạo nên hệ thống cửa sổ, cửa đi. Tiêu chuẩn này được sử dụng
phổ biến nhất trên thế giới nhằm xác định được toàn bộ ba đặc trưng nhiệt của hệ thống
cửa sổ, cửa đi trong việc đánh giá hiệu quả tiết kiệm năng lượng của tòa nhà. Phương
pháp thứ hai là phương pháp đo vật lý bằng thiết bị giả lập ánh sáng nhân tạo như tiêu
chuẩn ISO 19467, JIS A1493,… Đây là phương pháp đo ba thông số nhiệt của toàn bộ
kết cấu cửa sổ, cửa đi bằng hệ thống thiết bị mô phỏng năng lượng mặt trời sử dụng
nguồn sáng nhân tạo, thiết bị như trong Hình 2.

Hình 2: Hệ thống thiết bị đo đặc trưng nhiệt của cửa


Thứ ba là tiêu chuẩn về phương pháp đo vật lý các đặc trưng nhiệt sử dụng nguồn
ánh sáng mặt trời trực tiếp – Phương pháp Solar Calorimeter như NFRC 201, ASTM
C1363 bằng thiết bị đo nhiệt lượng kế mặt trời như chỉ ra trong Hình 3.

Hình 3: Thiết bị đo bằng nhiệt lượng kế mặt trời


Trong ba phương pháp nêu trên thì phương pháp tính toán theo tiêu chuẩn ISO
15099 được sử dụng phổ biến và hiệu quả nhất do các phương tiện, thiết bị xác định các
thông số vật lý của các thành phần cửa là có chi phí phù hợp nhất với điều kiện thực tế
5
của Việt Nam. Hơn nữa, trong hệ thống Tiêu chuẩn Quốc gia Việt Nam – TCVN đã có
một số các tiêu chuẩn liên quan tới truyền nhiệt của các loại vật liệu xây dựng, kính đều
được xây dựng trên cơ sở chấp nhận tương đương với tiêu chuẩn Quốc tế. Do đó, nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng tiêu chuẩn vào thực tế và việc đồng bộ hệ
thống hóa tiêu chuẩn liên quan tới lĩnh vực tiết kiệm năng lượng. Cho nên, tiêu chuẩn này
được xây dựng trên cơ sở chấp nhận tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 15099:2003
–“Thermal performance of windows, doors and shading devices - Detailed calculations”.
3. Nội dung tiêu chuẩn:
Về bố cục, tiêu chuẩn TCVN 11857:2017 “Đặc trưng nhiệt của cửa sổ, cửa đi và
thiết bị che nắng – tính toán chi tiết” được trình bày theo yêu cầu tiêu chuẩn Việt Nam
gồm những nội dung chính như sau:
1. Tên tiêu chuẩn: Đặc trưng nhiệt của cửa sổ, cửa đi và thiết bị che nắng – tính toán
chi tiết.
2. Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định quy trình tính toán chi tiết để xác định các đặc tính truyền nhiệt
và truyền quang (ví dụ như độ truyền nhiệt, tổng hệ số truyền năng lượng mặt trời) của hệ
thống cửa sổ và cửa đi dựa trên hầu hết các thuật toán, các phương pháp được cập nhật,
các tính chất liên quan đến nhiệt và năng lượng mặt trời của tất cả các thành phần cửa.
Tiêu chuẩn này dùng cho cửa sổ và cửa đi kết hợp với các loại sau:
a) các hệ thống cửa làm bằng kính đơn lớp hoặc đa lớp có hoặc không có lớp phủ phản
quang, lớp phủ phát xạ nhiệt thấp và màng chất dẻo dán giữa các lớp kính;
b) các hệ thống cửa kính có khoảng không giữa các tấm chứa khí hoặc hỗn hợp khí với
độ rộng bất kỳ;
c) các miếng đệm bằng kim loại hoặc phi kim loại;
d) các khung cửa với vật liệu và thiết kế bất kỳ;
e) các sản phẩm cửa sổ đặt nghiêng ở góc bất kỳ;
f) các kết cấu che nắng;
g) các sản phẩm cửa nhô ra.
3. Ký hiệu: Trình bày các ký hiệu và thuật ngữ sử dụng trong tiêu chuẩn
