You are on page 1of 30

1

Chương I
KHÁI QUÁT VỀ ANTEN CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG

1.1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ANTEN

1.1.1: Khái niệm Anten và vị trí của Anten trong thông tin vô tuyến điện
Anten là thiết bị dùng để bức xạ sóng điện từ hoặc thu nhận sóng điện từ trong
không gian bên ngoài.
Anten là bộ phận quan trọng không thể thiếu được của bất kỳ hệ thống vô
tuyến điện nào, bởi vì đã là hệ thống vô tuyến nghĩa là hệ thống trong đó có sử dụng
sóng điện từ nên không thể thiếu thiết bị thu phát sóng điện từ hay chính là Anten.
Một hệ thống truyền dẫn đơn giản bao gồm máy phát, máy thu, Anten phát và Anten
thu (Hình1.1). Anten được ứng dụng trong các hệ thống thông tin vô tuyến, vô
tuyến truyền thanh, truyền hình, vô tuyến đạo hàng, vô tuyến thiên văn, vô tuyến
điều khiển từ xa….

Anten phát Anten thu

Nguồn Đầu
tin Thiết bị Máy Máy Thiết bị
ra
xử lý phát thu xử lý
nhận
tín hiệu tín hiệu
tin
Hình 1.1: Hệ thống truyền tin đơn giản

Ở nơi phát, sóng điện từ cao tần được truyền dẫn từ máy phát đến Anten thông
qua hệ thống fidơ dưới dạng sóng điện từ ràng buộc. Anten phát có nhiệm vụ biến
đổi sóng điện từ ràng buộc trong fidơ thành sóng điện từ tự do bức xạ ra không
gian. Cấu tạo của Anten quyết định đặc tính biến đổi năng lượng điện nói trên. Tại
nơi thu, Anten làm nhiệm vụ ngược lại với Anten phát, Anten thu tiếp nhận sóng
điện từ tự do từ không gian bên ngoài và biến đổi chúng thành sóng điện từ ràng
buộc, sóng này được truyền theo fidơ đến máy thu. Yêu cầu của thiết bị Anten –

2
fidơ là phải thực hiện việc truyền và biến đổi năng lượng sóng điện từ với hiệu quả
cao nhất và không gây méo dạng tín hiệu.
Anten được sử dụng với các mục đích khác nhau thì có những yêu cầu khác
nhau. Với các đài phát thanh, vô tuyến truyền hình thì Anten cần bức xạ đồng đều
trong mặt phẳng ngang (mặt đất), để cho các máy thu đặt ở các hướng bất kỳ đều
thu được tín hiệu của đài. Xong Anten lại cần bức xạ định hướng trong mặt phẳng
đứng với hướng cực đại song song mặt đất để các đài thu trên mặt đất có thể nhận
được tín hiệu lớn nhất và để giảm nhỏ năng lượng bức xạ theo hướng không cần
thiết.
Trong thông tin mặt đất hoặc vũ trụ, thông tin truyền tiếp, rađa, vô tuyến điều
khiển … thì lại yêu cầu Anten bức xạ với hướng tính cao (sóng bức xạ chỉ tập trung
vào một góc rất hẹp trong không gian).
Như vậy nhiệm vụ của Anten không phải chỉ đơn giản là biến đổi năng lượng
điện từ cao tần thành sóng điện từ tự do, mà phải bức xạ sóng ấy theo những hướng
nhất định, với các yêu cầu kỹ thuật cho trước.

1.1.2: Phân loại Anten, một số Anten thông dụng


a. Phân loại Anten
Anten có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, thường theo các cách
phân loại sau:
- Công dụng của Anten: Anten có thể được phân loại thành Anten phát, Anten
thu hoặc Anten thu phát dùng chung. Thông thường Anten làm nhiệm vụ cho cả
phát và thu.
- Dải tần công tác của Anten: Anten sóng dài, Anten sóng trung, Anten sóng
ngắn và Anten sóng cực ngắn.
- Cấu trúc của Anten:
- Đồ thị phương hướng của Anten: Anten vô hướng và Anten có hướng.
- Phương pháp cấp điện cho Anten: Anten đối xứng và Anten không đối xứng.
b.Một số Anten thông dụng
Trong thực tế có một số loại Anten thông dụng sau:

3
Anten
DipoleDipole
Anten Khung
Hình nón

Anten Loa Anten Lò xo

Anten
AntenLoga
Parabol
chu kỳ

Phiến kim loại Lớp đế điện môi

Điểm
cấp

Anten Màn chắn kim loại


Anten mạch
Mảng dải
Bộ dịch pha

Hình 1.2: Một số loại anten thông dụng

1.2: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ANTEN CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG

4
1.2.1: Khái niệm, cấu tạo và ứng dụng của Anten chấn tử đối xứng
Chấn tử đối xứng là loại Anten đơn giản nhất và là một trong những nguồn bức
xạ được sử dụng khá phổ biến. Chấn tử đối xứng có thể sử dụng như một Anten độc
lập hoặc có thể được sử dụng để cấu tạo các Anten phức tạp khác.
Chấn tử đối xứng là một cấu trúc gồm hai đoạn vật dẫn có hình dạng tuỳ
ý( hình trụ, hình chóp, elipsoit…) có kích thước giống nhau, đặt thẳng hàng trong
không gian, và ở giữa chúng được nối với nguồn dao động cao tần.

