You are on page 1of 18

MỘT SỐ CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

DANH LỤC CÂU HỎI


Câu hỏi Trang
1. Thỏa thuận trọng tài là gì? ................................................................................................................... 2

2. Có bắt buộc phải có thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng hay không? ................................................ 2

3. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài phụ thuộc vào những yếu tố nào? .................................................. 3

4. Ngoài trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì còn trường hợp nào trọng tài không có thẩm
quyền? ......................................................................................................................................................... 3

5. Thỏa thuận trọng tài không thực hiện được là gì? ............................................................................... 4

6. Thỏa thuận chọn tòa án và trọng tài đồng thời thì sao? ....................................................................... 5

7. Nếu đã có thỏa thuận trọng tài thì có bắt buộc phải thực hiện thỏa thuận này hay không? ................ 5

8. Thẩm quyền thay đổi trọng tài viên như thế nào? ............................................................................... 5

9. Căn cứ thay đổi trọng tài viên? ............................................................................................................ 6

10. Hội đồng trọng tài ra quyết định như thế nào? ................................................................................ 6

11. Phiên họp giải quyết tranh chấp có bắt buộc diễn ra hay không? .................................................... 6

12. Hệ quả của sự vắng mặt của các bên tranh chấp? ............................................................................ 6

13. Ai có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời? ............................................................... 7

14. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị hủy bỏ hay không? ............................................................. 7

15. Phân biệt quyết định trọng tài và phán quyết trọng tài? .................................................................. 7

16. Hiệu lực của phán quyết trọng tài? ................................................................................................ 10

17. Có thể kháng cáo kháng nghị phán quyết trọng tài hay không? .................................................... 10

18. Nếu không muốn thực thi phán quyết trọng tài, một bên phải làm gì? .......................................... 11

19. Các căn cứ để hủy quyết định trọng tài? ........................................................................................ 11

20. Những tranh chấp nào có thể giải quyết được bằng trọng tài thương mại ..................................... 11

21. Có thể ký kết thoả thuận trọng tài với nội dung khác các quy định của Luật Trọng tài hay không?
11

22. Có bao nhiêu trọng tài viên trong một Hội đồng trọng tài? ........................................................... 11

23. Thỏa thuận trọng tài có còn hiệu lực hay không khi hợp đồng chính bị vô hiệu? ......................... 12

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 1
24. Điều gì sẽ xảy ra nếu các trọng tài viên bị cho là không có thẩm quyền? ..................................... 12

25. Có thể làm gì nếu một bên tranh chấp bỏ qua thỏa thuận trọng tài và bắt đầu khởi kiện tại tòa án?
12

26. Nhiệm vụ của các trọng tài viên là gì? ........................................................................................... 12

27. Nghĩa vụ của các bên đối với việc giải quyết tranh chấp theo trọng tài là gì? .............................. 13

28. Điều gì sẽ xảy ra nếu một bên vắng mặt hoặc không tuân theo chỉ thị của trọng tài viên? ........... 13

29. Dựa trên luật nào để các trọng tài viên quyết định giải quyết vụ tranh chấp? ............................... 14

30. Các trọng tài viên có thể đưa ra phán quyết về những vần đề gì? ................................................. 14

31. Chi phí pháp lý và phí trọng tài được quyết định như thế nào trong trọng tài? ............................. 14

32. Một phán quyết trọng tài được thi hành như thế nào? ................................................................... 15

33. Cơ sở yêu cầu hủy một phán quyết trọng tài? ................................................................................ 15

34. Trọng tài và hòa giải khác nhau như thế nào? ............................................................................... 16

35. Vai trò của Tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài?..................................................................... 16

36. Điều kiện nào để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài? ................................................................. 17

37. Ngôn ngữ được sử dụng trong giải quyết trọng tài? Các bên tham gia lựa chọn thế nào về ngôn
ngữ là đúng? .............................................................................................................................................. 17

38. Luật áp dụng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài? ....................................................................... 17

39. Vấn đề chọn địa điểm trong thỏa thuận trọng tài? ......................................................................... 18

40. Thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu khi nào? ....................................................................................... 18

41. Khi có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì tòa án có thể thụ lý không? ........................................... 18

1. Thỏa thuận trọng tài là gì?


Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát
sinh hoặc đã phát sinh (Khoản 2, Điều 3, Luật TTTM 2010)
2. Có bắt buộc phải có thỏa thuận trọng tài trong hợp đồng hay không?
Tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng một trong hai cách: thông qua các phương thức
mang tính tài phán hoặc thông qua các phương thức không mang tính tài phán1. Thỏa thuận trọng tài
như vậy chỉ là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại mà các bên có thể lựa

1
Sách: Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn, Trung Tâm Trọng Tài Quốc Tế UNCTAD/WTO 2001,
tr. 61
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 2
chọn để quy định trong hợp đồng. Luật Trọng tài thương mại 2010 (“Luật TTTM 2010”) đã quy định
“Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành
theo quy định của Luật này.” (khoản 1, Điều 3) như vậy có nghĩa bản chất của thoả thuận ở đây thể hiện
ở chí thống nhất sự đồng thuận, tự nguyên của tất cả các bên tranh chấp và không bắt buộc.
3. Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài phụ thuộc vào những yếu tố nào?
Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có liên quan chặt chẽ đến các điều kiện luật định về năng lực chủ thể
tham gia thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của trọng tài, ý chí tự nguyện của các chủ thể và hình thức
của thỏa thuận trọng tài, chỉ khi một thỏa thuận trọng tài đáp ứng đủ các điều kiện trên theo luật định thì
nó mới có hiệu lực.
Thứ nhất, điều kiện về năng lực chủ thể: người tham gia kí kết thỏa thuận trọng tài phải có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ. Có thể nói năng lực chủ thể là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm khi tiến
hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên không có năng lực chủ thể sẽ khiến điều khoản này
vô hiệu.
Thứ hai, điều kiện về thẩm quyền của trọng tài: mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài có nhiều ưu điểm và ngày càng đóng vai trò quan trọng nhưng không phải mọi tranh chấp đều có thể
giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bên tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện.
Đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho phép giải quyết loại tranh chấp đó thông qua hình
thức trọng tài.
Thứ ba, về điều kiện ý chí tự nguyện của chủ thể: dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về
các yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn ngữ,
địa điểm và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các bên. “Thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị
pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hoặc là sự áp đặt ý chí
của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào”
Thứ tư, điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài: đây là một điều kiện cơ bản của thỏa thuận
trọng tài, nó là sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương
mại. Luật trọng tài 2010 nước ta quy định thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản,
nó tạo ra sự tin tưởng giữa các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi tranh chấp
xảy ra.
4. Ngoài trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì còn trường hợp nào trọng tài không có thẩm
quyền?