4. Xác định các tính chất của tổng thể hệ thống cửa sổ và cửa đi: Đưa ra các thủ tục
tính toán chi tiết để xác định các tính chất truyền nhiệt, truyền năng lượng mặt trời
(SHGC) của các thành phần sản phẩm khác nhau, sau đó được sử dụng để xác định tính
chất truyền nhiệt của sản phẩm tổng thể.
5. Các tính chất của vùng nhìn xuyên: Đưa ra các thủ tục tính toán chi tiết để xác
định các tính chất quang của các lớp kính, hệ thống kính, các tính chất truyền nhiệt của
các lớp kính, hỗn hợp khí giữa các lớp kính.
6. Ảnh hưởng của khung cửa: Điều này đưa ra phương pháp tính toán hệ số truyền
nhiệt của phần khung.
6
7. Kết cấu che nắng: Điều này đưa ra các phương trình tính toán ảnh hưởng của thiết
bị che nắng đến tính chất nhiệt và quang của hệ thống cửa sổ, cửa đi.
8. Điều kiện biên: Đưa ra điều kiện biên vào mùa hè, mùa đông để tính toán, và các
thủ tục để tính toán truyền nhiệt đối lưu, truyền bức xạ sóng dài và tính toán chi tiết
truyền bức xạ nhiệt cho hệ thống cửa sổ, cửa đi.
Để có thể xác định được các thông số cửa sổ cần phải sử dụng các điều kiện biên tức là
điều kiện môi trường đưa vào tính toán. Điều kiện biên bao gồm: nhiệt độ bên trong, bên
ngoài mùa hè và mùa đông, cường độ bức xạ mặt trời; các hệ số truyền nhiệt đối lưu tại
bề mặt bên trong và bên ngoài (những hệ số này liên quan tới tốc độ gió, chênh lệch nhiệt
độ giữa bề mặt và không khí và thông số bề mặt, hình dạng); phân bố quang phổ bức xạ
mặt trời, độ nhạy sáng của mắt ứng với các bước sóng quang phổ mặt trời, bức xạ sóng
dài trên bề mặt bên ngoài và bên trong (những hệ số này liên quan tới hệ số nhìn và điều
kiện bầu trời).
Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa. Lãnh thổ Việt Nam được chia làm
2 miền Bắc và Nam với khí hậu khác biệt. Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam được chia làm 7
vùng khí hậu, miền bắc chia làm 4 vùng và miền nam chia làm 3 vùng khí hậu. Mỗi vùng
đều có điều kiện nhiệt độ, bức xạ mặt trời khác nhau. Tiêu chuẩn, quy chuẩn về dữ liệu
khí hậu là TCVN 4088:1985, và QCVN 02:2009/BXD. Do đó tại Việt Nam hiện nay
chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn, hay nghiên cứu nào đưa ra đầy đủ hay căn cứ khoa học,
do đó nhóm xây dựng tiêu chuẩn chưa có căn cứ để xác định một bộ điều kiện biên riêng
áp dụng cho điều kiện khí hậu Việt Nam. Do đó nhóm tác giả xây dựng tiêu chuẩn đã tiến
hành nghiên cứu khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bên trong bên ngoài tới các thông số tính
toán từ tiêu chuẩn như sau:
 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ bên ngoài đến thông số U-value.
Kết quả thể hiện trong Hình 4

Hình 4: Khảo sát ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ bên ngoài mùa đông đến U-value
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ số U-value khi tính theo nhiệt độ -5 oC là nhiệt độ thấp
nhất được ghi nhận tại Việt nam cũng chỉ thay đổi rất nhỏ -0.91% so với điều kiện ISO
lựa chọn tại 0oC. Giá trị U-value thu được sai khác trong phạm vi 2 số sau dấu phẩy là có