Hình 1.7: Chấn tử đối xứng

Chấn tử có dạng như hình vẽ trên, với một dây gồm hai nửa thẳng hàng, chiều
2a
dài l và 2l hoặc l/2 và l. Giả thiết �0.01 với a là bán kính dây.
l
Trong một số tài liệu kỹ thuật, người ta dùng thuật ngữ Anten dipol ( Anten
lưỡng cực) để chỉ cho chấn tử đối xứng.
Anten chấn tử đối xứng là việc ở các dải sóng cực ngắn, sóng ngắn, sóng dài
và sóng trung. Nhưng chủ yếu được ứng dụng trong dải sóng ngắn và sóng cực ngắn
làm Anten thu và phát. Trong các dải sóng này Anten có thể làm việc độc lập hoặc
làm việc phối hợp. Trong dải sóng cực ngắn chấn tử đối xứng còn được sử dụng làm
bộ chiếu xạ cho các Anten phức tạp khác(vd: Anten gương parabon).

1.2.2 Các dạng khác của Anten chấn tử

a. Các dạng khác của chấn tử đơn giản

5
Chấn tử đơn giản được ứng dụng phổ biến nhất là chấn tử nửa sóng. Phụ thuộc
vào cách tiếp điện ta có các dạng Anten sau:

 Chấn tử kiểu Y
Chấn tử kiểu Y là chấn tử nửa sóng được tiếp điện bằng dây song hành mắc
song song. Hai nhánh chấn tử được nối ngắn mạch ở giữa còn dây song hành được
nối vào 2 điểm A-A trên chấn tử.
Chấn tử kiểu Y cho phép phối hợp tốt chấn tử và fide song hành ở một tần số
nhất định, không cần mắc thêm phần tử điều chỉnh phụ. Ngoài ra ta có thể nối trực
tiếp điểm giữa của chấn tử với cột hoặc giá đỡ kim loại mà không cần cách điện vì
điểm giữa chấn tử trong trường hợp này chính là điểm nút diện áp.

 Chấn tử kiểu T
Cũng là một chấn tử nửa sóng được tiếp điện bằng dây song hành mắc song
song. Điểm khác là trong trường hợp này đoạn fide chuyển tiếp đã biến dạng thành
dây dẫn song song với chấn tử nên có sự kahcs biệt về trở kháng sóng.
Chấn tử kiểu T là một hình thức trung gian. Nó có thể biến đổi để tạo thành sơ
đồ chấn tử kiểu khác, trong đó có chấn tử vòng dẹt và chấn tử omega.

Chương II
CÁC ĐẶC TÍNH CỦA ANTEN CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG

6
2.1 PHÂN BỐ DÒNG ĐIỆN TRÊN ANTEN CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG

Một trong những vấn đề cơ bản khi khảo sát các Anten là xác định trường bức
xạ tạo ra trong không gian và các thông số của Anten. Như vậy cần biết phân bố
dòng điện trên Anten đó. Có thể sử dụng lý thuyết đường dây song hành để xác
định phân bố dòng điện trên chấn tử đối xứng dựa trên suy luận về sự tương tự giữa
chấn tử và đường dây song hành hở mạch đầu cuối không tổn hao.
Một đường dây song hành hở mạch dầu cuối, nếu mở rộng hai nhánh của
đường dây ra 1800 ta sẽ được chấn tử đối xứng. Việc mở rộng này làm mất tính đối
xứng của đường dây song hành và làm cho sóng điện từ bức xạ ra không gian bên
ngoài tạo thành Anten.

l z

a) b)

Hình 2.1: Sự tương quan giữa chấn tử đối xứng và đường dây song hành

Giả sử khi biến dạng đường dây song hành thành chấn tử đối xứng thì quy luật
phân bố dòng điện trên hai nhánh vẫn không thay đổi, nghĩa là vẫn có dạng sóng
đứng:

I z ( z ) = I b sin k ( l - z ) (2.1)
Trong đó Ib là biên độ dòng điện ở điểm bụng sóng đứng.
l là độ dài một nhánh chấn tử.
Tuy nhiên, những suy luận về sự tương tự nêu trên chỉ có tính chất gần đúng vì
giữa hai hệ thống này có những điểm khác biệt, đó là:
- Các thông số phân bố của đường dây không biến đổi dọc theo dây, còn các
thông số phân bố của chấn tử thì biến đổi ứng với các vị trí khác nhau trên chấn tử.