Thỏa thuận vô hiệu: Điều 18 Luật TTTM quy định về Thỏa thuận vô hiệu. Ngoài ra, trọng tài sẽ không
có thẩm quyền trong các trường hợp sau:

(1) Không thuộc trường hợp quy định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 quy định 3 nhóm
vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại;

(2) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài/quyết định của Hội đồng trọng tài về việc
công nhận sự thỏa thuận của các bên;

(3) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng/Trung tâm trọng tài;

(4) Tranh chấp thuộc trường hợp thỏa thuận trọng tài không thực hiện được như:

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 3
- Đã có thỏa thuận lựa chọn Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm
dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, đồng thời các bên không thỏa thuận được
việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp;

- Đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan mà không thể tham gia giải quyết, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không
thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa
chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

- Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc nhưng Trọng
tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên
và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

- Doanh nghiệp và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong
các điều kiện chung do doanh nghiệp soạn sẵn nhưng khi tranh chấp phát sinh, người tiêu dùng
không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

(5) Trường hợp vừa có thỏa thuận trọng tài, vừa có thỏa thuận Tòa án là cơ quan giải quyết
tranh chấp mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi có thỏa
thuận trọng tài:
Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết, Tòa phải xác định một trong các bên đã
yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa. Nếu Tòa xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu
cầu Trọng tài giải quyết thì trả lại đơn cho người khởi kiện. Trường hợp người bị kiện, người
khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết thì Tòa xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Nếu Tòa đã thụ lý mà phát hiện đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa thụ lý thì
Tòa ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại
đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện.
5. Thỏa thuận trọng tài không thực hiện được là gì?
Theo Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP, thoả thuận trọng tài bị coi là không thể thực hiện được là
các trường hợp:
- Trung tâm trọng tài nơi các bên đã có thoả thuận giải quyết tranh chấp đã chấm dứt hoạt động
mà không có tổ chức kế thừa và các bên không có thoả thuận thay thế;
- Trọng tài viên trọng tài vụ việc mà các bên đã có thoả thuận lựa chọn không thể tham gia giải
quyết tranh chấp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; hoặc Toà án không thể tìm
được Trọng tài viên như các bên yêu cầu và các bên không có thoả thuận thay thế;
- Trọng tài viên trọng tài vụ việc mà các bên đã có thoả thuận lựa chọn từ chối hoặc Trung tâm
trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không có thoả thuận thay thế;
- Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận
áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác mà điều lệ của Trung tâm trọng tài các
bên chọn không cho phép và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng
trọng tài thay thế.
- Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được
ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hóa, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn
nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết
tranh chấp.
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 4
6. Thỏa thuận chọn tòa án và trọng tài đồng thời thì sao?
Khoản 4 Điều 2, Nghị quyết số: 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/03/2014 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại quy định như sau:
“4. Trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thỏa thuận giải
quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có
thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này mà phát
sinh tranh chấp thì xử lý như sau:
a) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải
quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại
điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại để từ chối
thụ lý, giải quyết. Trong trường hợp này, khi nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện,
nếu đã thụ lý vụ án thì căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ
việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi
kèm theo đơn khởi kiện.
b) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay sau khi nhận được đơn
khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa án xác định người bị kiện,
người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người
khởi kiện, trường hợp người bị kiện, người khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì
Tòa án xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.
Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước
thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết
định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các
tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện.”
7. Nếu đã có thỏa thuận trọng tài thì có bắt buộc phải thực hiện thỏa thuận này hay không?
Thỏa thuận trọng tài hợp pháp có hiệu lực bắt buộc với các bên và được pháp luật bảo vệ.

Một là: Thỏa thuận trọng tài là cơ sở đầu tiên để xác định thẩm quyền của trọng tài. Sẽ không có việc
giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nếu không có thảo thuận trọng tài giữa các bên tranh chấp. Khỏan 1
Điều 5 LTTTM cũng đã khẳng định “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả
thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.”

Hai là, một khi thỏa thuận trọng tài có hiệu lực nó mang lại thẩm quyền cho trọng tài và đồng thới cũng
loại trừ thẩm quyền của tòa án. Điều 6 LTTTM quy định: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có
thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả
thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được”.

8. Thẩm quyền thay đổi trọng tài viên như thế nào?

Tại khoản 3 Điều 42 Luật trọng tài thương mại 2010 có quy định: “3. Đối với vụ tranh chấp được giải
quyết tại Trung tâm trọng tài, nếu Hội đồng trọng tài chưa được thành lập, việc thay đổi Trọng tài viên
do Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định. Nếu Hội đồng trọng tài đã được thành lập, việc thay đổi
Trọng tài viên do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài quyết định. Trong trường hợp các thành
viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 5
viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, Chủ tịch Trung tâm trọng tài quyết định về việc thay đổi
Trọng tài viên.”

Tại khoản 4 Điều 42 Luật trọng tài thương mại 2010 có quy định: “Đối với vụ tranh chấp do Hội đồng
trọng tài vụ việc giải quyết, việc thay đổi Trọng tài viên sẽ do các thành viên còn lại của Hội đồng trọng
tài quyết định. Trong trường hợp các thành viên còn lại của Hội đồng trọng tài không quyết định được
hoặc nếu các Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết tranh chấp, thì trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của một hoặc các Trọng tài viên nói trên, của một hoặc các bên
tranh chấp, Chánh án Toà án có thẩm quyền phân công một Thẩm phán quyết định về việc thay đổi
Trọng tài viên”.