7
thể chấp nhận được trong phạm vi đo đạc, tính toán trong kỹ thuật tính toán truyền nhiệt
tuân theo QCVN09:2013/BXD.
 Khảo sát ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ bên ngoài, mùa hè đến thông số
SHGC-value. Kết quả được thể hiện trong Hình 5

Hình 5: Khảo sát ảnh hưởng điều kiện nhiệt độ bên ngoài mùa hè đến SHGC
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ số SHGC gần như không thay đổi khi tính theo nhiệt độ
40 C. Nhiệt độ cao nhất tại Việt Nam ghi nhận được cũng chỉ tới khoảng 36 oC. Giá trị
o

SHGC thu được sai khác trong phạm vi 3 số sau dấu phẩy là chấp nhận được trong phạm
vi đo đạc, tính toán trong kỹ thuật tính toán truyền nhiệt tuân theo QCVN09:2013/BXD.
Thông số truyền sáng thì không phụ thuộc vào các điều kiện biên lựa chọn. Ngoài ra
để có cơ sở khoa học lựa chọn bộ điều kiện biên phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam.
Nhóm tác giả cũng đã nghiên cứu các bộ điều kiện biên được sử dụng trên thế giới để
tính toán xác định các đặc tính của cửa sổ, cửa đi sử dụng phương pháp tính nhằm đánh
giá so sánh và xếp hạng sản phẩm cửa. Kết quả cho thấy các hệ thống đánh giá trên thế
giới đều chỉ sử dụng một trong hai bộ điều kiện biên: bộ điều kiện biên theo tiêu chuẩn
này và bộ điều kiện biên theo tiêu chuẩn NFRC của Hoa Kỳ. Bảng 1 có đưa ra một số
điều kiện biên được sử dụng tại các Quốc gia trên thế giới. Cho thấy bộ điều kiện biên
được đưa ra trong tiêu chuẩn ISO 15099 được sử dụng phổ biến do đó nhóm thực hiện dự
án xây dựng tiêu chuẩn đã thực hiện xây dựng tiêu chuẩn này trên cơ sở chấp nhận hoàn
toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 15099, bao gồm cả giữ nguyên các thông số
điều kiện biên được đưa ra trong tiêu chuẩn quốc tế. Việc sửa đổi điều kiện biên phù hợp
là điều cần thiết nhưng phải trên cơ sở những nghiên cứu khoa học chuyên sâu và đầy đủ,
đánh giá được thực tế và ảnh hưởng của các điều kiện thực tế tại Việt Nam đến các đặc
tính nhiệt của cửa. Điều này không thể thực hiện trong thời gian ngắn, do đó trong quá
trình áp dụng tiêu chuẩn trong tương lai và khi đã có đầy đủ căn cứ thì có thể xem xét bổ
sung và sửa đổi trong các bản soát xét của tiêu chuẩn này trong tương lai.