7
- Đường dây song hành là hệ thống truyền dẫn năng lượng sóng điện từ còn
chấn tử đối xứng là hệ thống bức xạ.
- Trên đường dây song hành không tổn hao, hở mạch đầu cuối, dòng điện chỉ
biến đổi theo quy luật sóng đứng thuần túy, dạng sin, còn đối với chấn tử luôn có sự
mất mát năng lượng do bức xạ (mất mát hữu ích). Do đó nói một cách chính xác thì
phân bố dòng điện trên chấn tử sẽ không theo quy luật sóng đứng hình sin. Tuy
nhiên với các chấn tử rất mảnh (đường kính << 0,01l) khi tính trường ở khu xa dựa
theo giả thiết phân bố dòng điện hình sin cũng nhận được kết quả khá phù hợp với
thực nghiệm. Vì vậy, trong phần lớn các tính toán kỹ thuật có thể cho phép áp dụng
giả thiết gần đúng về phân bố dòng điện sóng đứng hình sin.
Biết quy luật phân bố của dòng điện trên chấn tử sẽ xác định được quy luật
phân bố gần đúng của điện tích bằng cách áp dụng phương trình bảo toàn điện tích.
Có thể giả thiết dòng điện trên chấn tử chỉ có thành phần dọc I z, điện tích nằm trên
bề mặt dây và có mật độ dài Qz.
Ta có phương trình bảo toàn điện tích có dạng
dI z
+ iwQz = 0 (2.2)
dz
Trong đó Iz = 2aJz: biên độ dòng điện tại tọa độ z của chấn tử
Jz mật độ dòng điện mặt
Qz điện tích mặt trên một đơn vị chiều dài chấn tử
Giải phương trình (2.1) trong đó thay Iz bởi phương trình (1.6) ta được điện
tích phân bố trên một đơn vị dài chấn tử là:
kI b
Qzl = cosk ( l-z ) , z > 0
iw
(2.3)
kI
Qzl = - b cosk ( l+z ) , z < 0
iw
Khi nghiên cứu về anten chấn tử người ta thường sử dụng độ dài tương đối so
với bước sóng. Ký hiệu: l / l

Xét trong một số trường hợp:


l = 0.25l : q3 = 800
l = 0.5l : chấn tử nửa sóng q3 = 440

8
l = 0.625l : trường hợp giới hạn q 3 = 310

Phân bố dòng điện và điện tích trên chấn tử đối xứng được chỉ trong hình vẽ

Hình 2.2: Phân bố dòng điện và điện tích trên chấn tử đối xứng

2.2 TRƯỜNG BỨC XẠ CỦA ANTEN CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG


TRONG KHÔNG GIAN TỰ DO
2.2.1 Điều kiện xét
Một chấn tử đối xứng có chiều dài l được đặt trong một môi trường đồng nhất,
đẳng hướng và không hấp thụ (môi trường không gian tự do). Xét trường bức xạ
của chấn tử tại một điểm M, cách tâm chấn tử một khoảng r khá xa nguồn, ở hướng
mà đường thẳng nối điểm M với tâm chấn tử hợp với trục chấn tử một góc q.

2.2.1 Tính cường độ trường


Xét trong mặt phẳng chứa 0z, đẳng hướng theo , đặc tính hướng phụ thuộc

9
r1
M

l z
ro

r2

r
q

Hình 2.3: Mô tả các thông số tính trường bức xạ của chấn tử đối xứng
trong không gian tự do

Chia chấn tử thành các đoạn dz vô cùng bé (dz<<l), xét trường do đoạn dz gây
ra tại M. Vì dz << l nên nó tương đương như một dipol điện với dòng điện trên nó
là Iz xác định theo công thức (2.1). Điện trường tại M do dz trên hai nhánh chấn tử
gây ra được xác định theo công thức:
ikZ e e - ikr
Eq = I l sin q iq (V / m)
4 r
E = 0
(2.4)
Hq = 0
ik e e - ikr
H = I l sin q i
4 r
Sẽ là:
60 I z dz
dE1 = i sin q e - ikr1 iq
r1l
(2.5)
60 I z dz
dE2 = i sin q e -ikr2 iq
r2 l

Trong đó
r1 = r0 - zcosq
(2.6)
r2 = r0 + zcosq

Thay các công thức (2.6) và (2.1) vào (2.5) và bỏ qua đại lượng vô cùng bé ở
thành phần biên độ ta có:

10
60 I b dz
sin q sin k ( l - z ) e ( 0
- ik r - zcosq )
dE1 = i iq
r0 l
(2.7)
60 I b dz
sin q sin k ( l - z ) e ( 0
- ik r + zcosq )
dE2 = i iq
r0 l

Điện trường do hai đoạn dz vô cùng bé trên hai nhánh của chấn tử đối xứng
gây ra tại M sẽ là:

dE = dE1 + dE2
60 I b dz
dE = i sin q sin k ( l - z ) e - ikr0 ( eikzcosq + e - ikzcosq ) iq
r0 l (2.8)
60 I b dz
=i sin q sin k ( l - z ) e - ikr0 2cos ( kzcosq ) iq
r0 l

Điện trường do toàn bộ chấn tử gây ra tại M sẽ tìm được bằng cách lấy tích
phân điện trường do dz ở trên hai nhánh chấn tử gây ra tại M, trong toàn bộ chiều
dài của một nhánh:

60 I b cos ( klcosq ) - coskl -ikr0


l
E=�
dE =i e iq (2.9)
0
r0 sinq

60 I b
Hay E= f ( q , ) (2.10)
r0

2.3 CÁC THAM SỐ CỦA CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG

11
2.3.1. Hàm tính hướng và đồ thị phương hướng
So sánh công thức (2.9) và (2.10) ta thấy hàm tính hướng biên độ của chấn tử
đối xứng trong mặt phẳng E sẽ là:
cos(kl cos q ) -cos( kl )
f (q ,  ) = sin q (2.11)
sin 2 q
Trong mặt phẳng H (mặt phẳng vuông góc với trục chấn tử) góc 0 là hằng số ở
mọi hướng nên trong công thức… sin q và cos q bằng hằng số, bởi vậy hàm tính
hướng trong mặt phẳng này chỉ phụ thuộc vào gias trị k/l. Nói chung trong mặt
phẳng H chấn tử bức xạ vô hướng.
Nếu mặt phẳng khảo sát đi qua tâm chấn tử thì trong mặt phẳng H ta có:
f ( ) = 1 - coskl (2.12)

2.3.2 Công suất bức xạ, điện trở bức xạ và hệ số tính hướng

12
Công suất bức xạ của chấn tử đối xứng có thể được xác định theo phương pháp
vec tơ Poyting, giống như khi tính toán cho dipol điện.
Ta tính tổng thông lượng của vec tơ Poyting qua một mặt cầu bao bọc chấn tử,
khi mặt cầu có bán kính khá lớn so với bước sóng công tác, hình 2.4

Hình 2.4 Xác định công suất bức xạ của chấn tử đối xứng

86
Công suất bức xạ của chấn tử truyền qua diện tích vi phân ds là:

dPbx = Stb ds (2.13)


Thay Stb = E02/120 và E trong công thức (2.9) vào (2.16) ta được

cos ( klcosq ) - coskl � 2


2
ZI b2 �2 
Pbx = 2 2 �� � �r sin q dq d
8 r  =0 q =0 � sinq �
(2.14)
cos ( klcosq ) - coskl �
2


� �dq
Pbx = 30 I b2 �
0
sinq

Tương tự như đối với dipol điện, ta cũng có định nghĩa về công suất bức xạ của
chấn tử đối xứng là đại lượng biểu thị quan hệ giữa công suất bức xạ và bình phương
dòng điện trên chấn tử. Tuy nhiên, do dòng điện có phân bố không đồng đều dọc theo
chấn tử nên khi biểu thị công suất bức xạ qua biên độ dòng điện tại vị trí nào đó trên
chấn tử (ví dụ qua dòng điện đầu vào, hay qua dòng điện tại điểm bụng sóng đứng…)
thì sẽ có điện trở bức xạ tương ứng (điện trở bức xạ ứng với dòng điện điểm vào, điện
trở bức xạ ứng với dòng điện ở điểm bụng…).
Điện trở bức xạ của chấn tử đối xứng tính theo dòng điện ở điểm bụng được xác
định theo công thức:

cos ( klcosq ) - coskl �


2


� �dq
Rbxb = 60 � (2.15)
0
sinq

Lời giải đầy đủ của hàm tích phân trong công thức (2.15) cho trường hợp bất kỳ
sẽ là:

{
Rbxb = 30 sin ( kl ) �
Si ( 4kl ) - 2Si ( 2kl ) �
� �+ cos ( 2kl ) �
E + ln ( kl ) �
� �+ Ci ( 4kl ) - 2Ci ( 2kl )
(2.16)
E + ln ( 2kl ) - Ci ( 2kl ) �
+2�
� � }
Trong đó: E = 0,5772 là hằng số Euler
x
sin t
Si ( x ) = � dt
0
t
x
cost
Ci ( x ) = � dt

t

Công thức trên chỉ gần đúng bởi vì khi tính toán đã dựa vào giả thiết phân bố
dòng điện trên chấn tử là hình sin. Trong thực tế, việc xác định điện trở bức xạ của
anten thường dùng đồ thị.

87
Giá trị của điện trở bức xạ ứng với dòng điện tại điểm bụng chỉ phụ thuộc vào
chiều dài tương đối của chấn tử. Hình 2.5 mô tả sự phụ thuộc của điện trở bức xạ theo
chiều dài tương đối của chấn tử. Khảo sát đồ thị ta thấy rằng, ban đầu khi tăng độ dài

tương đối của chấn tử, điện trở bức xạ tăng. Tại l l = 0,25 (chấn tử nửa sóng) có Rbxb=

73,1  và gần với giá trị l l = 0,5 có Rbxb= 210 .