9. Căn cứ thay đổi trọng tài viên?

Khoản 1, Điều 42, Luật TTTM 2010:

1. Trọng tài viên phải từ chối giải quyết tranh chấp, các bên có quyền yêu cầu thay đổi Trọng tài viên
giải quyết tranh chấp trong các trường hợp sau đây:

a) Trọng tài viên là người thân thích hoặc là người đại diện của một bên;

b) Trọng tài viên có lợi ích liên quan trong vụ tranh chấp;

c) Có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan;

d) Đã là hòa giải viên, người đại diện, luật sư của bất cứ bên nào trước khi đưa vụ tranh chấp đó ra giải
quyết tại trọng tài, trừ trường hợp được các bên chấp thuận bằng văn bản.

10. Hội đồng trọng tài ra quyết định như thế nào?

Điều 60, Luật TTTM 2010 quy định như sau:

1. Hội đồng trọng tài ra phán quyết trọng tài bằng cách biểu quyết theo nguyên tắc đa số.

2. Trường hợp biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ
tịch Hội đồng trọng tài.

Điều 61 của Luật TTTM 2010 quy định về nội dung, hình thức và hiệu lực của phán quyết trọng tài.
11. Phiên họp giải quyết tranh chấp có bắt buộc diễn ra hay không?

Phiên họp giải quyết tranh chấp là bắt buộc theo quy định tại Chương VIII của Luật TTTM 2010.

12. Hệ quả của sự vắng mặt của các bên tranh chấp?

Luật TTTM 2010 quy định tại Điều 56 về việc vắng mặt của các bên như sau:

Điều 56. Việc vắng mặt của các bên

1. Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có
lý do chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 6
thì bị coi là đã rút đơn khởi kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh
chấp nếu bị đơn có yêu cầu hoặc có đơn kiện lại.

2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp mà vắng mặt không có lý do
chính đáng hoặc rời phiên họp giải quyết tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận thì
Hội đồng trọng tài vẫn tiếp tục giải quyết tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có.

3. Theo yêu cầu của các bên, Hội đồng trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để tiến hành phiên họp giải
quyết tranh chấp mà không cần sự có mặt của các bên.
13. Ai có thẩm quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Điều 49, Luật TTTM 2010: Trọng tài

Điều 53, Luật TTTM 2010: Tòa án

14. Biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể bị hủy bỏ hay không?

Có, theo quy định tại Điều 51.4 và 53.4 của Luật TTTM 2010.

15. Phân biệt quyết định trọng tài và phán quyết trọng tài?

Theo quy định tại khoản 10 Điều 3 Luật TTTM thì: “Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng
trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”.

Như vậy, một quyết định của Hội đồng trọng tài chỉ được coi là phán quyết trọng tài khi nó chứa đựng
hai yếu tố, một là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp; hai
là quyết định này dẫn đến chấm dứt tố tụng trọng tài. Khi một quyết định của Hội đồng trọng tài hàm
chứa đủ cả hai yếu tố đó thì mới coi là phán quyết trọng tài và Tòa án mới có thẩm quyền xem xét yêu
cầu hủy quyết định đó của Hội đồng trọng tài.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng
Thẩm phán TANDTC thì có hai loại quyết định được xác định đó là phán quyết trọng tài:

1. Loại quyết định thứ nhất: Quyết định công nhận thỏa thuận của các bên của Hội đồng trọng tài quy
định tại Điều 59 Luật TTTM.

Quyết định này được hình thành từ việc Hội đồng trọng tài tiến hành hòa giải giữa các bên tranh chấp để
các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

Đây là một hình thức giải quyết tranh chấp chứa đựng nhiều mặt tích cực, nó giúp hóa giải mâu thuẫn,
xóa bỏ bất đồng, tăng cường tinh thần đoàn kết giữa hai bên đương sự.

Hòa giải thành sẽ rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp, từ đó tiết kiệm được thời gian, sức lực, chi
phí để tập trung trí tuệ, tâm sức cho hoạt động đầu tư, kinh doanh đem lại lợi ích cho thương nhân và xã
hội.

Do đó, hòa giải trong tố tụng trọng tài luôn luôn được khuyến khích. Khi các bên thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ tranh chấp thì Hội đồng trọng tài phải lập biên bản hòa giải thành. Trong biên
bản cần ghi rõ ngày, giờ, địa điểm tiến hành hòa giải; họ tên, địa chỉ của các bên tham gia hòa giải, nếu
có người được ủy quyền tham gia hòa giải thì phải ghi rõ họ tên người được ủy quyền, số ngày văn bản
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 7
ủy quyền. Hội đồng trọng tài kiểm tra nội dung và phạm vi ủy quyền và việc ủy quyền có hợp lệ hay
không? Ủy quyền có rõ ràng hay không? Nếu việc ủy quyền không hợp lệ, nội dung ủy quyền không rõ
ràng hoặc người ủy quyền không có quyền quyết định về những nội dung mà hai bên tranh chấp thì phải
hướng dẫn cho đương sự làm lại việc ủy quyền để bảo đảm tính pháp lý thì mới tiến hành hòa giải.

Biên bản hòa giải thành cần ghi rõ nội dung hai bên thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ
tranh chấp. Các vấn đề hai bên thỏa thuận được cần rõ ràng, cụ thể để dễ dàng cho việc thi hành thỏa
thuận đó. Nếu có điểm nào hai bên thỏa thuận chưa rõ hoặc chung chung, không cụ thể như dùng từ
“khoảng” để chỉ kích thước, số lượng; ví dụ khoảng 12m, A đồng ý trả cho B khoảng 1 tỷ đồng… thì
Hội đồng trọng tài phải hướng dẫn cho họ thỏa thuận với nội dung rõ ràng. Sau đó tất cả các bên tranh
chấp phải ký vào biên bản hòa giải thành và xác nhận của Trọng tài viên.

Trên cơ sở biên bản thỏa thuận giải quyết tranh chấp của các bên, Hội đồng trọng tài ra quyết định công
nhận sự thỏa thuận đó. Quyết định này là chung thẩm, có giá trị như phán quyết trọng tài. Sau khi ban
hành phán quyết sẽ chấm dứt tố tụng. Vì vậy, đây cũng là đối tượng mà đương sự có quyền yêu cầu Tòa
án hủy; TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết.