8
Bảng 1: Một số điều kiện biên được sử dụng trên thế giới

9
Phụ lục A: Trình bày kỹ thuật tính toán cho kính đa lớp
Phụ lục B: Đưa ra các tính chất nhiệt vật lý của khí điền đầy
Phụ lục C: Đưa ra ví dụ về phương pháp tính toán kết cấu che nắng loại thanh
Phụ lục D: Đây là phụ lục nhóm dự án bổ sung thêm nhằm cung cấp một vài ví dụ
tính toán minh họa để người sử dụng tiêu chuẩn dễ hình dung ra phương pháp và cách
thực thực hiện tính toán.
4. Tính toán đặc trưng nhiệt bằng phần mềm
Các thông số nhiệt và quang của toàn bộ kết cấu cửa sổ, cửa đi được tính toán tổng
thể dựa trên tính chất và diện tích của các thành phần tham gia vào kết cấu cửa. Do đó,
đây là một phương pháp tính toán giá trị tổng thể của kết cấu sản phẩm lớn từ các thông
số dữ liệu đo thực nghiệm. Các thông số thực nghiệm cần thiết đối với khung là hệ số dẫn
nhiệt của các thành phần khung, còn đối với kính cần các thông số hệ số dẫn nhiệt của
kính, hệ số SHGC của kính, hệ số hấp thụ năng lượng mặt trời, hệ số phản xạ năng lượng
mặt trời, hệ số phát xạ năng lượng mặt trời và hệ số truyền sáng của kính được xác định
bằng cách đo đạc sử dụng tiêu chuẩn TCVN 7737 (ISO 9050) “Kính xây dựng - Phương
pháp xác định độ xuyên quang, độ phản quang, tổng năng lượng bức xạ mặt trời truyền
qua và độ xuyên bức xạ tử ngoại”.
Các thuật toán tiêu chuẩn đưa ra rất phức tạp do đó việc thực hiện tính toán bằng
thủ công có thể gây ra sai số do nhầm lẫn, rất khó kiểm soát và khó tiếp cận tính toán.
Trên thế giới hiện nay tại các quốc gia có hệ thống chứng nhận dán nhãn năng lượng cho
hệ thống cửa sổ, cửa đi sử dụng tiêu chuẩn ISO 15099 này làm cơ sở tính toán như
10
Australia, Ấn Độ, Hoa kỳ, Nam Phi, Singgapore,…, đều sử dụng phần mềm tính toán
Window do Phòng thí nghiệm Lawrence Berkeley National Laboratory (Hoa kỳ) phát
triển. Đây là phần mềm máy tính hoàn toàn miễn phí để tính toán đặc trưng nhiệt của toàn
bộ cửa sổ, cửa đi (như hệ số U, hệ số SHGC, hệ số che nắng SC, hệ số truyền sáng VLT).

Hình 6: Giao diện phần mềm tính toán đặc trưng nhiệt cửa sổ, cửa đi
Việc sử dụng phần mềm đơn giản, dễ sử dụng. Chỉ cần lựa chọn các điều kiện biên
theo tiêu chuẩn đưa ra. Tính chất của kính được xác định theo TCVN 7737 (ISO 9050) và
nhập vào dữ liệu đầu vào. Phần mềm tính toán sẽ tự động tính toán giá trị SHGC, U-
value, VLT, SC cho loại kính thử nghiệm. Ngoài ra phần mềm còn có thể tính toán và xác
định được ảnh hưởng của các kết cấu che nắng tới đặc trưng nhiệt của hệ thống cửa khi
đưa vào tính toán.
Việc sử dụng phần mềm tính toán này sẽ giảm bớt thời gian tính toán, giảm sai số
khi tính toán các thông số đặc trưng nhiệt của cửa. Đây là phương pháp đơn giản, chính
xác, được sử dụng rộng rãi và chi phí thấp trong việc xác định hệ số hấp thụ năng lượng
mặt trời SHGC của toàn bộ hệ thống cửa sổ, cửa đi. Phù hợp với hệ thống tiêu chuẩn
Quốc gia hiện hành và nhu cầu thực tế tại Việt Nam.
Phần mềm được thiết kế với giao diện thân thiện người dùng. Các thuật toán được
cập nhật để tính toán các đặc tính quang học – nhiệt của cửa sổ, cửa đi tổng thể phù hợp
với các tiêu chuẩn ISO 15099, ASHRAF SPC142, NFRC. Phần mềm được tích hợp với
cơ sở dữ liệu kính quốc tế IGDB được cập nhật thường xuyên và được sử dụng rộng rãi
trên thế giới.
Phần mềm Berkeley Lab WINDOW thực hiện được các tính năng:
 Có khả năng phân tích các sản phẩm được làm từ bất kỳ sự kết hợp của các lớp
kính, lớp khí, khung cửa, miếng đệm và thanh chia dưới mọi điều kiện môi trường
và góc nghiêng;
 Có khả năng mô hình các hệ thống cửa kính phức tạp như kết hợp với rèm, mành,
rèm cuốn;
 Có thể truy cập trực tiếp vào các thư viện dữ liệu của các thành phần kính (như hệ
thống kính, các lớp kính, khí điền đầy, khung cửa, các thành phần thanh chia) và
các điều kiện môi trường;
11
 Có khả năng tùy chỉnh với các kích thước và tính chất nhiệt của mỗi thành phần
cửa trong hệ thống cửa sổ, cửa đi;