Sau đó Rbxb dao động có cực đại ở gần các giá trị l bằng bội số chẵn của. Đặc tính
biến đổi này có thể được giải thích từ mối quan hệ giữa công suất bức xạ (và điện trở
bức xạ) với quy luật phân bố

dòng điện trên chấn tử. Khi l l


nhỏ thì tăng l sẽ tăng số phần tử dòng
điện đồng pha, do đó tăng công suất và
điện trở bức xạ. Nhưng khi l >λ, trên
chấn tử xuất hiện khu vực dòng điện
ngược pha làm giảm công suất và điện
trở bức xạ của chấn tử.
Hệ số tính hướng của chấn tử đối
xứng, theo công thức:
E 2 ( q , ) .2 r 2
D ( q , ) =
ZPbx

Trong đó E(q,) được tính theo công thức (2.9) còn P bx được tính theo công thức
(2.14). Với các chấn tử có độ dài l l �0,675 bức xạ cực đại vẫn duy trì ở hướng

q = � 2 , ta có: Dmax = D  2 = ( )
Z
 Rbxb
( 1 - coskl )
2
(2.17)

2.3.3 Trở kháng sóng của chấn tử đối xứng


Tương tự như đường dây song hành, đối với chấn tử đối xứng cũng có thể đưa
vào khái niệm trở kháng sóng. Theo lý thuyết đường dây, trở kháng sóng của đường
dây song hành không tổn hao được xác định theo công thức:
L1
ZA = (2.18)
C1

Trong đó L1 điện cảm phân bố của đường dây


C1 điện dung phân bố của đường dây

88
Mặt khác ta có:
1 1
= =v là vận tốc sóng truyền trên đường dây
L1C1 em

Nếu đường dây được đặt trong không gian tự do thì m = m0, e = e0. Trở kháng
sóng của đường dây có thể được biểu thị qua thông số của môi trường và một trong hai
thông số phân bố L1, hoặc C1 của đường dây:
e 0 m0
ZA = (2.19)
C1

Đối với đường dây song hành, C 1 là đại lượng không biến đổi theo chiều dài của
dây và được giới hạn bằng kích thước của đường dây. Khi biểu thị trở kháng sóng qua
các kích thước hình học của đường dây, công thức (2.19) sẽ có dạng:
�D �
Z A = 276lg � � (2.20)
�r �
D: khoảng cách giữa hai dây dẫn (tính từ trục dây)
r: bán kính dây dẫn
Đối với chấn tử đối xứng hoặc các loại anten dây khác, có thể áp dụng công thức
(2.20) để tính trở kháng sóng của anten nhưng cần chú ý rằng điện dung phân bố C 1
lúc này không phải là hằng số mà thay đổi dọc theo chiều dài chấn tử. Vì vậy khi tính
C1 cần lấy giá trị trung bình của nó, nghĩa là lấy điện dung tĩnh tổng cộng của anten
chia cho chiều dài của nó.
Công thức tính trở kháng sóng của chấn tử đối xứng khi chiều dài chấn tử nhỏ
hơn bước sóng công tác sẽ là:
� �2l � �
Z A = 120 �
ln � �- 1� () (2.21)
� �r � �
Khi tăng chiều dài chấn tử thì sai số tính theo công thức trên sẽ tăng. Như vậy
khi chiều dài chấn tử lớn hơn bước sóng công tác thì trở kháng sóng của chấn tử sẽ
được tính theo công thức Kesenich:
� �l � �
Z A = 120 �
ln � �- E � () (2.22)
� � r � �
Trong đó E = 0,577 là hằng số Euler

89
2.3.4 Trở kháng vào của chấn tử đối xứng
Như đã đề cập trong phần e của mục 1.2.3 ở chương 1 trở kháng vào của chấn tử
đối xứng bao gồm cả phần thực và phần kháng.
Z vA = RvA + jX vA

Phần thực bao gồm điện trở bức xạ và phần điện trở tổn hao của chấn tử. Đối với
chấn tử đối xứng, điện trở tổn hao không đáng kể (có thể coi bằng 0) phần công suất
thực đưa vào anten hầu như được chuyển thành công suất bức xạ
PA �Pbx (2.23)
Nếu biểu thị công suất bức xạ theo dòng điện ở đầu vào I a thì công thức (2.23) có
thể viết:
I a2 Rbx 0 I a2 RvA
� (2.24)
2 2
Rbx0 là điện trở bức xạ tính theo dòng điện đầu vào
I b2 Rbxb R
Rbx 0 = 2
= bxb
Ia sin 2 kl

Rbxb
Ta có: RvA = (2.25)
sin 2 kl
Phần kháng của trở kháng vào của chấn tử đối xứng chính là trở kháng của đường
dây song hành hở mạch đầu cuối và được tính theo công thức:
X vA = -iZ A cot gkl (2.26)
Trong đó ZA là trở kháng sóng của chấn tử đối xứng.
Thay các công thức (2.24) và (2.25) vào công thức (1.17) ta được công thức tính
trở kháng vào của chấn tử đối xứng:
Rbxb
Z vA = - iZ A cot gkl (2.27)
sin 2 lk
Công thức này nhận được khi tính toán theo giả thiết dòng điện trên chấn tử phân
bố hình sin. Khi độ dài của chấn tử gần bằng nửa bước sóng công tác thì công thức
(2.26) cho kết quả hợp lý nhưng khi chấn tử có độ dài lớn hơn thì độ chính xác của
công thức sẽ giảm đi. Đến khi độ dài của chấn tử bằng đúng bước sóng công tác thì
công thức này không còn ý nghĩa vì lúc đó cả phần thực và phần ảo của trở kháng vào
đều có giá trị vô cùng lớn.
Công thức (2.26) cho phép ứng dụng khi điểm nút dòng điện nằm cách đầu vào

chấn tử một khoảng lớn hơn (0,1 – 0,15)l nghĩa là khi tỷ số l l nằm trong khoảng 0 –
0,35 và 0,65 – 0,85.
90
RVA() XVA()
800 400
l/r =60
700 300
l/r =40
600 200
500 100
400 0 l/r=60
300 - 100 l/r=40
200 - 200 l/r=20
l/r =20
100 - 300
0 - 400
-100 l l
0 0,2 0,4 0,6 0,7 1,0 1,2 l l
0 0,2 0,4 0,6 0,8 1,0 1,2