Khi giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài thuộc trường hợp hòa giải thành cần phải hết sức lưu ý:
đây là ý chí tự nguyện của đương sự, là lựa chọn của hai bên tranh chấp về tổ chức có thẩm quyền giải
quyết, cũng như tố tụng trọng tài được tiến hành, pháp luật được áp dụng, nội dung mà hai bên đồng
thuận… do đó, sau khi có quyết định công nhận thỏa thuận, nếu người yêu cầu hủy phán quyết trọng tài
đưa ra các lý do quá trình trọng tài giải quyết đã vi phạm quy định của Luật TTTM, hoặc thỏa thuận
trọng tài, quy tắc tố tụng thì phải áp dụng Điều 13 Luật TTTM, Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-
HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC để xem xét. Tòa án không được căn cứ vào
các vi phạm mà chính các đương sự đã biết hoặc các vấn đề mà chính các bên đã lựa chọn tiến hành, đã
đồng thuận… nhưng nay lại phản đối để quyết định chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của một
hoặc các bên.

Trên thực tế, đối với yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trong trường hợp này do đương sự đã tự nguyện
thỏa thuận, định đoạt, nên căn cứ Điều 13 Luật TTTM sẽ không chấp nhận các yêu cầu khiếu nại của
đương sự, chỉ trừ trường hợp đương sự đưa ra được căn cứ chứng minh quyết định công nhận thỏa
thuận của Hội đồng trọng tài hoàn toàn không đúng với thỏa thuận của các bên đương sự hoặc vi phạm
điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM.

Khi xem xét theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM, Thẩm phán không được giải quyết
lại nội dung của vụ án đã được trọng tài giải quyết; đồng thời phải căn cứ vào quy định tại điểm b khoản
3 Điều 68 Luật TTTM và Tòa án phải thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh thỏa thuận đó có xâm
phạm lợi ích của người thứ ba hay không? Có xâm phạm lợi ích nhà nước, của dân tộc, của xã hội hay
không? Nếu quyết định của Hội đồng trọng tài công nhận thỏa thuận hai bên đương sự không xâm phạm
đến lợi ích của người thứ ba, không xâm phạm lợi ích nhà nước, của dân tộc, của xã hội, không xâm
phạm đến an ninh, độc lập chủ quyền của dân tộc thì không được hủy phán quyết trọng tài mà phải xử
lý theo hướng bác đề nghị của đương sự, không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.

2. Loại quyết định thứ hai: Quyết định trọng tài được ban hành, được ra đời trên cơ sở hoạt động xét
xử của Hội đồng trọng tài sau khi đã giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp.

Đây chính là loại phán quyết trọng tài được quy định tại Điều 60 Luật TTTM, sẽ là đối tượng đương sự
có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết. Phán quyết này phải có các nội dung theo quy
định tại Điều 61 Luật TTTM. Khi có Trọng tài viên không ký tên vào phán quyết trọng tài, Chủ tịch Hội
đồng trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do. Trong trường hợp này, phán
quyết trọng tài vẫn có hiệu lực. Đây là điểm rất khác biệt với phán quyết của Tòa án. Các phán quyết
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 8
của Tòa án khi giải quyết vụ việc dân sự, kinh tế… đều phải được tất cả các thành viên của Hội đồng
xét xử, Hội đồng giải quyết ký vào biên bản nghị án, bản gốc của phán quyết.

Phán quyết trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc
phiên họp cuối cùng và được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành. Các bên có quyền yêu cầu Trung
tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc cấp bản sao phán quyết trọng tài.

Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành.

Hoạt động giải quyết tranh chấp trọng tài và hoạt động giải quyết tranh chấp của Tòa án có một vài
điểm giống nhau, nó đều là hoạt động tài phán, thực hiện theo nguyên tắc biểu quyết theo đa số khi ra
phán quyết. Tuy nhiên, giữa hai hoạt động này có nhiều điểm rất khác nhau về trình tự, thủ tục giải
quyết.

Tòa án là cơ quan công quyền, nhân danh nhà nước, khi giải quyết tùy theo vụ hay việc mà tổ chức
phiên tòa hay phiên họp, nhưng dù là vụ hay việc khi giải quyết theo trình tự sơ thẩm hay trình tự phúc
thẩm, Hội đồng phải tuân theo thủ tục tố tụng rất chặt chẽ do luật định, được thực hiện thống nhất và khi
thông qua phán quyết luôn theo nguyên tắc đa số, trừ việc đơn giản có một Thẩm phán giải quyết. Nếu
một phiên tòa hay phiên họp các thành viên trong Hội đồng xét xử hay Hội đồng giải quyết việc dân sự,
kinh doanh thương mại, khi biểu quyết mà có ý kiến quá khác nhau, không đạt được đa số thì không ban
hành phán quyết. Dù sự kiện này hiếm khi xảy ra và luật không quy định bước tiếp theo phải làm thế
nào, nhưng trên thực tế phiên tòa hay phiên họp đó phải hoãn lại và tổ chức lại phiên tòa, phiên họp để
giải quyết vụ việc đó.

Còn đối với hoạt động tài phán của trọng tài, khi biểu quyết không đạt được đa số thì theo quy định tại
khoản 2 Điều 60 Luật TTTM “phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng
tài”.

Về trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài khá linh hoạt và mềm dẻo. Nếu là trọng tài quy chế (hay còn gọi là
trọng tài thường trực) là hình thức giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài theo quy định của
Luật TTTM và quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài đó. Nếu là trọng tài vụ việc (còn gọi là trọng tài
Ad-hoc) cũng là hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật TTTM nhưng trình tự, thủ tục
do các bên thỏa thuận.

Trọng tài khi giải quyết luôn luôn tổ chức dưới hình thức phiên họp.