Hình 7: Kết quả phân bố nhiệt từ THERM


Các kết quả được đưa ra từ phần mềm Berkeley Lab WINDOW:
 Các giá trị U-value, Tổng năng lượng mặt trời truyền qua (SHGC), hệ số chắn
nắng (SC) và hệ số truyền sáng (VT) của tổng thể hệ thống cửa;
 Các giá trị U-value, Tổng năng lượng mặt trời truyền qua (SHGC), hệ số chắn
nắng (SC) và hệ số truyền sáng (VT) của hệ kính (các đặc tính của phần kính);
 Các giá trị U-value của thành phần khung cửa, thanh chia và các mép kính tương
ứng;
 Các tổng năng lượng mặt trời, truyền sáng và phản xạ của hệ thống cửa kính;
 Các đặc tính nhiệt, năng lượng mặt trời, truyền sáng, hấp thụ nặng lượng mặt trời
phụ thuộc vào góc chiếu của hệ thống cửa kính;
 Hàm lượng ẩm tương đối của không khí bên trong và bên ngoài có khả năng xảy
ra ngưng tụ trên bề mặt kính bên trong và bên ngoài;
 Phân bố nhiệt của phần tâm kính.
5. Kết luận
Tiêu chuẩn TCVN 11857:2017 “Đặc trưng nhiệt của cửa sổ, cửa đi và thiết bị che
nắng – tính toán chi tiết” được xây dựng là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển
của ngành vật liệu xây dựng. Tiêu chuẩn này là cơ sở để đánh giá kiểm tra các sản phẩm
cửa sổ & cửa đi nhằm tính toán kiểm tra thông số đặc trưng nhiệt của hệ thống cửa góp
phần quản lý chất lượng và bảo vệ người tiêu dùng. Góp phần ổn định và nâng cao chất
lượng của sản phẩm. Ngoài ra tiêu chuẩn sẽ sử dụng làm căn cứ để chứng nhận hiệu suất
năng lượng cho hệ thống cửa sổ, cửa đi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO


[1] ISO 15099:2003 - Thermal performance of windows, doors and shading devices -
Detailed calculations;

12
[2] ANSI/NFRC 200-2014: Procedure for Determining Fenestration Product Solar Heat
Gain Coefficient and Visible Transmittance at Normal Incidence;
[3] JIS A 2103:2014 - Thermal performance of windows and doors -- Calculation of solar
heat gain coefficient;
[4] ISO 8301, Thermal insulation - Determination of steady-state thermal resistance and
related properties - Heat flow meter apparatus;
[5] ISO 9288, Thermal insulation - Heat transfer by radiation - Physical quantities and
definitions;
[6] TCVN 7737 (ISO 9050), Kính xây dựng – Phương pháp xác định độ xuyên quang, độ
phản quang, tổng năng lượng bức xạ mặt trời truyền qua và độ xuyên bức xạ tử ngoại;
[7] TCVN 9313 (ISO 7345), Cách nhiệt – Các đại lượng vật lý và định nghĩa;
[8] TCVN 9312 (ISO 9251) Cách nhiệt - Điều kiện truyền nhiệt và các đặc tính của vật
liệu - Từ vựng;
[9] TCVN 9502 (BS EN 673) Kính xây dựng - Xác định hệ số truyền nhiệt (Giá trị U) -
Phương pháp tính;
[12] TCVN 9258:2012 Chống nóng cho nhà ở - Hướng dẫn thiết kế;
[13] TCXDVN 306: 2004 Nhà ở và công trình công cộng - Các thông số vi khí hậu trong
phòng;
[14] TCVN 4605: 1988 Kỹ thuật nhiệt – Kết cấu ngăn che – Tiêu chuẩn thiết kế;
[15] QCVN 09:2013/BXD – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng sử
dụng năng lượng hiệu.

13