Hình 2.6 Sự phụ thuộc của ZvA vào l l


Nhận xét: Trở kháng vào của chấn tử đối xứng phụ thuộc vào chiều dài tương đối
của chấn tử.
- Khi chiều dài của chấn tử (2 l ) bằng bội số của l/2 thì lúc đó trở kháng của chấn
tử có thể xem gần đúng chỉ có điện trở thuần. Cộng hưởng nối tiếp xảy ra khi chiều dài
chấn tử bằng 0,5l; 1,5l; 2,5l;…và trở kháng vào RvA là thực và có giá trị bằng trở
kháng bức xạ của anten. Trong trường hợp này sẽ có giá trị là 73,1 đối với chấn tử
nửa sóng và 200  đối với chấn tử toàn sóng.
- Cộng hưởng song song xảy ra khi chiều dài chấn tử (2 l ) bằng bội số của bước
sóng công tác (l, 2l, 3,…). Trở kháng vào trong trường hợp này cũng là điện trở thực
và có giá trị vô cùng lớn, có thể đạt đến 5000 . Giá trị của trở kháng vào thực phụ
thuộc vào tỷ số chiều dài trên bán kính chấn tử và trở kháng sóng của chấn tử.
- Khi chiều dài của chấn tử không phải là bội số của l/2 thì lúc đó trở kháng vào
của anten bao gồm cả phần thực và phần kháng. Thành phần kháng của trở kháng vào
của chấn tử đối xứng ở gần các điểm cộng hưởng nối tiếp ( l = l/4) tương tự như thành
phần kháng của một mạch cộng hưởng nối tiếp: ở vùng tần số thấp hơn tần số cộng
hưởng nó mang tính dung kháng và ở các vùng tần số cao hơn tần số cộng hưởng nó
mang tính cảm kháng. ở các điểm gần điểm cộng hưởng song song ( l = l/2) trở kháng
của chấn tử tương tự như thành phần kháng của một mạch cộng hưởng song song: ở
vùng tần số thấp hơn tần số cộng hưởng nó mang tính cảm kháng và ở các vùng tần số
cao hơn tần số cộng hưởng nó mang tính dung kháng.
Thông thường trở kháng vào của chấn tử đối xứng được chọn bằng phương pháp
thực nghiệm. Bằng cách thay đổi chiều dài và đường kính của dây chấn tử ứng với tần
số trung tâm của dải tần công tác, khi đó trở kháng sẽ thuần trở .

91
Khi biết giá trị của trở kháng vào của anten ta có thể dễ dàng thực hiện việc phối
hợp trở kháng giữa anten và máy phát hoặc máy thu.

92
CHƯƠNG III: ĐẶC TÍNH PHƯƠNG HƯỚNG CỦA ANTEN
CHẤN TỬ ĐỐI XỨNG TRÌNH BÀY BẰNG MATLAB

3.1: ĐẶC TÍNH PHƯƠNG HƯỚNG CỦA ANTEN CHẤN TỬ

3.1.1: Mô hình toán

Giả sử chấn tử có độ dài l, được đặt dọc theo trục 0z, tâm pha trùng với gốc tọa
độ. Tọa độ điểm khảo sát là (R, q ,  ). Khi khảo sát trường vùng xa ta luôn có R ? l .

Hình 3.1: Biểu diễn chấn tử đối xứng trong tọa độ cầu
ur
Theo quy ước như ở hình vẽ trên, góc  được xác định bởi hình chiếu của R
uur ur uur
trên mặt phẳng x0y và 0x , còn góc q được xác định bởi góc giữa R và 0z , tức là mặt
phẳng x0y có q = �900 .
Từ hình vẽ ta thấy rằng:

 Hàm phương hướng của anten chấn tử đẳng hướng với mặt phẳng vuông góc
với trục của chấn tử (mặt phẳng φ).

 Hàm phương hướng bức xạ bằng không tại θ=00 hoăc θ=1800.

34
 Đặc tính hướng chỉ xác định trong mặt phẳng chứa trục của chấn tử.
Vậy ta có hàm phương hướng của anten chấn tử được xác định bởi :
kl kl
cos( cosq )-cos
f (q ,  ) = 2 2 (3.1)
sin q
l : là bước sóng.