Về thành phần Hội đồng trọng tài cũng rất đặc thù, tuy gọi là Hội đồng trọng tài nhưng có khi chỉ có
một Trọng tài viên, cũng có thể bao gồm nhiều Trọng tài viên. Số lượng Trọng tài viên của Hội đồng
trọng tài là một người hay bao nhiêu người phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của các bên, theo sự thỏa
thuận của các bên, chỉ khi các bên không thỏa thuận về số lượng Trọng tài viên thì Hội đồng trọng tài sẽ
luôn luôn chỉ có ba Trọng tài viên (Điều 39 Luật TTTM);

Các bên có thể lựa chọn địa điểm, lựa chọn Trọng tài viên, thỏa thuận thủ tục giải quyết tranh chấp; nếu
có yếu tố nước ngoài các bên còn có thể thỏa thuận luật áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Khác với tố tụng dân sự, tố tụng trọng tài là không công khai (Điều 14, 54, 55 Luật TTTM). Trong mọi
trường hợp phán quyết trọng tài đều là chung thẩm, có hiệu lực từ ngày ban hành. Chính sự linh hoạt,
mềm dẻo và không có xét xử phúc thẩm trong tố tụng trọng tài nên thời gian giải quyết được nhanh hơn.

Tuy nhiên, để hạn chế sai sót vi phạm trong phán quyết trọng tài, trong Luật TTTM có quy định cơ chế
kiểm soát phán quyết trọng tài thông qua yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của hai bên đương sự.
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 9
Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 68
Luật TTTM. Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Hội đồng xét đơn không được xem xét, giải
quyết lại nội dung vụ tranh chấp mà trọng tài giải quyết, và chỉ hủy phán quyết trọng tài khi có các tài
liệu, chứng cứ rõ ràng chứng minh phán quyết đã vi phạm một trong căn cứ quy định tại khoản 2 Điều
68 Luật TTTM. Tuy nhiên, rất đáng tiếc trong thời gian qua có những trường hợp do không hiểu đầy đủ,
không nắm vững các quy định của Luật TTTM nên đã hủy phán quyết trọng tài không đúng.

16. Hiệu lực của phán quyết trọng tài?

Khoản 5, Điều 61 của Luật TTTM 2010 quy định: “Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực
kể từ ngày ban hành.” Phán quyết của trọng tài là chung thẩm nên tranh chấp đã được giải quyết sẽ
không được xem xét lại bởi bất kỳ một cấp hoặc cơ quan xét xử nào khác (trừ trường hợp hủy phán
quyết trọng tai theo quy định pháp luật). Phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, tuy nhiên
do phán quyết trọng tài quy định thời hạn thi hành phán quyết, nên bên được thi hành phán quyết trọng
tài chỉ được yêu cầu cưỡng chế thi hành phán quyết đó sau khi thời hạn thi hành phán quyết kết thúc mà
bên bị thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.

Vì vậy, khi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thì các bên không thể kiện tiếp lên tòa án, trừ
trường hợp một bên gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài và Tòa án hủy phán
quyết trọng tài theo các căn cứ được quy định tại Điều 68 – LTTTM 2010.

Bên cạnh đó, vấn đề Tố tụng trọng tài giữa cơ quan Tòa án với trung tâm trọng tài, đã có một số thẩm
phán không căn cứ vào điều 415 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (trước đây là điều 341 BLTTDS 2005)
quy định : “Thủ tục giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động của trọng tài thương mại tại Việt
Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam” và điều 12 Luật
Trọng tài thương mại, mà tư duy theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự dẫn đến huỷ phán quyết
trọng tài không đúng.

Hội đồng trọng tài của các vụ việc cụ thể thường gồm các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao,
nhưng một vài trong số họ có hiểu biết cũng như thực hành tố tụng trọng tài chưa nhiều, ít kinh nghiệm
xử lí các tình huống tố tụng nên thường chú trọng nhiều vào phần nội dung tranh chấp mà dẫn đến thiếu
sót về tố tụng.

“Các thẩm phán giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, trong nhiều trường hợp, không tiếp xúc
nhiều với thực tiễn trọng tài và nội dung lĩnh vực tranh chấp nên đã có những quan điểm khác nhau
trong đường lối giải quyết vụ việc trọng tài”.

17. Có thể kháng cáo kháng nghị phán quyết trọng tài hay không?

(Xem câu 16). Luật còn quy định về nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, trong đó có quy
định nguyên tắc: Phán quyết của trọng tài là chung thẩm.

Như vậy, phán quyết của trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, không bị kháng cáo, kháng nghị.
Đây là đặc trưng của hoạt động giải quyết tranh chấp thông qua Trọng tài thương mại. Nguyên tắc này
xuất phát từ bản chất của tố tụng trọng tài, nhân danh ý chí và quyền định đoạt của các bên đương sự.
Các bên đương sự đã tự do lựa chọn và tín nhiệm người phán xử cho mình thì đương nhiên phải phục
tùng quyết định của người đó.

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 10
18. Nếu không muốn thực thi phán quyết trọng tài, một bên phải làm gì?

Điển a3, khoản 5, Điều 10 của Nghị Quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 quy định: “a3) Trường
hợp Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thì một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án hủy
phán quyết trọng tài theo thủ tục chung.”

Theo quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài
thương mại đã ghi rõ:

“…Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung
trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không
thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm
trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba…”

19. Các căn cứ để hủy quyết định trọng tài?

Điều 14, Nghị Quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014

Điều 68, Luật TTTM 2010

20. Những tranh chấp nào có thể giải quyết được bằng trọng tài thương mại
Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại.
Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại.
Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
(Điều 2 Luật Trọng tài thương mại)
21. Có thể ký kết thoả thuận trọng tài với nội dung khác các quy định của Luật Trọng tài hay không?
Có – một phần. Hầu hết các quy định trong Luật Trọng Tài là bắt buộc. Những quy định không bắt buộc
thường được nhận biết bởi các cụm từ như: “trừ khi các bên liên quan có thỏa thuận khác” hoặc các cụm
từ tương tự khác.
Đối với những quy định không bắt buộc, các bên được quyền tự do thỏa thuận khác. Tuy nhiên, đối với
những quy định bắt buộc, các bên không được phép thỏa thuận khác.
22. Có bao nhiêu trọng tài viên trong một Hội đồng trọng tài?
– Các bên được tự do thỏa thuận về số lượng trọng tài viên cũng như thủ tục chỉ định các trọng tài viên
đó.
– Nếu các bên không thỏa thuận về số lượng trọng tài viên, Hội đồng trọng tài sẽ bao gồm 3 trọng tài
viên.
– Nếu vì lý do nào đó mà có một trọng tài viên không được chỉ định, thì trọng tài viên đó có thể được
Chủ tịch trung tâm trọng tài (trong trường hợp trọng tài quy chế) hoặc Tòa án có thẩm quyền (trong
trường hợp trọng tài vụ việc) chỉ định.
(Điều 39, 40, 41 Luật Trọng tài Thương mại)

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 11
23. Thỏa thuận trọng tài có còn hiệu lực hay không khi hợp đồng chính bị vô hiệu?
– Thoả thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng. Việc thay đổi, gia hạn, hủy bỏ hợp đồng, hợp
đồng vô hiệu hoặc không thể thực hiện được không làm mất hiệu lực của thoả thuận trọng tài.
– Việc xem xét hiệu lực của thỏa thuận trọng tài sẽ được thực hiện bởi hội đồng trọng tài hoặc tòa án có
thẩm quyền.
(Khoản 1, 2 Điều 31 Luật Trọng tài thương mại)
24. Điều gì sẽ xảy ra nếu các trọng tài viên bị cho là không có thẩm quyền?
– Các bên có thể khiếu nại với Hội đồng trọng tài bởi vì Hội đồng trọng tài có quyền quyết định đối với
thẩm quyền giải quyết tranh chấp của chính Hội đồng trọng tài.
– Nếu một bên vẫn tiếp tục nghi ngờ về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì bên đó có thể đệ đơn lên
Tòa án có thẩm quyền yêu cầu xem xét về thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài.
– Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp là cơ sở để 1 bên yêu cầu tòa án có
thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy quyết định trọng tài, trừ trường hợp bên dó mất quyền phản đối do
phát hiện thấy có vi phạm luật hoặc thỏa thuận trọng tài nhưng vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài
và không phản đối những vi phạm đó trong thời gian quy định.
– Cơ sở để không thi hành hoặc không công nhận cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài
(Điều 35, 43, 44 Luật Trọng tài Thương mại 2010)
25. Có thể làm gì nếu một bên tranh chấp bỏ qua thỏa thuận trọng tài và bắt đầu khởi kiện tại tòa án?
– Nếu một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa sẽ từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài được
Toà án xác định là vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.
– Trong trường hợp tranh chấp giữa nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng, người tiêu
dùng được quyền lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch
vụ chỉ được quyền khởi kiện tại Trọng tài nếu được người tiêu dùng chấp thuận.
(Điều 6, Điều 17 Luật Trọng tài Thương mại)
26. Nhiệm vụ của các trọng tài viên là gì?
– Trọng tài viên phải tôn trọng thoả thuận của các bên nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm và
trái đạo đức xã hội.
– Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật.
– Hội đồng trọng tài có nghĩa vụ tạo điều kiện để các bên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
– Từ chối cung cấp các thông tin liên quan đến vụ tranh chấp.
– Giữ bí mật nội dung vụ tranh chấp mà mình giải quyết, trừ trường hợp phải cung cấp thông tin cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
– Bảo đảm giải quyết tranh chấp vô tư, nhanh chóng, kịp thời.
Tuân thủ quy tắc đạo đức nghề nghiệp
(Điều 4, Điều 21 Luật Trọng tài thương mại)

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 12
27. Nghĩa vụ của các bên đối với việc giải quyết tranh chấp theo trọng tài là gì?
– Các bên phải tuân thủ theo các quy định của luật trọng tài thương mại 2010, quy tắc tố tụng của các
trung tâm trọng tài (trong trường hợp trọng tài quy chế), bất cứ quyết định, chỉ thị nào của Hội đồng
trọng tài và quyết định của Tòa án có thẩm quyền.
– Các bên cũng được khuyến khích tự nguyện thi hành phán quyết trọng tài
(Điều 65 Luật Trọng tài Thương mại)
Thẩm quyền của các trọng tài viên trong việc tiến hành thủ tục tố tụng trọng tài là gì?
– Trọng tài viên có quyền chấp nhận hoặc từ chối giải quyết tranh chấp, và nhận thù lao
– Đối với cá tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất 1 bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, mà các bên không có thỏa thuận thì Hội đồng trọng tài có quyền quyết định ngôn ngữ sử
dụng trong tố tụng trọng tài, pháp luật áp dụng giải quyết tranh chấp mà hội đồng trọng tài cho là phù
hợp nhất.
– Hội đồng trọng tài cũng có quyền quyết định địa điểm giải quyết tranh chấp trong trường hợp các bên
không có thỏa thuận
– Hội đồng trọng tài có thẩm quyền, trước khi xem xét nội dung vụ tranh chấp, xem xét hiệu lực của
thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài có thực hiện được hay không, và xem xét thẩm quyền của mình.
– Hội đồng trọng tài có quyền chủ động hoặc do yêu cầu của các bên, sửa những lỗi rõ ràng về chính tả,
số liệu do nhầm lẫm hoặc tính toán sai, hoặc ra phán quyết bổ sung. Trường hợp cần thiết, hội đồng
trọng tài có thể gia hạn việc sửa chữa, bổ sung phán quyết.
– Đặc biệt, hội đồng trọng tài có các thẩm quyền:
+ Xác minh sự việc
+ Thu thập chứng cứ
+ Triệu tập người làm chứng
+ Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, thay đổi bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Các
biện pháp khẩn cấp tạm thời hội đồng trọng tài có thẩm quyền áp dụng được quy định trong điều 49-
LCA.
28. Điều gì sẽ xảy ra nếu một bên vắng mặt hoặc không tuân theo chỉ thị của trọng tài viên?
Nếu nguyên đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nào thì sẽ được xem như là rút đơn kiện.
Trong trường hợp này, Hội đồng trọng tài tiếp tục giải quyết tranh chấp nếu bị đơn có yêu cầu hoặc có
đơn kiện lại
Trong trường hợp bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng nào hoặc rời phiên họp giải quyết
tranh chấp mà không được Hội đồng trọng tài chấp thuận, Hội đồng trọng tài vẫn ra tiếp tục giải quyết
tranh chấp;
Luật Việt Nam không trao cho các trọng tài viên quyền ban hành các lệnh cưỡng chế cũng như những
quy định cụ thể trong trường hợp một bên không tuân thủ các yêu cầu, chỉ thị của mình. Tuy nhiên, việc
không tuân thủ các yêu cầu, chỉ thị của trọng tài viên sẽ có thể dẫn đến những hậu quả sau:

Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 13
– Đối với các yêu cầu liên quan đến nộp (tạm ứng) phí trọng tài bởi nguyên đơn thì đơn kiện
và/hoặc đơn kiện lại, đơn kiện hoặc đơn kiện lại có thể bị từ chối thụ lý;
– Đối với các yêu cầu liên quan đến việc cung cấp các biện pháp bảo đảm cho việc áp dụng một
biện pháp khẩn cấp tạm thời, trọng tài viên có thể từ chối áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
– Các trọng tài viên có thể đi đến một phán quyết dựa trên cơ sở những tài liệu và chứng cứ được
đưa ra với suy luận theo hướng không có lợi cho bên không tuân thủ các yêu cầu, chỉ thị của mình;
và/hoặc
– Các trọng tài viên có thể đưa ra các quyết định về việc phân bổ chi phí trọng tài mà họ cho là phù
hợp.
(Khoản 1, 2 điều 56, Khoản 3 điều 34 Luật Trọng tài Thương mại)
29. Dựa trên luật nào để các trọng tài viên quyết định giải quyết vụ tranh chấp?
– Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để
giải quyết tranh chấp.
– Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn;
nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà
Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
– Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan
đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp
nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.
(Điều 14 Luật Trọng tài thương mại)
30. Các trọng tài viên có thể đưa ra phán quyết về những vần đề gì?
Các trọng tài viên có thể đưa ra các phán quyết phù hợp với thỏa thuận của các bên và với các quy định
của pháp luật Việt Nam.
Phán quyết về thẩm quyền xét xử của hội đồng trọng tài, về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài.
Mặt khác, trọng tài viên có thể ban hành phán quyết:
– Công nhận sự hòa giải thành của các bên
– Yêu cầu thực hiện những nghĩa vụ cụ thể được quy định trong hợp đồng;
– Quyết định buộc thanh toán nợ, lệ phí trọng tài;
– Quyết định nộp tiền phạt và/hoặc tiền bồi thường thiệt hại;
– Một quyết định khác về việc bồi hoàn hoặc trả lại tài sản, v.v.
– Phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không
được ghi trong phán quyết
(Điều 43, điều 58 Luật Trọng tài Thương mại)
31. Chi phí pháp lý và phí trọng tài được quyết định như thế nào trong trọng tài?
Phí trọng tài còn có thể được ấn định theo:
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 14
– Biểu phí do các trung tâm trọng tài ấn định; và/hoặc
– Hội đồng trọng tài vụ việc.
Các bên có thể tự mình thỏa thuận vè chi phí pháp lý hoặc yêu cầu hội đồng trọng tài quyết định về vấn
đề này.
(Khoản 2, khoản 3 điều 34 Luật Trọng tài Thương mại)
32. Một phán quyết trọng tài được thi hành như thế nào?
Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực đối với các bên, trừ trường hợp bị hủy hoặc bì từ chối
thi hành;
Một phán quyết của Hội đồng trọng tài trong nước sẽ được thi hành phù hợp với luật thi hành án dân sự
bởi các cơ quan thi hành án dân sự của Việt Nam mà không cần thông qua các thủ tục chấp thuận hay
cho phép của tòa án;
Phán quyết của trọng tài vụ việc phải đăng kí theo quy định tại điều 62, trước khi thi hành bởi cơ quan
thi hành án dân sự có thẩm quyền
Một phán quyết của Hội đồng trọng tài nước ngoài chỉ có thể được công nhận và thi hành bởi quyết
định của tòa có thẩm quyền của Việt Nam theo những quy định tại phần VI của bộ luật tố tụng dân
sự, Công ước New York 1958 và/hoặc trên cơ sở có đi có lại.
33. Cơ sở yêu cầu hủy một phán quyết trọng tài?
Đối với phán quyết của trọng tài trong nước, cơ sở để hủy phán quyết trọng tài là:
❖ Không có thoả thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu;
– Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
– Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật
dân sự.
– Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của LCA
– Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có
yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
– Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
❖ Thành phần Hội đồng trọng tài, thủ tục tố tụng trọng tài không phù hợp với thoả thuận của các bên
hoặc trái với các quy định của Luật này;
– Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều
2 của Luật này. Cụ thể là tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại, giữa các bên trong
đó có ít nhất một bên có hoạt động thương mại, giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết
bằng trọng tài.
❖ Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài; trường hợp phán quyết trọng tài có
nội dung không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài thì nội dung đó bị huỷ;
❖ Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo;
Trọng tài viên nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác của một bên tranh chấp làm ảnh hưởng đến
tính khách quan, công bằng của phán quyết trọng tài;
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 15
❖ Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
❖ Đối với phán quyết của trọng tài nước ngoài, Đ. 356 bộ luật tố tụng dân sự quy định các phán quyết,
quyết định của trọng tài nước ngoài không được công nhận và thi hành ở Việt Nam trong các trường
hợp sau:
– chưa có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật của nước có Toà án đã ra bản án, quyết
định đó.
– Người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã vắng mặt tại phiên toà của Toà
án nước ngoài do không được triệu tập hợp lệ.
– Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử riêng biệt của Toà án Việt Nam.
– Về cùng vụ án này đã có bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam
hoặc của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận hoặc trước khi cơ quan xét xử của
nước ngoài thụ lý vụ án, Toà án Việt Nam đã thụ lý và đang giải quyết vụ án đó.
– Đã hết thời hiệu thi hành án theo pháp luật của nước có Toà án đã ra bản án, quyết định dân sự đó
hoặc theo pháp luật Việt Nam.
– Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài tại Việt Nam trái
với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
(Điều 68 Luật Trọng tài thương mại)
34. Trọng tài và hòa giải khác nhau như thế nào?
Trong trọng tài, trọng tài viên giải quyết vụ tranh chấp và ra quyết định chung thẩm. Một khi quyết định
trọng tài đã được tuyên sẽ có giá trị ràng buộc các bên cho dù các bên có đồng ý hay không.
Đối với hòa giải, hòa giải viên không quyết định vụ tranh chấp mà có vai trò giúp các bên giải quyết vụ
tranh chấp thông qua một quá trình thương lượng và thu hẹp những điểm bất đồng. Hòa giải viên sẽ
giúp các bên đạt được một thỏa thuận. Tuy nhiên, khác với quyết định trọng tài, thỏa thuận của các bên
không mang tính ràng buộc. Trong trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện thỏa thuận hòa giải,
bên kia có thể khởi kiện ra trọng tài hoặc tòa án tùy theo thỏa thuận của các bên.
35. Vai trò của Tòa án trong quá trình tố tụng trọng tài?
Một vài vai trò chính của các tòa án Việt Nam trong quá trình tố tụng trọng tài có thể kể đến như:
Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho quá trình tố tụng trọng tài
– Chỉ định trọng tài viên, hoặc thay đổi trọng tài viên của hội đồng trọng tài vụ việc
– Chỉ định chủ tịch hội đồng trọng tài trong trường hợp các trọng tài viên được chỉ định không thể
thống nhất với nhau;
– Chỉ định trọng tài viên duy nhất trong trường hợp các bên tranh chấp không thể thống nhất với
nhau;
– Thay đổi trọng tài viên đã được chỉ định;
– Thu thập chứng cứ liên quan đến vụ việc và buộc nhân chứng tham gia vào các buổi gặp, phiên xét
xử.
– Thi hành các biện pháp tạm thời trước khi hội đồng trọng tài được thành lập;
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 16
Quyết định về việc không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc không thể
thực hiện được; Xác định thẩm quyền của Hội đồng trọng tài;
Đăng kí phán quyết trọng tài vụ việc.
36. Điều kiện nào để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài?
Xem Điều 5. Điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài
có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp.
2. Trường hợp một bên tham gia thoả thuận trọng tài là cá nhân chết hoặc mất năng lực hành vi, thoả
thuận trọng tài vẫn có hiệu lực đối với người thừa kế hoặc người đại diện theo pháp luật của người đó,
trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
3. Trường hợp một bên tham gia thỏa thuận trọng tài là tổ chức phải chấm dứt hoạt động, bị phá sản,
giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách hoặc chuyển đổi hình thức tổ chức, thỏa thuận trọng tài vẫn có
hiệu lực đối với tổ chức tiếp nhận quyền và nghĩa vụ của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thoả
thuận khác.
37. Ngôn ngữ được sử dụng trong giải quyết trọng tài? Các bên tham gia lựa chọn thế nào về ngôn
ngữ là đúng?
Ngôn ngữ trong thoả thuận tọng tài cũng là một phần quan trọng, nên nhớ nguyên tắc các bên có thoả
thuận trọng tài hoàn toàn là đối tượng Việt Nam thì phải chọn tiếng Việt, Còn có yếu tố nước ngoài thì
tuỳ chọn.
Xem Điều 10, Luật TTTM 2010 quy định về ngôn ngữ:
1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng
Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường
hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên
không có thỏa thuận thì ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài do Hội đồng trọng tài quyết định
38. Luật áp dụng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài?
Nguyên tắc chung người Việt phải dùng hàng Việt. Xem Điều 14, luật TTTM 2010:
Luật áp dụng giải quyết tranh chấp:
1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để
giải quyết tranh chấp.
2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn;
nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà
Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất.
3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan
đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp
nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
Việt Nam.
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 17
39. Vấn đề chọn địa điểm trong thỏa thuận trọng tài?
Xem Điều 11, Luật TTTM 2010: Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1. Các bên có quyền thoả thuận địa điểm giải quyết tranh chấp; trường hợp không có thoả thuận thì Hội
đồng trọng tài quyết định. Địa điểm giải quyết tranh chấp có thể ở trong lãnh thổ Việt Nam hoặc ngoài
lãnh thổ Việt Nam.
2. Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, Hội đồng trọng tài có thể tiến hành phiên họp tại địa
điểm được xem là thích hợp cho việc trao đổi ý kiến giữa các thành viên của Hội đồng trọng tài, việc lấy
lời khai của người làm chứng, tham vấn ý kiến các chuyên gia hoặc tiến hành việc giám định hàng hoá,
tài sản hoặc tài liệu khác2.
40. Thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu khi nào?
Đây là một vấn đề lớn trọng việc tư vấn và trả lời các tình huống làm bài thi. Có thể liên quan đến các
câu hỏi tư vấn cho khách hàng về điều khoản vô hiệu của thỏa thuận trọng tài. Hãy nhớ đến Điều 18,
LTTM 2010 quy định về Thoả thuận trọng tài vô hiệu:
1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2
của Luật này.
2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân
sự.
4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này.
5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu
cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu.
6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.
41. Khi có thỏa thuận trọng tài hợp pháp thì tòa án có thể thụ lý không?
Câu trả lời là không và có ở một số trờng hợp đặc biệt. Xem Điều 6, Luật TTTM 2010 quy định như
sau: Toà án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài. Trong trường hợp các bên tranh
chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ
trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được.