2
k= : là trở kháng sóng.
l

Hay biểu diễn dưới dạng hàm chuẩn hoá:


kl kl
f ( q , ) cos( cosq )-cos
F (q ,  ) = = 2 2
(3.2)
max( f ( q ,  ) ) kl
sin q (1 - cos )
2
Xét hàm tính hướng và đồ thị phương hướng của chấn tử có chiều dài tương đối
khác nhau:
 Chấn tử ngắn ( l << l)

( kl )
2

Từ công thức (2.11) ta có: f ( q ) = sinq


2
Khi đó hàm tính hướng biên độ chuẩn hóa trong mặt phẳng điện trường sẽ là
F ( q ) = sinq (3.3)
 Chấn tử phần tư sóng ( l = l/4)
Từ công thức (2.11) ta có:
� �  � �
cos � cosq �- cos cos � cosq �
�2 � 2 �2 � (3.4)
f (q ) = =
sinq sinq

35
 Chấn tử nửa sóng ( l = l/2)
Từ công thức (2.11) ta có:
� �
2cos 2 � cosq �
cos (  cosq ) + 1 �2 � (3.5)
f (q ) = =
sinq sinq

Khi đó hàm tính hướng biên độ chuẩn hóa là:


� �
cos 2 � cosq �
� 2 � (3.6)
F (q ) =
sinq
 Chấn tử có chiều dài lớn hơn l
Trong trường hợp này do trên mỗi nhánh chấn tử xuất hiện dòng điện ngược pha
nên ở hướng vuông góc không có sai pha về đường đi của các đoạn dz nhưng về dòng
điện có đoạn ngược pha, do đó cường độ điện trường tổng ở hướng này sẽ giảm xuống,
đồng thời xuất hiện các búp phụ ở các hướng có sai pha đường đi bù hết cho sai pha
dòng điện. Nếu đoạn dòng điện ngược pha lớn dần, nghĩa là l tiến dần tới l, búp phụ sẽ
lớn dần, búp chính nhỏ dần. Khi l = l, đoạn ngược pha trên mỗi nhánh chấn tử là bằng
nhau, bức xạ ở hướng chính (tức hướng vuông góc với trục chấn tử) sẽ bằng 0, bốn búp
phụ trở thành bốn búp chính.

90o 90o 90o

q q q
180o 0o 180o 0o 180o 0o

a)  0,1l b)  0,25l c)  0,5l

36
90o 90o

q q
o o o
180 0 180 0o

d)  0,75l e)  l

Hình 3.2 Đồ thị phương hướngcủa chấn tử đối xứng trong mặt phẳng E

Từ đồ thị phương hướng ta có nhận xét: Tính hướng của chấn tử đối xứng phụ

thuộc vào chiều dài điện l l . Vì vậy khi nghiên cứu về anten chấn tử người ta thường

l
sử dụng độ dài tương đối so với bước sóng. Ký hiệu:
l
Xét trong một số trường hợp:
l
�0 : dipol điện
l
l
= 0.5 : chấn tử nửa sóng
l
l
=1 : chấn tử toàn sóng
l

37
3.1.2: Đồ thị phương hướng trình bày bằng Matlab
Phần code lệnh trương trình vẽ đồ thị phương hướng của Anten chấn tử đối xứng
bằng Matlab:
Lệnh vẽ đồ thị phương hướng Anten chấn tử đối xứng trong không gian 2 chiều
(2D):
L=input('\n nhapl /lamda='); % Nhập giá trị
teta=0:0.01*pi:2*pi;
tuso=(cos(pi.*L.*cos(teta))-cos(pi.*L));
if L==2
mauso=sin(teta)*2.5;
else
mauso=sin(teta).*(1-cos(pi.*L))*1.5;
end
f=abs(tuso./mauso);
polar(teta,f); % Vẽ đồ thị

Lệnh vẽ đồ thị phương hướng Anten chấn tử đối xứng trong không gian 3 chiều
(3D):
[teta,phi]=meshgrid(0:2.*pi./180:pi, 0:4.*pi./180:1.5.*pi);
L=input('\n nhap l/lamda=');
tuso=(cos(pi.*L.*cos(teta))-cos(pi.*L));
if L==2
mauso=sin(teta)*2.5;
else
mauso=sin(teta).*(1-cos(pi.*L))*1.5;
end
f=abs(tuso./mauso);
x=f.*sin(teta).*cos(phi);
y=f.*sin(teta).*sin(phi);
z=f.*cos(teta);
surfl(x,y,z);

38
Phần kết quả chạy trương trình vẽ đồ thị phương hướng của Anten chấn tử đối
xứng ứng với các trường hợp khảo sát:

a: l/λ ≈ 0 (Trường hợp dipol điện).