2
Kinh Nghiệm Thi sẽ có kết hợp tư vấn ba yếu tố trên. Từ quy định cho ta thấy, nếu trong đề thi hỏi nhận xét hoặc tư vấn về
điều khoản thoả thuận trọng tài thương mại, thì ta tư vấn cho khách hàng của mình chọn ưu tiên ngôn ngữ bản xứ, luật bản
xứ hoặc ở một nơi trung lập thuận tiện cho khách hàng của mình. Ví dụ khách hàng của ta là công ty VN thì nên chọn thoả
thuận sử dụng ngôn ngữ Việt Nam. Luật Việt Nam và địa điểm tại VN. điều này sẽ tiết kiệm chi phí, sự hiểu biết văn hoá,
pháp luật, lợi thế về không gian, tâm lý, v.v... Nhưng thực tế thì điều này rất khó đàm phán, tuy nhiên hãy lý giải theo kiểu lý
thuyết lý, lý tưởng hoá lên, vì chúng ta đang đối phó với kỳ thi, còn ra thực tế thì cả một câu chuyện dài.
Disclaimers/Không có trách nhiệm: Đây chỉ là bản tham khảo, thông tin/quy định pháp luật có thể thay đổi/khác biệt trên thực tế và còn tùy thuộc vào cách diễn giải
của giảng viên/người chấm bài. Các anh/chị hoàn toàn chịu trách nhiệm trọng việc sử dụng, sao chụp, vận dụng các thông tin thuộc tài liệu này. 18