39
b: l/λ=0.5 (Trường hợp chấn tử nửa sóng)

c: l/λ=1 (Trường hợp chấn tử toàn sóng)

40
d: l/λ=1.25

e: l/λ=1.5

41
f: l/λ=2

Hình 3.3: Đặc tính phương hướng của anten chấn tử đối xứng

3.1.3: Nhận xét và kết luận


Từ các đồ thị phương hướng ta nhận thấy:
 Khi anten có độ dài l/λ nhỏ, đồ thị phương hướng có dạng gần giống đồ thị
phương hướng của dipol điện (hình 3.3.b), chỉ khác là nó có độ rộng hẹp hơn (so sánh
3.3.a với 3.3.b).Điều này được giải thích như sau:
- Vì trường bức xạ của dây dẫn tại điểm khảo sát bằng tổng vecto của trường tạo
bởi các dipol thành phần (anten là tập hợp của các dipole). Khi độ dài l/λ rất nhỏ, dòng
điện ở mọi điểm trên anten đồng pha nhau. Đồng thời vì có thể coi khoảng cách từ các
dipol đến các điểm khảo sát bằng nhau nên trường bức xạ của các dipol riêng rẽ sẽ
đồng pha và được cộng đại số với nhau. Biên độ trường bức xạ của dây dẫn ở các điểm
trong không gian đều tăng lên một số lần giống nhau so với cường độ trường bức xạ
của một dipol điện riêng rẽ. Vì vậy mà đồ thị phương hướng của anten không khác so
với đồ thị phương hướng của dipol điện.

42
- Đồ thị phương hướng của nó hẹp hơn là do sai pha khoảng cách giữa các dipol
thành phần.
 Khi tăng dần độ dài anten (trong giới hạn vẫn đảm bảo đồng pha dòng điện
trên anten, nghĩa là l/λ ≤ 1) thì đồ thị phương hướng sẽ hẹp dần lại (hình 3.3.b, 3.3.c)
- Thật vậy, sự tăng độ dài anten trong giới hạn nói trên sẽ tương đương với việc
tăng số dipol đồng pha sắp xếp theo đường thẳng . Cường độ trường ở khu xa theo
hướng vuông góc với anten sẽ bằng tổng đại số cường độ trường của các dipole điện
riêng rẽ, vì theo hướng này không có sai pha khoảng cách. Bức xạ được tăng cường
theo hướng q = ±90º. Khi dịch chuyển điểm khảo sát khỏi hướng này sẽ xuất hiện sai
pha khoảng cách. Cường độ trường tại điểm khảo sát trong trường hợp này sẽ nhỏ
hơn trường ở hướng q = ±90º. Tổng vecto sẽ giảm nhanh nếu điểm khảo sát càng dịch
chuyển xa hướng q = ±90º.

 Khi tăng độ dài anten qúa giới hạn một bước sóng (l>λ) sẽ xuất hiện khu vực
dòng điện ngược pha.Đồ thị phương hướng có xu thế hẹp lại nhưng đồng thời sẽ xuất
hiện các cực đại phụ (hình 3.3.d, 3.3.e). Sự xuất hiện các cực đại phụ là do bức xạ theo
hướng vuông góc với trục dây dẫn của các dipol thuộc khu vực dòng điện ngược pha sẽ
bị triệt tiêu bởi bức xạ của các dipol thuộc khu vực dòng điện mang dấu dương, vì theo
hướng này không có sai pha khoảng cách nhưng sai pha dòng điện bằng  . Nếu dịch
chuyển điểm khảo sát khỏi hướng q = ±90º thì sẽ xuất hiện góc sai pha khoảng cách
của trường tạo bởi các dipol thuộc hai khu vực nói trên.Ta có thể tìm được hướng q
mà theo hướng đó sai pha khoảng cách của trường tạo bởi hai khu vực dòng điện sẽ
bằng  . Tổng sai pha của trường sẽ bằng 2  , nghĩa là trường bức xạ tạo bởi các dipol
thuộc hai khu vực dòng điện ngược pha sẽ trở nên đồng pha nhau, và ở hướng đó sẽ
xuất hiện cực đại phụ.
 Tiếp tục tăng độ dài dây dẫn thì cường độ trường theo hướng q = ±90º sẽ
giảm (do ảnh hưởng bức xạ của các dipol có dòng điện ngược pha gây ra), đồng thời
biên độ cực đại phụ sẽ tăng.
l
 Khi =2 trường bức xạ theo hướng q = ±90º sẽ hoàn toàn bị triệt tiêu, còn các
l
cực đại phụ sẽ trở thành các cực đại chính của anten.(hình 3.3.f)

43
Như vậy đồ thị phương hướng của anten chấn tử sẽ thay đổi khi thay đổi độ dài
của của nó. Cụ thể như sau:
l
 Khi biến đổi, tăng từ giá trị rất nhỏ (tương đương với một dipol điện) đến
l
một giới hạn nhất định thì anten chấn tử càng tăng độ định hướng ở góc q = �900 tức là
hàm phương hướng đạt cực đại ở q = �900 , và giá trị θ3 càng nhỏ( q3 là là góc tạo bởi
hai hướng mà tại đó công suất bức xạ suy giảm một nửa so với hướng bức xạ cực đại)
cũng thay đổi theo. ), búp sóng chính càng hẹp (hình 3.3.a, 3.3.b, 3.3.c và 3.3.d).
l l
 Khi giá trị khá lớn ( =1.5 hình 3.3.e) hàm phương hướng không còn đạt cực
l l
đại ở góc q = �900 .
l
 Khi =2 ( hình 3.3.f) thì cực đại chính theo hướng q = �900 còn bị triệt tiêu
l
hoàn toàn.

44